Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ cấp huyện của thành phố Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ DIỆU LINH CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
LƯU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG


Người hướng dẫn khoa học: PGS. Vương Đình Quyền HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC Trang

PHẦN MỞ ĐẦU
02

NỘI DUNG CHÍNH
11

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU LƢU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA
HÀ NỘI
11
1.1.
HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN Ở HÀ NỘI
11
1.2.
THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, LOẠI HÌNH, Ý NGHĨA CỦA TÀI LIỆU LƢU TRỮ

CẤP HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
76
3.1.
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC LƢU TRỮ
CẤP HUYỆN TẠI HÀ NỘI
76
3.2.
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC LƢU TRỮ CẤP HUYỆN TẠI
HÀ NỘI

3.2.1
Thể chế hóa những quy định của pháp luật về công tác lƣu trữ cấp huyện
85
3.2.2
Ổn định tổ chức cho lƣu trữ cấp huyện
87
3.2.3
Chuẩn hóa hệ thống các công cụ hƣớng dẫn và thực hiện chính xác, thống nhất
nghiệp vụ lƣu trữ
102
3.2.4
Tăng cƣờng vai trò của cơ quan quản lý nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng
105
3.2.5
Bổ sung số lƣợng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ
106
3.2.6
Nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống lý luận về công tác lƣu trữ, biên soạn các sách
hƣớng dẫn nghiệp vụ
107

Với tƣ cách là một đơn vị hành chính với đầy đủ các yếu tố tự nhiên và xã hội, ở
cấp huyện không chỉ tồn tại các cơ quan quan lý nhà nƣớc mà còn xuất hiện các
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất thực hiện nhiều chức năng
khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoạt động của
những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này cùng với lịch sử hình thành và phát
triển của các huyện là nguồn gốc tạo nên những tài liệu lƣu trữ có giá trị. Đó
cũng là cơ sở quan trọng để khẳng định vị trí, vai trò của lƣu trữ huyện trong hệ
thống tổ chức lƣu trữ ở Việt Nam nhất là khi thực tế này có những mâu thuẫn
với quan điểm không coi cấp huyện là một cấp hành chính cần tổ chức lƣu trữ
lịch sử trong dự thảo Luật Lƣu trữ Việt Nam.
“Tài liệu lưu trữ là di sản của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
1
. Nhận thức
đƣợc ý nghĩa và tầm quan trọng của tài liệu lƣu trữ, từ thời phong kiến cho đến

1
Pháp lệnh Lƣu trữ Quốc gia năm 2001.

3
nay, các nhà nƣớc Việt Nam đều dành sự quan tâm cho công tác công văn giấy
tờ và công tác lƣu trữ. Cùng với những biến động của lịch sử dân tộc, ngành lƣu
trữ cũng có những bƣớc thăng trầm. Đến nay, hệ thống tổ chức lƣu trữ đã đƣợc
xây dựng từ trung ƣơng đến địa phƣơng và đang dần dần khẳng định vị trí của
mình trong sự phát triển chung của xã hội. Trong hệ thống đó lƣu trữ huyện cũng
đã đƣợc chú ý và công nhận là kho lƣu trữ lịch sử huyện theo quy định tại Thông
tƣ số 21/TT-BNV ngày 01-02-2005 của Bộ Nội vụ về hƣớng dẫn chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức Văn thƣ, Lƣu trữ Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhan dân (sau đây gọi tắt là Thông tƣ
21). Sau Thông tƣ 21, tại các Văn phòng HĐND-UBND huyện đã thành lập bộ

- Phản ảnh đƣợc thực trạng công tác lƣu trữ tại các huyện và tƣơng đƣơng
của Hà Nội để làm cơ sở xây dựng các giải pháp liên quan;
- Đƣa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của lƣu
trữ huyện tại Hà Nội.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này đƣợc triển khai với việc tập trung nghiên cứu hai đối tƣợng cơ
bản:
- Thực trạng tổ chức và hoạt động của lƣu trữ huyện tại Hà Nội;
- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng.
Công tác lƣu trữ ở Việt Nam đã đƣợc quan tâm từ thời kỳ phong kiến
nhƣng tổ chức lƣu trữ ở các cấp thì chỉ đƣợc định hình từ những năm 1990 trở
lại đây. Riêng với lƣu trữ huyện, Thông tƣ 40/1998/TT-TCCP ngày 24-01-1998
của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ hƣớng dẫn tổ chức lƣu trữ ở các cơ quan nhà
nƣớc các cấp đã quy định mỗi quận, huyện phải bố trí từ 1 đến 2 ngƣời có trình
độ từ trung cấp lƣu trữ trở lên làm công tác lƣu trữ chuyên trách thuộc văn
phòng UBND huyện, có chức năng giúp Chánh Văn phòng và UBND huyện
thực hiện quản lý nhà nƣớc về công tác lƣu trữ trong phạm vi huyện và tài liệu
lƣu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của UBND huyện. Theo đó, lƣu trữ
huyện mới bắt đầu đƣợc nhắc đến trong các quy định của nhà nƣớc với chức
năng cụ thể. Đến Thông tƣ 21, lƣu trữ huyện mới đƣợc xác định rõ hơn về tổ
chức với hai chức năng của lƣu trữ hiện hành và lƣu trữ lịch sử. Do vậy, trong
phạm vi của đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, phân tích thực trạng của
lƣu trữ huyện tại Hà Nội từ sau khi Thông tƣ 21 có hiệu lực và chỉ đề cập tới các
giai đoạn trƣớc đó nhƣ một phần của lịch sử.
Bên cạnh đó, Pháp lệnh Lƣu trữ Quốc gia năm 2001 công nhận sự tồn tại
song song của hai hệ thống lƣu trữ: Lƣu trữ Nhà nƣớc Việt Nam và Lƣu trữ
Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên thực tế, lƣu trữ Đảng cũng đƣợc tổ chức có hệ

5

trữ, đã có những công trình đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc, có đóng góp
quan trọng về khoa học và thực tiễn. Đó là đề tài cấp ngành “Cơ sở lý luận và
thực tiễn về tổ chức các kho lưu trữ ở Việt Nam” do Vƣơng Đình Quyền chủ trì,

6
đó là đề tài do TS. Dƣơng Văn Khảm chủ trì: “Cơ sở khoa học để tổ chức quản
lý nhà nước về công tác văn thư lưu trữ”. Đó là các luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Lƣu trữ học và Tƣ liệu học nhƣ : “Hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ
nhà nước” của Trần Thanh Tùng; “Cơ sở khoa học để định thời hạn bảo quản
văn bản quản lý nhà nước ở cấp huyện” của Nguyễn Nghĩa Văn. Ngoài ra,
những vấn đề liên quan đến công tác lƣu trữ huyện cũng đƣợc đề cập trong các
bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành mà tiêu biểu là bài viết của tác giả Hồ
Văn Quýnh: “Bàn về vấn đề tổ chức lưu trữ cấp huyện” đăng trên Tạp chí Lƣu
trữ số 1 năm 1978; các bài viết trong Hội thảo khoa học về kho lƣu trữ cố định
do Cục Lƣu trữ Nhà nƣớc tổ chức năm 1997. …
Tuy đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣng các nghiên cứu
về công tác lƣu trữ, đặc biệt là lƣu trữ huyện thƣờng tập trung vào một trong các
hƣớng cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để thiết lập các kho lƣu trữ:
Theo hƣớng nghiên cứu này, đề tài cấp ngành của PGS. Vƣơng Đình Quyền chủ
trì và những ý kiến của tác giả Hồ Văn Quýnh có đóng góp quan trọng. Trong
đó, đề tài của PGS. Vƣơng Đình Quyền đã khái quát đƣợc thực trạng công tác
lƣu trữ của nhiều cơ quan lƣu trữ, đƣa ra những luận giải cho việc tổ chức cơ
quan lƣu trữ các cấp và đề xuất dự án xây dựng hệ thống cơ quan lƣu trữ ở Việt
Nam bao gồm cả lƣu trữ huyện trên cơ sở những luận chứng khoa học và minh
chứng thực tiễn.
- Đánh giá tổng quan về quá trình hình thành, phát triển và thực trạng hoạt
động của hệ thống lƣu trữ các cấp: nội dung này đƣợc thể hiện thông qua Khóa
luận “Mạng lưới các kho, các trung tâm lưu trữ nhà nước qua chặng đường 40
năm hình thành và phát triển” của sinh viên Nguyễn Thị Chinh, luận văn của

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng những nguồn tài liệu cơ
bản sau:
- Các giáo trình, sách chuyên khảo về lịch sử tổ chức hành chính, tổ chức
nhà nƣớc và lịch sử ngành nhƣ: Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật Việt Nam của TS.
Vũ Thị Phụng; Văn bản quản lý nhà nƣớc và công tác công văn giấy tờ thời
phong kiến Việt Nam của PGS. Vƣơng Đình Quyền, Lƣu trữ Việt Nam - những
chặng đƣờng phát triển của PGS. TSKH. Nguyễn Văn Thâm và Ts. Nghiêm Kỳ
Hồng,…
- Các công trình nghiên cứu, các kỷ yếu hội thảo khoa học, các bài viết
trên tạp chí chuyên ngành về công tác lƣu trữ ở địa phƣơng và tổ chức lƣu trữ;
- Những văn bản của Nhà nƣớc quy định về tổ chức và hoạt động của các
cơ quan nhà nƣớc ở cấp huyện qua các thời kỳ;

8
- Những quy định hiện hành của Nhà nƣớc về công tác lƣu trữ, các hƣớng
dẫn của Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc, …;
- Các tƣ liệu, số liệu, văn bản thu thập đƣợc thông qua khảo sát thực tế tại
các quận, huyện, thị của thành phố Hà Nội;
- Các thông tin liên quan từ các website.

7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi lựa chọn các phƣơng pháp
sau đây:
- Phƣơng pháp phân tích chức năng: phƣơng pháp này đƣợc chúng tôi sử
dụng để xác định nguồn gốc hình thành tài liệu lƣu trữ ở cấp huyện của Hà Nội,
đồng thời phân tích năng lực hoạt động của các lƣu trữ huyện trên cơ sở đối
chiếu với việc thực hiện các nhiệm vụ đƣợc trao.
- Phƣơng pháp điều tra xã hội học: phƣơng pháp này đƣợc sử dụng với hai
hình thức cơ bản là điều tra qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Mục đích của việc
sử dụng bảng hỏi là thu thập nhanh chóng lƣợng thông tin tƣơng đối tòan diện về

+ Phần Mở đầu: giới thiệu chung về đề tài và luận văn trong đó mô tả
những cơ sở để triển khai đề tài và khẳng định tính nghiêm túc của tác giả trong
quá trình thực hiện.
+ Phần Nội dung chính: gồm 3 chƣơng
- Chƣơng 1: Tổng quan về tài liệu lƣu trữ huyện của thành phố Hà Nội
Trong Chƣơng này, chúng tôi giới thiệu chung về tổ chức bộ máy và
chính quyền cấp huyện cũng nhƣ sơ lƣợc lịch sử Hà Nội để nêu bật xuất xứ của
những tài liệu lƣu trữ cấp huyện tại thành phố này. Từ đó, tác giả mô tả chung về
thành phần, nội dung và ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ cấp huyện ở Hà Nội. Đây là
Chƣơng có ý nghĩa quan trọng, vừa mang tính chất dẫn luận, vừa có ý nghĩa
khẳng định vị trí, vai trò của lƣu trữ huyện và đƣa ra những tiền đề làm căn cứ so
sánh với thực trạng công tác lƣu trữ huyện sẽ đƣợc phản ảnh ở Chƣơng 2.
- Chƣơng 2: Thực trạng công tác lƣu trữ huyện của thành phố Hà Nội
Với những thông tin đã thu thập đƣợc, chúng tôi tập trung mô tả thực
trạng công tác lƣu trữ huyện về các nội dung tổ chức và biên chế, tình hình thực
hiện các nghiệp vụ lƣu trữ và công tác quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ ở cấp huyện.
Trong quá trình phản ảnh thực trạng, chúng tôi chỉ ra những ƣu điểm và hạn chế
cơ bản của thực trạng đó để làm căn cứ cho những giải pháp ở chƣơng tiếp theo.
- Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lƣu trữ huyện ở
thành phố Hà Nội

10
Đây là chƣơng quan trọng, là kết quả cao nhất của luận văn. Với những
phân tích từ 2 chƣơng trƣớc đó, chúng tôi sẽ tổng kết những nguyên nhân cơ bản
làm xuất hiện những hạn chế của công tác lƣu trữ cấp huyện ở Hà Nội. Việc tìm
ra những nguyên nhân này sẽ giúp tác giả xây dựng các giải pháp một cách khoa
học. Các giải pháp đƣợc chúng tôi đƣa ra sẽ mang tính đồng bộ và hệ thống,
trong đó một số giải pháp đƣợc coi là cơ bản và tiên quyết sẽ đƣợc tập trung
phân tích sâu.
+ Phần 3: Kết luận


1.1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hà Nội là vùng đất đƣợc hình thành từ sớm, là một trong những đồng
bằng thuộc châu thổ sông Hồng – nơi khởi nguồn của nền văn minh lúa nƣớc.
Hà Nội bắt đầu trở thành kinh đô của nƣớc Đại Việt khi vua Lý Công Uẩn dời
đô về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long năm 1010. Kinh thành Thăng
Long ngày đó có diện tích gần tƣơng ứng với quận Hoàn Kiếm và một phần hai
quận Đống Đa, Hai Bà Trƣng ngày nay. Trải qua nhiều thế kỷ dƣới sự cai trị của
các vƣơng triều Lý – Trần – Lê, Thăng Long đã có những giai đoạn phát triển
phồn thịnh, trở thành một trong những đô thị cổ nhất Việt Nam. Cuối thế kỷ
XVIII, Thăng Long đƣợc mở rộng diện tích tƣơng ứng với 4 quận nội thành
ngày nay (các quận Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trƣng và quận Ba Đình),
đồng thời không giữ vị trí là kinh đô của Triều Nguyễn. Cũng theo chiều dài lịch
sử, trải qua các triều đại khác nhau với chính sách quản lý lãnh thổ khác nhau,
Thăng Long đã thay đổi vị trí hành chính và đƣợc chia tách, sáp nhập nhiều lần.
Đến năm 1831 -1832, cuộc cải cách hành chính lớn thời Minh Mạng đã chia cả
nƣớc thành 30 tỉnh và Phủ Thừa Thiên. Thăng Long đƣợc đổi tên thành tỉnh Hà
Nội, trong tỉnh có các phủ và các huyện nhƣng cấp huyện thời Nguyễn khác với
huyện ngày nay. Cả Hà Nội thời đó gồm hai huyện Thọ Xƣơng và Vĩnh Thuận.
Các huyện thời Nguyễn có diện tích tƣơng đối lớn và chƣa phải là cấp hành
chính gần cấp cơ sở nhất, dƣới huyện là các Tổng và trong Tổng có các thôn,
trại, phƣờng. Ví dụ: Thôn Mỹ Đức thuộc Tổng Vĩnh Xƣơng và Thôn Trung
Phụng thuộc Tổng Yên Hòa (hai thôn có đoạn phố Khâm Thiên đi qua) nằm
trong Huyện Thọ Xƣơng (vùng trung tâm Hà Nội cũ)
2
.
Sau khi xâm lƣợc nƣớc ta, thực hiện chính sách “chia để trị”, thực dân
Pháp đã chia cả vùng Đông Dƣơng đƣợc làm 5 xứ, trong đó Việt Nam đƣợc tách


khi đƣợc xác lập theo Hiến Pháp 1946 đến nay về cơ bản không thay đổi vị trí
pháp lý.
Khi Hiến Pháp 1992 đƣợc sửa đổi, các huyện, thành phố, thị xã trực thuộc
tỉnh và quận, huyện, thị xã của thành phố trực thuộc trung ƣơng vẫn đƣợc coi là
đơn vị hành chính cấp trung gian giữa tỉnh và xã. Quận và huyện đều là đơn vị
hành chính có vị trí pháp lý nhƣ nhau nhƣng quận là đơn vị hành chính trong nội
thành của các thành phố trực thuộc trung ƣơng nhƣ Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh,… ; còn huyện là đơn vị hành chính của các tỉnh và thành phố trực thuộc
trung ƣơng. Tƣơng đƣơng với quận và huyện còn có các thị xã và các thành phố
trực thuộc tỉnh. Quận và thành phố thuộc tỉnh có tính chất đặc trƣng của đô thị,

3
Theo Vũ Thị Phụng: Giáo trình Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Việt Nam, NXB ĐHQGHN, năm 1997, trang
175,176.
4
Theo Vũ Thị Phụng, đã dẫn, trang 219, 230.

13
huyện lại có đặc trƣng của nông thôn, còn thị xã là tên gọi của cấp hành chính
tƣơng đƣơng quận, huyện nhƣng có tính chất của vùng nông thông bán đô thị với
tốc độ đô thị hóa cao. Tuy nhiên, các thành phố và thị xã trực thuộc tỉnh thƣờng
là thủ phủ- trung tâm hành chính của tỉnh nên trong một tỉnh thƣờng chỉ có 01
thành phố hoặc thị xã, còn các quận chỉ là đơn vị hành chính trong nội thành,
một thành phố có thể gồm nhiều quận. Mặc dù vậy, do thực tế phát triển của các
địa phƣơng và tốc độ của quá trình đô thị hóa nên có những địa phƣơng vẫn tồn
tại các thị xã mà không phải là thủ phủ của tỉnh, điển hình là Thị xã Sơn Tây.
Trƣớc khi đƣợc mở rộng vào năm 2008, Hà Nội có 9 quận nội thành và 5 huyện
ngoại thành. Tháng 5 năm 2008, Quốc Hội thông qua Nghị quyết về việc mở
rộng Hà Nội. Từ tháng 8 năm 2008, Hà Nội mới đƣợc hình thành trên cơ sở sáp
nhập thêm tỉnh Hà Tây cũ cùng 4 xã thuộc huyện Lƣơng Sơn của tỉnh Hòa Bình

hai là, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thƣờng trực HĐND, đối
với các cơ quan hành chính – hành pháp, cơ quan tƣ pháp cùng cấp, các cơ quan
nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lƣợng vũ trang nhân dân và
công dân ở địa phƣơng về việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cũng nhƣ việc tuân theo pháp luật.
Những nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND huyện đƣợc quy định thống
nhất tại các điều từ Điều 19 đến Điều 25 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân năm 2003. Trong đó, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND
huyện đƣợc quy định chi tiết trên các lĩnh vực sau:
- Về kinh tế: HĐND huyện đƣợc quyết định các vấn đề về kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, quyết định các biện pháp phát huy mọi tiềm năng của địa
phƣơng trong việc phát triển kinh tế theo quy định của pháp luật; quyết định dự
toán thu – chi ngân sách; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các công
trình phục vụ phát triển kinh tế, các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống tham
nhũng, lãng phí, buôn lậu và gian lận thƣơng mại.
- Về giáo dục, y tế văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội và đời sống:
HĐND huyện có quyền quyết định các biện pháp để phát triển mạng lƣới giáo
dục, phát triển sự nghiệp văn hóa – thông tin, thể dục – thể thao trên địa bàn
huyện; quyết định các biện pháp bảo vệ, gìn giữ các công trình văn hóa, lịch sử;
các biện pháp phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân;
thực hiện chính sách ƣu đãi với thƣơng bệnh binh, gia đình có công với cách
mạng; quyết định biện pháp thực hiện chính sách bảo hộ lao động, bao hiểm xã
hội, các chính sách xã hội khác.
- Về khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trƣờng: HĐND huyện có
quyền quyết định các biện pháp để ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ và

5
Điều 1, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006.


qua quy hoạch tổng thể về xây dựng và phát triển của thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trên cơ sở quy hoạch chung của tỉnh để trình Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp
trên trực tiếp phê duyệt; quyết định kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô
thị của thị xã, thành phố thuộc tỉnh; quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công

16
cộng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trƣờng, cảnh quan đô
thị; quyết định các biện pháp quản lý dân cƣ đô thị và tổ chức đời sống nhân dân
trên địa bàn.
HĐND làm việc theo nhiệm kỳ 5 năm. Trong mỗi nhiệm kỳ, HĐND thảo
luận và ra nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại các
kỳ họp HĐND. HĐND họp thƣờng lệ mỗi năm hai kỳ, khi cần thiết, HĐND có
thể họp chuyên đề hoặc bất thƣờng.
Cơ cấu tổ chức của HĐND gồm Thƣờng trực HĐND và các ban của
HĐND. Thƣờng trực HĐND là cơ quan làm việc thƣờng xuyên của HĐND, thực
hiện những nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và những nhiệm vụ do HĐND
giao cho trong thời gian HĐND không họp. Thƣờng trực HĐND huyện gồm
Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thƣờng trực. Thƣờng trực HĐND có nhiệm
vụ và quyền hạn của Thƣờng trực HĐND huyện đƣợc quy định chung tại Điều
53 của Luật Tổ chức HĐND, UBND năm 2003, trong đó Thƣờng trực HĐND
đƣợc coi là cơ quan làm việc thƣờng xuyên của HĐND, giúp HĐND thực hiện
những nhiệm vụ trong thời gian HĐND không họp. Giúp việc cho HĐND huyện
là hai ban: Ban kinh tế - xã hội và Ban Pháp chế. Nhiệm vụ và quyền hạn của hai
Ban này đƣợc quy định cụ thể tại Điều 55 của Luật Tổ chức HĐND, UBND năm
2003.
Nhƣ vậy, về cơ bản, HĐND huyện là cơ quan quyền lực nhà nƣớc, đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng trong việc quản lý xã
hội, thực hiện hai chức năng cơ bản là quyết định mọi vấn đề để phát triển kinh
tế xã hội tại địa phƣơng (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của cấp trên hoặc
của địa phƣơng khác) và giám sát hoạt động và việc thực thi pháp luật của các cơ

UBND năm 2003. Cũng xuất phát từ những đặc thù riêng giữa các đơn vị hành
chính tƣơng đƣơng là quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh mà Luật này
quy định thêm những nhiệm vụ và quyền hạn riêng cho từng loại hình đơn vị
hành chính nhƣ vậy.
UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh đƣợc thực hiện thêm các nhiệm vụ
sau:
 Xây dựng quy hoạch phát triển đô thị của thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trình HĐND cùng cấp thông qua để trình cấp trên phê duyệt;
 Thực hiện các nghị quyết của HĐND về quy hoạch tổng thể về xây
dựng và phát triển đô thị của thị xã, thành phố; thực hiện các biện
pháp quản lý dân cƣ đô thị và tổ chức đời sống dân cƣ trên địa
bàn;…
 Thực hiện các biện pháp quản lý và kiểm tra việc sử dụng quỹ nhà
thuộc sở hữu nhà nƣớc trên địa bàn; tổ chức thực hiện các quyết
định xử lý vi phạm trong xây dựng, lấn chiếm đất đai;…

6
Theo Điều 2, Luật Tổ chức HĐND, UBND năm 2003.

18
 Quản lý, kiểm tra việc sử dụng các công trình công cộng đƣợc giao
trên địa bàn; việc xây dựng và sử dụng các công trình công cộng; hệ
thống giao thông nội thị, nội thành,…
 Quản lý các cơ sở văn hóa - thông tin, thể dục – thể thao của địa
phƣơng; bảo vệ và phát huy các di tích, các công trình văn hóa;…
UBND quận cũng đƣợc giao thực hiện một số nhiệm vụ tƣơng tự (đƣợc
quy định tại Đìều 109 của Luật tổ chức HĐND, UBND năm 2003) nhƣ: quản lý
và kiểm tra việc sử dụng quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nƣớc trên địa bàn theo sự
phân công; cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất đô
thị; quản lý và kiểm tra việc sử dụng các công trình công cộng do thành phố giao

- Ở các huyện đƣợc thành lập thêm Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Phòng Công Thƣơng.
Ngoài ra, xuất phát từ nhu cầu quản lý và các hoạt động kinh tế -xã hội
của địa phƣơng, đƣợc sự cho phép của Chính phủ và UBND thành phố, UBND
huyện còn thành lập thêm một số bộ phận để đảm đƣơng những công việc do
UBND huyện giao. Các bộ phận đó bao gồm các đội chuyên môn nhƣ: Đội quản
lý thị trƣờng, Đội quản lý trật tự xây dựng, Đội giao thông công chính, Đội thi
hành án… Hiện nay, theo chủ trƣơng của thành phố, một số quận đã triển khai
thí điểm thành lập Thanh tra xây dựng để giúp UBND kiểm tra hoạt động xây
dựng và việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xây dựng trên địa bàn, đề xuất
các hình thức xử phạt với những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Cũng tại
các quận đã thành lập Ban quản lý dự án quận. Ban quản lý dự án quận là đơn vị
sự nghiệp kinh tế có chức năng tổ chức thực hiện các dự án đầu tƣ và xây dựng
bằng vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn huy động từ các thành phần kinh tế và các dự
án có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nƣớc, phối hợp với Ban quản lý dự án thành
phố và Trung ƣơng để thực hiện các dự án trên địa bàn quận. Bên cạnh đó, xuất
phát từ nhu cầu quản lý thực tế của địa phƣơng, có những quận, huyện đã thành
lập thêm những cơ quan chuyên môn giúp việc mà đơn cử là Phòng Quản lý
kinh doanh xây dựng thuộc UBND Quận Tây Hồ, Phòng…
Nhƣ vậy, so với HĐND, tính chất hoạt động chấp hành và điều hành của
UBND phức tạp hơn về hình thức, đa dạng về nội dung, bám sát với các diễn
biến và thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn nên tổ chức và hoạt
động của UBND huyện cũng đa dạng hơn. Điều đó ảnh hƣởng đến tƣơng quan
về khối lƣợng tài liệu lƣu trữ đƣợc hình thành từ hoạt động của hai cơ quan này.
Hơn thế nữa, với đặc thù của một đô thị ngàn năm tuổi và một diện tích khá rộng
sau khi sáp nhập thêm Hà Tây và một số đơn vị hành chính khác, Hà Nội có đầy
đủ các mô hình tổ chức cấp huyện từ quận, huyện, thị xã, riêng thành phố Hà
Đông tuy đã đƣợc xác định là một quận nhƣng vẫn mang những đặc điểm của
một thành phố có thời gian là trung tâm hành chính của một tỉnh. Do vậy, tổ
chức và hoạt động của các UBND cấp huyện ở Hà Nội khá phong phú với nhiều

8
. Với
chức năng của mình, VKSND huyện cũng có nhiệm vụ bảo vệ tính nghiêm minh
của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm
của công dân, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nƣớc, của tập thể,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải đƣợc xử lý theo pháp luật.
Nhiệm vụ và thẩm quyền của VKSND đƣợc thực hiện qua các công tác:
- Thực hành quyền công tố và kỉểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đƣợc
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động đìều tra;

7
Theo Điều 1, Luật Tổ chức TAND năm 2002.
8
Theo Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002.

21
- Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội
là cán bộ thuộc các cơ quan tƣ pháp;
- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
xét xử các vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định
của TAND;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục ngƣời chấp hành bản án phạt tù.
Những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của VKSND các cấp để thực hiện
những công việc trên đƣợc quy định cụ thể từ Chƣơng II đến Chƣơng VI của
Luật tổ chức VKSND năm 2002. VKSND huyện gồm các bộ phận công tác và

các cơ quan này có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan trong bộ máy chính
quyền. Ngƣợc lại, để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn, các
cơ quan chính quyền cũng phải hợp tác chặt chẽ với những ngành có liên quan.
Các cơ quan quản lý nhà nƣớc theo ngành dọc ở cấp huyện bao gồm:
* Chi cục thuế huyện:
Chi cục thuế huyện là đơn vị chức năng thuộc Cục thuế có chức năng tổ
chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khỏan thu khác thuộc
ngân sách nhà nƣớc (gọi chung là thuế) theo quy định của pháp luật.
Chi cục thuế có nhiệm vụ triển khai thực hiện các quy định về thuế và
thực hiện các nghiệp vụ thuế trên địa bàn huyện; tổ chức thực hiện dự toán thu
thuế hàng năm; phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế, tham mƣu cho cấp ủy
Đảng và chính quyền địa phƣơng trong việc lập và thực hiện dự toán ngân sách
nhà nƣớc; lập các báo cáo thuế để báo cáo với cơ quan cấp trên, UBND đồng
cấp và các cơ quan có liên quan; phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để
thực hiện công việc đƣợc giao
9
. Chi cục thuế cũng tổ chức và thực hiện quản lý
thuế và quản lý việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với ngƣời nộp thuế; tiến
hành công tác kiểm tra và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế,…Các nhiệm
vụ của Chi cục thuế đƣợc Tổng Cục trƣởng Tổng Cục thuế quy định chi tiết tại
các quy định của ngành.
Tổ chức của Chi cục thuế bao gồm các Đội thuế nhƣ: Đội tuyên truyền và
hỗ trợ ngƣời nộp thuế; Đội kê khai – kế toán thuế và tin học; Đội kiểm tra thuế;
Đội nghiệp vụ - dự toán; Đội quản lý thuế thu nhập cá nhân,… Tùy theo tình
hình thực hiện công tác quản lý thuế (căn cứ trên số thu) và yêu cầu của việc

9
Theo Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18/6/2007 của Tổng Cục trƣởng Tổng Cục thuế ban hành quy chế tổ
chức và hoạt động của các Chi cục thuế trực thuộc Cục thuế.


bạc Nhà nƣớc; thống kê, báo cáo, quyết toán các nghiệp vụ phát sinh tại Kho bạc
Nhà nƣớc huyện;
Nhiệm vụ nhƣ trên cho phép Kho bạc Nhà nƣớc huyện là đơn vị thực hiện
dịch vụ tín dụng cho các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng, thiết lập và quản lý tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status