ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********************
NGUYỄN MINH SƠN
TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU ẢNH
Ở TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: LƯU TRỮ HỌC VÀ TƯ LIỆU HỌC
Mã số: 51002
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Lưu trữ học và tư liệu học
HÀ NỘI - 2003
MỤC LỤC
Trang số
Phần mở đầu:
1
Mục đích, ý nghiã và sự cấp thiết của đề tài
1
48
2.1. Sưu tầm, thu thập tài liệu ảnh
2.2. Phân loại và xác định giá trị tài liệu ảnh
48
50
2.3. Biên mục, thống kê và công cụ tra cứu tài liệu ảnh
59
2.4. Các văn bản đã ban hành để tổ chức tài liệu ảnh
65
2.4. Nhận xét và đánh giá
67
Tiểu kết
71
Chương 3: Một số giải pháp tổ chức khoa học tài liệu ảnh ở
Tiểu kết 108
Kết luận 110
Tài liệu tham khảo 113
Phụ lục 120 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III
73
3.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
và văn bản nghiệp vụ về tổ chức tài liệu ảnh
74
3.2. Nhóm các giải pháp nghiệp vụ về tổ chức tài liệu khoa học tài
liệu ảnh
76
3.3 Giải pháp về tổ chức cán bộ
0
PHẦN MỞ ĐẦU 1- Mục đích, ý nghĩa và sự cấp thiết của đề tài
Một trong những thành tựu khoa học kĩ thuật quan trọng của loài người ở nửa đầu thể kỉ 19
là phát minh ra kĩ thuật nhiếp ảnh. Với sự phát triển mãnh mẽ của nền khoa học và kỹ thuật, ngày
nay nhiếp ảnh đang được ứng dụng một cách sâu rộng vào nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội.
Ở Việt Nam, ảnh được xuất hiện khá sớm từ cuối những năm 60 của thể kỷ 19. Từ đó đến
nay, càng ngày lượng tài liệu ảnh càng tăng lên nhanh chóng. Ngày nay, một khối lượng lớn tài liệu
ảnh đang được bảo quản tại nhiều cơ quan như các Trung tâm Lưu trữ, bảo tàng, thư viện, các cơ
quan thông tấn báo chí, các cá nhân, gia đình v.v. Nhờ kỹ thuật đặc biệt của mình, nhiếp ảnh đã ghi
lại được những khoảnh khắc, những hình ảnh tiêu biểu, điển hình của các hiện tượng, sự kiện có ý
nghĩa kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, lịch sử v. v. Chính nhờ giá trị của nó như vậy nên ngày
nay theo qui định trong các văn bản của Nhà nước, tài liệu ảnh là thành phần quan trọng trong Phông
Lưu trữ Quốc gia Việt Nam. Thực tế tài liệu ảnh đã trở thành di sản văn hoá quý giá của dân tộc. Đó
là nguồn tư liệu quan trọng và đáng tin cậy để nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn.
Hiện nay, một khối lượng lớn tài liệu ảnh đang được bảo quản ở Trung tâm Lưu trữ Quốc
gia III ( từ nay gọi tắt là TTLTQG III ). Nội dung tài liệu ảnh thể hiện chân thực, sinh động nhiều sự
kiện lịch sử quan trọng; phản ánh tinh thần anh dũng, quật cường của nhân dân ta trong chiến đấu;
tinh thần cần cù, chịu khó, vượt khó khăn trong lao động sản xuất; phản ánh đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân ta từ đầu thể kỷ 20 đến nay.
Việc tổ chức sử dụng rộng rãi tài liệu lưu trữ nói chung và tài liệu ảnh nói riêng có một ý
nghĩa cực kỳ quan trọng và cấp bách. Nó không những phục vụ cho việc tổng kết kinh nghiệm lãnh
- Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cụ thể để tổ chức khoa học tài liệu ảnh tại
TTLTQG III nhằm phục vụ tốt cho công tác bảo quản và khai thác sử dụng tài liệu.
3 - Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác lưu trữ tài liệu ảnh ở Việt Nam nói chung và tổ chức khoa học tài liệu ảnh nói
riêng còn là vấn đề khá mới so với lưu trữ tài liệu chữ viết. Trong khoảng 35 năm gần đây đã có một
số công trình nghiên cứu về tổ chức tài liệu ảnh, nhưng chủ yếu chỉ là các bài viết ngắn trên tạp chí
chuyên ngành, trên báo, có một số luận văn cá nhân, thạc sỹ. Chúng tôi xin điểm qua những công
trình nghiên cứu đó:
Nghiên cứu ở nước ngoài
Trước đây, Liên xô (cũ) và Liên Bang Nga ngày nay đã rất quan tâm đến công tác lưu trữ tài
liệu nghe nhìn nói chung và tài liệu ảnh nói riêng nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức
tài liệu ảnh. Những cuốn sách “Những vấn đề cơ bản của việc lựa chọn tài liệu phim ảnh vào nhà
nước bảo quản” Mát -xcơ -va -1978, “Những nguyên tắc cơ bản trong công tác với tài liệu phim,
ảnh, ghi âm tại các viện Lưu trữ Nhà nước”; và gần đây các cuốn sách “Những nguyên tắc cơ bản
trong công tác của các viện Lưu trữ Quốc gia Liên Bang Nga”, Mát -xcơ -va 2002; “Lựa chọn tài
liệu lưu trữ nghe - nhìn để bảo quản vĩnh viễn” Hướng dẫn nghiệp vụ, Mát -xcơ -va 2003; “Quản lý
tài liệu ảnh trong hệ thống cơ quan Chính phủ Ca -na -đa”, Ot-ta-oa, 1993 - bản dịch v. v. . . là
những tài liệu nghiệp vụ đã được nghiên cứu, tổng kết từ thực tiễn về công tác lưu trữ tài liệu nghe
nhìn, đề cập đến các khâu nghiệp vụ từ thu thập, phân loại, biên mục, thống kê công cụ tra cứu, bảo
quản, tổ chức sử dụng tài liệu nghe nhìn. Đây là những tài liệu quí có thể tham khảo tốt cho công tác
lưu trữ tài liệu nghe nhìn, trong đó có tài liệu ảnh của nước ta.
Nghiên cứu ở trong nước:
Về những vấn đề chung của tổ chức khoa học tài liệu ảnh: Tới nay đã có khá nhiều bài viết,
2
các sách chuyên khảo, tập bài giảng, luận văn cử nhân, thạc sĩ có liên quan đến tổ chức khoa học tài
liệu ảnh. Các bài viết của Võ Văn Sáu “Vài nét về tình hình công tác lưu trữ phim ảnh và băng ghi
âm của nước ta hiện nay”, Tập san “Nghiên cứu công tác Lưu trữ” số 2 -1967; “Phương pháp thống
III cần phải chú ý tới đặc thù của nó.
Vấn đề biên mục, thống kê và công cụ tra cứu. Một số tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này
như Dương Viết Á“ Ý nghĩa điển hình của lời chú thích trong ảnh thời sự”, Tạp chí Nhiếp ảnh, số
12/1980; Lã Thị Hồng với bài “Viết lời thuyết minh cho tài liêụ ảnh”, Tạp chí Văn thư -Lưu trữ số
01/1986; “Viết thuyết minh và biên mục, bảo quản tài liệu ảnh, của Nguyễn Lan Phương, Tạp chí
3
Lưu trữ Việt Nam, số 3/1998 v. v. Tuy nhiên trong các bài báo của mình, các tác giả chưa đề cập đến
các thông tin cần biên mục; cách xây dựng hệ thống công cụ tra cứu. Gần đây trong đề tài “Nghiên
cứu xây dựng hệ thống công cụ thống kê các loại tài liệu lưu trữ” năm 2000 do Tiến sỹ Nguyễn Cảnh
Dương chủ trì. Kết quả đề tài này là các mẫu thống kê đối với các loại hình tài liệu lưu trữ trong đó
có tài liệu ảnh. Tuy nhiên một số thông tin trong biểu mẫu chưa phù hợp với tình hình lưu trữ tài liệu
ảnh ở Việt Nam.
4 - Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài liệu ảnh bảo quản tại TTLTQG III thuộc các thời
kì khác nhau và trên các chất liệu khác nhau.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đề tài chỉ nghiên cứu thành phần, nội dung, đặc điểm của tài liệu ảnh đang được bảo quản
tại TTLTQG III, không nghiên cứu nội dung tài liệu ảnh chưa được thu thập vào Trung tâm.
- Tìm hiểu các nguồn nộp lưu tài liệu ảnh vào Trung tâm.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức tài liệu ảnh tại Trung tâm LTQG III,
5 - Nguồn tài liệu tham khảo:
Tài liệu ngoài nước: các tác phẩm kinh điển về phương pháp luận nghiên cứu; các sách
giáo khoa, các bài báo, các công trình nghiên cứu, các văn bản quy phạm pháp luật về tài liệu nghe -
nhìn của Liên - xô trước đây, Liên bang Nga, Cana a, Đức. v. v
Tài liệu trong nước: - Các cuốn sách và các bài viết về tài liệu ảnh trên Tạp chí Lưu trữ Việt
Nam, Tạp chí Nhiếp ảnh, Tạp chí Truyền hình, Tạp chí Báo ảnh Việt Nam;
- Các đề tài nghiên cứu khoa học, các báo cáo khoa học, báo cáo khảo sát của Cục Lưu trữ
quả tài liệu ảnh nhằm phục vụ các yêu cầu khác nhau của xã hội. Công trình này sẽ là một đóng góp
nhỏ bé vào việc hoàn thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác lưu trữ là sử dụng có
hiệu quả nguồn di sản văn hoá quý báu và đặc biệt này của dân tộc.
Kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ rất cần thiết vì không chỉ góp phần giải quyết những
khó khăn, vướng mắc về công tác tổ chức khoa học tài liệu ảnh cụ thể tại TTLTQG III, mà còn có
thể góp phần định hướng công tác tổ chức khoa học tài liệu ảnh ở các trung tâm lưu trữ khác trong
cả nước.
Đóng góp của luận văn còn ở sự tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức
khoa học tài liệu ảnh tại TTLTQG III, nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về cơ sở pháp lý liên quan
đến tài liệu ảnh. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất việc soạn thảo, ban hành một số văn bản qui phạm
pháp luật và văn bản nghiệp vụ nhằm tạo cơ sở pháp lí để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tổ chức
khoa học tài liệu ảnh ở các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia nói riêng và tài liệu ảnh ở các lưu trữ khác
trong cả nước nói chung.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý để xây dựng các văn bản có
liên quan tới tài liệu ảnh, cho cán bộ nghiệp vụ khi tổ chức khoa học tài liệu ảnh trong quá trình làm
việc của mình.
8) - Bố cục của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn có 3 chương và phần phụ lục
Chương 1: Thành phần, nội dung và đặc điểm tài liệu ảnh bảo quản ở TTLTQG III
Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát thành phần, nội dung và đặc điểm tài liệu
ảnh bảo quản tại TTLTQG III. Bên cạnh đó, chúng tôi giới thiệu nội dung cơ bản của khối tài liệu
ảnh và giá trị của nó. Đặc biệt là những sự kiện lịch sử quan trọng nào được phản ánh trên tài liệu
ảnh đó. Ngoài ra, trong chương này, Luận văn còn trình bày những đặc điểm cơ bản của tài liệu ảnh
giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám đến những năm 80 của thế kỷ 20 được bảo quản ở TTLTQG
5
III. Qua đó khẳng định tài liệu ảnh ở TTLTQG III thực sự là nguồn sử liệu quý và đáng tin cậy, góp
phần quan trọng để nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Minh Sơn
6
Chương 1
THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TÀI LIỆU ẢNH Ở TTLTQG III
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thành lập ngày 10 -6 -1995 theo Quyết định 58 -TCCP
của Bộ trưởng -Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) có chức năng thu thập, bảo
quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ từ Cách mạng tháng Tám 1945 tới nay.
Hiện nay Trung tâm III đang bảo quản hơn 6000 mét giá tài liệu với bốn loại hình tài liệu chính là: tài
liệu quản lý hành chính( hay còn gọi là tài liệu hành chính) với hơn 200 phông; tài liệu khoa học kỹ
thuật (nhưng hiện nay chủ yếu là tài liệu xây dựng cơ bản ) của hơn 60 công trình trọng điểm quốc gia;
tài liệu văn học - nghệ thuật của gần 50 văn nghệ sĩ, các nhà khoa học tiêu biểu và bảo quản một khối
lượng lớn tài liệu phim, ảnh, ghi âm, ghi hình (còn gọi là tài liệu nghe - nhìn). Trong đó, tài liệu ảnh
chiếm một ví trí đáng kể về khối lượng với gần 350.000 ảnh và rất có giá trị về mặt nội dung. Khối tài
liệu ảnh này được chia thành hai thời kỳ: trước Cách mạng và sau Cách mạng tháng Tám 1945.
1.1. THÀNH PHẦN, NỘI DUNG TÀI LIỆU ẢNH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Khối tài liệu ảnh này chiếm số lượng không lớn, khoảng hơn 800 bức ảnh với ba thể loại chủ
yếu là ảnh sự kiện, ảnh chân dung và ảnh phong cảnh. Đối tượng mà những bức ảnh thể hiện không chỉ
trong phạm vi trên đất nước Việt Nam mà còn phản ánh một số cảnh ở các nước Đông Dương. Những
tài liệu ảnh này không nằm trong hồ sơ của các phông lưu trữ thời kì thuộc địa mà đó là những ảnh được
sưu tầm, được biếu tặng từ nhiều nguồn khác nhau; còn số tài liệu ảnh trước năm 1945 nằm trong hồ sơ
tài liệu giấy và có liên quan đến nội dung của hồ sơ đó thì vẫn bảo quản ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
.
1.1.1. Khối ảnh sự kiện
Ảnh sự kiện bao gồm ảnh tài liệu, thời sự, báo chí, khoa học chụp các sự kiện, hiện tượng xảy
ra hàng ngày trong đời sống xã hội và tự nhiên. Ảnh sự kiện được hình thành nhằm phục vụ cho công
tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, cho các hoạt động kinh tế, khoa học và các mục đích khác. Vì nó
kịp thời ghi lại các sự kiện, hiện tượng mới xảy ra thường không bao giờ lặp lại nên có ý nghĩa thực tiễn
nhân dân ta nổ ra khắp nơi. Cũng từ năm 1936 trở đi, nhiều tờ báo do Đảng chỉ đạo xuất bản công khai
ở khắp Bắc, Trung, Nam. Ảnh: Toà soạn báo “Tin tức” có đồng chí Trường Chinh [ 64,170] và các nhà
văn, nhà báo tham gia tích cực trong phong trào chống Pháp. Chính lực lượng nhà văn, nhà báo không
những đóng góp to lớn trong lĩnh vực tuyên truyền cổ động tinh thần cách mạng, hướng dẫn, kêu gọi
quần chúng lao khổ đứng dậy đấu tranh chống lại thực dân, phong kiến, mà chính bản thân họ cũng trực
tiếp tham gia vào các phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi ấy. Đây là hình ảnh “ Đoàn nhà văn, nhà
báo và đoàn phụ nữ trong buổi mít tinh ngày 1 -5 -1938 tại khu Đấu Xảo -Hà Nội ”[64,171].
Phong trào Dân chủ chống Pháp được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như “ Hội Ái hữu
thợ Mộc”, “ Hội Truyền bá Quốc ngữ”. Các nhà cách mạng đã dùng diễn đàn của hội này vừa để vận
động đồng bào học chữ quốc ngữ vừa để khích lệ lòng tự tôn dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần cách
mạng. Hình ảnh trên diễn đàn, có đồng chí Võ Nguyên Giáp, ông Phan Thanh, Hằng Phương, Trần Văn
Giáp, bác sĩ Phạm Hữu Chương, Nguyễn Văn Tố, Tôn Thất Bình, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn
Huyên, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Lộ v. v. [64, 182]. Một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần
to lớn quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam ta là sự ra đời của Việt Nam Tuyên truyền giải
phóng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương với 34 chiến sĩ đầu tiên nay đã trở thành
một quân đội hùng mạnh, cùng với nhân dân Việt Nam làm nên cuộc Cánh mạng tháng Tám long trời lở
đất, đánh thắng những đế quốc to như Pháp, Mỹ. Sự kiện này cũng được lưu giữ bằng hình ảnh:“ Lễ
thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tại Khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng, ngày
22 -12 -1944)”. Mặc dù đây là cảnh được dựng lại để chụp. Thời gian càng lùi ra xa, những tài liệu này
càng trở nên quý giá, chúng là những bằng chứng lịch sử sinh động về buổi đầu mới thành lập Quân đội
ta. Như vậy, qua khối tài liệu ảnh này, những phong trào yêu nước của nhân dân ta trước năm 1930 và
những phong trào cánh mạng, những sự kiện quan trọng của dân tộc ta trước Tổng khởi nghĩa năm 1945
đều được thể hiện một cách chân thực và sinh động. Đây thực sự là một cuốn sử biên biên bằng hình
8
ảnh, giúp cho các độc giả, đặc biệt là các nhà nghiên cứu nguồn sử liệu đáng tin cậy để dựng lại chân
dung lịch sử một cách trung thực.
Không chỉ phản ánh về phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, mà khối tài liệu ảnh
Trong khối ảnh chân dung thời kì trước Cách mạng, có nhiều hình ảnh về các nhân vật yêu
nước, các chiến sĩ cộng sản. Đó là hình ảnh của ông Vua trẻ Duy Tân, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái
Học, Hoàng Trọng Mậu tức Nguyễn Đức Công - người hoạt động trong phong trào Phan Bội Châu, bị bắt ở
Hương Cảng, bị án tử hình ngày 20 -1 -1916 tại Bạch Mai - Hà Nội. Đặc biệt, chiếm một khối lượng lớn tài
9
liệu ảnh trong khối này là chân dung các chiến sĩ cách mạng, các đồng chí lãnh đạo của Đảng như chân
dung Nguyễn Ái Quốc năm 1920, khi Người còn hoạt động ở Pháp; đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên
của Đảng Cộng sản Đông Dương; đồng chí Lê Hồng Phong năm 1931 và năm 1935; đồng chí Lê Duẩn năm
1931 và năm 1939 khi ông hoạt động trong Xứ uỷ Trung kỳ; Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Khánh Toàn
năm 1931; Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Đặng Xuân Khu( Trường Chinh ) năm 1936,
đồng chí Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), Văn Tiến Dũng, đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Hạ Bá Cang
(tức Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Kim Thành (Tố Hữu), Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Nõn, Ngô Gia Tự,
Nguyễn Phong Sắc và rất nhiều ảnh chân dung của các đồng chí trong các Xứ uỷ Bắc kỳ, Trung kỳ và
Nam Kỳ.
Ngoài ra, còn có các nhân vật lịch sử khác như các vua triều Nguyễn và các đại thần như chân
dung của Vua Bảo Đại, Phó vương Hoàng Cao Khải, Nguyễn Hải Thần, Cường Để chân dung một số
tri phủ, vợ con và gia đình họ cũng được thể hiện ở khối này.
Khối ảnh chân dung này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc triễn lãm, trưng bày tại các Viện bảo
tàng, các nhà lưu niệm, trong các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu về cuộc
đời và sự nghiệp của các vị tiền bối cách mạng của ta cũng như một số nhân vật lịch sử khác. Hiện nay,
TTLTQG III là một trong số ít cơ quan còn giữ được những bức ảnh quý hiếm này.
1.1.3. Khối ảnh phong cảnh
Ảnh phong cảnh là những hình ảnh về phong cảnh thiên nhiên, di tích lịch sử, phong cảnh kiến
trúc, phong ảnh công nghiệp, nông nghiệp, cảnh nông thôn, miền núi .qua các thời kì lịch sử. Trong
ảnh phong cảnh còn có cả cảnh sinh hoạt, lao động đời thường của nhiều tầng lớp nhân dân [ 84, 23]
Khối ảnh phong cảnh thời kì này khá phong phú, ngoài hình ảnh phong cảnh của Việt Nam còn
có ảnh của các nước láng giềng như Lào, Căm-Pu-chia. Ảnh phong cảnh kiến trúc chiếm số lượng
đều được ghi lại.
Khối ảnh phản ánh cảnh sinh hoạt đời thường của nhân dân ở nhiều vùng khác nhau chiếm một
khối lượng không nhỏ. Trước hết, đó là những bức ảnh miêu tả những con người ở các vùng miền, các
dân tộc, các dân tộc và các tâng lớp giai cấp khác nhau. Ta có thể tìm thấy trong số này hình ảnh các cô
gái Việt Nam của các miền khác nhau, như ảnh thiếu nữ Bắc kỳ trong y phục dân tộc, ảnh thiếu nữ Sài
Gòn, Hải phòng, Lào Cai, thiếu nữ Nam Định; cảnh sinh hoạt của các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam như
Mán, Mèo, Lô Lô, Mường. . .
Cảnh sinh hoạt, lao động của nhân dân ta được thể hiện khá rõ nét: cảnh trâu kéo cày ở Bắc Bộ,
nhà nông vác cày, vác cuốc ra đồng, cảnh nhổ mạ, gặt lúa, tát nước, bắt cá, cảnh gánh nước, cảnh đánh
cá ở Hồ Tây, ở Sầm Sơn, các ngành nghề thủ công khác như nghề làm giấy, tơ tằm, khắc chạm gỗ. . .
Không những cảnh Việt Nam mà còn có cả các cảnh sinh hoạt ở Căm-pu- chia như: vũ nữ
Hoàng cung Căm-pu-chia, những nhạc công của công chúa Akhanari, những người làm công ở hoàng
cung Căm-pu-chia, các vũ nữ múa, những thanh niên ở Pnôm pênh. . .
Như vậy, tuy với số lượng ảnh không thật nhiều nhưng khối ảnh trước Cách mạng tháng Tám
thực sự là nguồn tư liệu quý. Đó là những hình ảnh chân thực sinh động, phản ánh nhiều mặt của lịch sử
Việt Nam ta trong một giai đọan khá dài. Trước hết đó là những sự kiện quan trọng trong lịch sử đất
nước, những cuộc khởi nghĩa, những phong trào cách mạng, sự kiện Nhật hất cẳng Pháp v. v. Tóm lại,
đây là nguồn tư liệu có giá trị nhiều mặt phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá, kinh tế và nhiều
mặt khác; đồng thời đây cũng là nguồn tư liệu quý để phục vụ cho các Viện bảo tàng, các nhà lưu
niệm Vấn đề là cần phải tổ chức khoa học khối tài liệu ảnh quý híêm này để phục vụ tốt hơn nữa nhu
cầu sử dụng của đông đảo các nhà nghiên cứu hiện nay.
1. 2. THÀNH PHẦN, NỘI DUNG TÀI LIỆU ẢNH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM -1945
1.2.1. KHỐI TÀI LIỆU ẢNH SỰ KIỆN CỦA CÁC CƠ QUAN
Ảnh sự kiện thời kì sau Cách mạng tháng Tám 1945 chiếm một số lượng khá lớn với gần
130.000 tấm ảnh phán ánh một cách trung thực, sinh động nhiều hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hoá, ngoại giao… của đất nước ta.
11
Ngọc Minh - Chủ tịch Đảng Issara - Issarak Căm - pu - Chia cùng các nhà lãnh đạo cách mạng Lào đã
dự Đại hội và sau đó đã có các cuộc hội đàm quan trọng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ
Nguyên Giáp.
Đại hội Mặt trận thống nhất thống nhất Việt Minh - Liên Việt năm 1951 với những hình ảnh của
các đại biểu đọc báo cáo và tham luận, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu. Năm
1952, Hội nghị Uỷ ban Liên Việt toàn quốc và Hội nghị Kháng chiến Hành chính toàn quốc về phong
trào thi đua sản xuất và tiết kiệm ở Chiêm hoá, Tuyên Quang. Tại các Hội nghị đó, Hồ Chủ Tịch và các
đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước đã tới dự.
12
Những hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ đón tiếp phái đoàn Nam bộ ra thăm miền
Bắc năm 1948 và đón tiếp phái đoàn Thanh niên Nam bộ tại Việt Bắc năm 1949 đã thể hiện sự quan
tâm đặc biệt của chính phủ đối với Miền Nam; Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Đại hội Đảng Lao động Việt
Nam lần thứ II, ảnh Người đang trao đổi tình hình cách mạng Đông Dương với Chủ tịch Xu - pha - Nu -
vông trong dịp Đại hội Đảng Lao động Việt Nam năm 1951[66] .
Hình ảnh nhân dân Hà Nội kỷ niệm ngày 1-5-1955 và chào mừng Trung ương Đảng và chính phủ
về Thủ đô; đấu tranh chống cha cố cưỡng ép di cư vào Nam, hình ảnh công nhân ở các nhà máy Hải
Phòng đấu tranh bảo vệ nhà máy thời kì 1954-1955 … được lưu giữ khá nhiều.
Tiếp theo là những hình ảnh về Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III năm 1960 tại Hà Nội.
Lễ mừng Quốc khánh 2-9 và tổ chức lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3-2- hàng năm được tổ chức ở Hà
Nội và nhiều địa phương khác.
Tại Hội nghị Chính trị Đặc biệt năm 1964, Hồ Chủ Tịch đọc báo cáo quan trọng tại Hội nghị này,
một lần nữa tỏ rõ quyết tâm xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền
Nam. Tiếp đó là các hình ảnh Người đi thăm nhà trẻ, bệnh viện, nhà máy, đón tiếp trọng thể Luật sư Lô-
dơ-bai, đón tiếp đoàn Đại biểu mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam thăm miền Bắc năm
1965, Hồ Chủ Tịch chiêu đãi khách quốc tế nhân các ngày lễ .
Trong khối tài liệu này còn lưu giữ được nhiều hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các
cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Người dự các bữa cơm thân mật với các đồng chí trong Trung ương,
và tạo điều kiện cho nhân dân đi tản cư trong khi chiến sự xảy ra, đầu năm 1947, giữa chính phủ ta và
đại diện chính phủ Pháp đã có các cuộc điều đình. Nhiều tấm ảnh đã ghi lại sự kiện này.
Nhiều chiến dịch quân sự quan trọng ở miền Nam đã được các phóng viên chiến tranh ghi lại
như Chiến dịch Giòng Dứa ( Mỹ Tho ) tháng 2 -1947; chiến dịch Trà Vinh năm 1949 với hình ảnh nhân
dân đi tiếp tế cho bộ đội, các chiến sĩ cảm tử của ta xung phong, cảnh giải tù binh, quân y ta chăm sóc
vết thương cho tù binh địch; chiến dịch Sóc Trăng năm 1950, cảnh thanh niên, phụ nữ ở Đồng Tháp
Mười -Nam Bộ lập chướng ngại vật chống các cuộc càn quét của địch.
Tiếp theo là những cảnh của các nhà máy quân giới trong các vùng giải phóng như Nhà máy Cơ
khí Trần Hưng Đạo tháng 8 -1948, cảnh thi đấu thể thao của công nhân quốc phòng nhân dịp kỉ niệm
Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1950; cảnh Đại hội Uỷ ban kháng chiến Nam bộ, Đại hội Công
giáo kháng chiến trong các năm 1951, 1953, 1954 diễn ra trong các vùng giải phóng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị Tổng Tư lệnh của các lực lượng vũ trang luôn quan tâm, chăm lo cho
sự trưởng thành của Quân đội. Người đến thăm các công binh xưởng, hình ảnh Người trong chiến dịch
Biên giới nổi tiếng hay sau chiến dịch Cao Bằng. Đặc biệt chúng ta được thấy những bức ảnh có giá trị
lịch sử khi Người cùng đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… họp quyết định
mở Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Trong khối ảnh thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hình
ảnh bộ đội Cụ Hồ và dân công trong chiến dịch Điện Biên Phủ chiếm một khối lượng khá lớn [66]
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hình ảnh về các đợt diễn tập, huấn luyện, hội
thao quân sự, cảnh sinh hoạt của các chiến sĩ ở hậu phương lớn miền Bắc, chi viện về mọi mặt cho các
chiến trường miền Nam, Lào; ảnh về Đại hội Quyết thắng Quân khu Việt Bắc, Hội nghị tập huấn toàn
quân, cảnh tuyển quân vã tiễn đưa con em lên đường ra trận, thanh niên đăng ký Ba Sẵn sàng, tập bắn
máy bay Mỹ, các đơn vị Công binh xây cầu ngầm .được thể hiện khá nhiều. Cuộc chiến tranh phá hoại
miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ đã mang lại nhiều tổn thất về người và của cho nhân dân ta:
các nhà máy bị đánh phá, các nông trường, bệnh viện, đê điều, cửa hàng lương thực, khu dân cư, làng
quê, các đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội bị bom đánh trúng, hình ảnh dân lành bị giết hại. Hàng trăm
nhà thờ, đền, chùa trên miền Bắc bị bom Mỹ phá huỷ, các trường đại học, phổ thông bị đánh phá, nhiều
trường bị bom Mỹ đánh phá nhiều lần. Các cuộc chiến đấu chống hoạt động gián điệp, biệt kích của Mỹ
- Ngụy trên miền Bắc cũng được thể hiện qua nhiều bức ảnh như hình ảnh về một số vụ biệt kích bị bắt
ở Hà Nội, ở Đèo ngang, Hà Bắc, Lạng Sơn, Hồng Quảng v.v.[68]
14
giao này. Đáp lại thiện chí của Việt Nam, bạn bè quốc tế cũng đã có nhiều hoạt động tích cực, góp phần
đáng kể vào thắng lợi của nhân dân ta trong kháng chiến cũng như xây dựng cuộc sống hoà bình.
Khối tài liệu ảnh về ngoại giao chiếm số lượng khá lớn với hàng vạn tấm ảnh và có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước từ sau Cách mạng tháng Tám 1945.
- Hoạt động đối ngoại trong nước
+ Hoạt động của lãnh đạo các nƣớc tại Việt Nam
Tháng 10 -1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và kí kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhân
dân Hà Nội nồng nhiệt đón chào Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô. Chưa đầy hai tháng sau, ngày 29-
11-1954 chúng ta được đón tiếp phái đoàn chính phủ Miến- Điện do Thủ tướng U-Nu dẫn đầu sang
15
thăm Việt Nam. Tiếp đó, phái đoàn Ấn-Độ do Thủ tướng Nerhu dẫn đầu là những phái đoàn cấp chính
phủ sớm nhất đến thăm Việt Nam sau khi hoà bình được lập lại.
Trong những năm tiếp theo, qua nhiều bức ảnh chúng ta nhận thấy rằng nhân dân Việt Nam
vui mừng và nồng nhiệt đón chào Đoàn đại biểu chính phủ Liên-xô do đồng chí Mi-côi-an dẫn đầu
sang thăm Việt Nam (2-4-1956), Đón tiếp Thủ tướng Vương quốc Lào Souvana-Phuma ( 8-1956), Chủ
tịch Đoàn Xô-viết Tối cao Liên Xô đồng chí K. E. Vô-rô-si-lốp (5-1957); đón tiếp phái đoàn chính phủ
Nước cộng hoà nhân dân Trung-Hoa do Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu sang thăm Việt Nam, nhân dân
Hà Nội nồng nhiệt đón chào Đoàn [ 69,797] Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai nâng cốc chúc tình
hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Trung đời đời bền vững [69, 808 ]. Tiếp đó là các đoàn đại biểu của
nhiều nước khác như Tiệp-Khắc, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, Triều-Tiên, Nam-Tư, Ba-Lan, Mông-Cổ, Cộng
hoà Dân chủ Đức, An-giê-ri, An-Ba-ni, Ma-li, Pháp… cũng đã đến thăm Việt Nam.
+ Tiếp đón các đoàn đại biểu Quốc hội các nƣớc:
Để củng cố, thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị giữa các dân tộc và trao đổi kinh nghiệm trong
công tác lập pháp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước ta đã mời các đoàn đại biểu Quốc hội các nước
khác đến thăm Việt Nam.
Tháng 9 - 1962, Phái đoàn Quốc hội nước Cộng hoà nhân dân Trung- Hoa đã sang thăm nước
ta. Qua những hình ảnh còn lưu giữ được, chúng ta thấy hàng vạn nhân dân Thủ đô đón chào Đoàn, các
phủ thường mở tiệc chiêu đãi các công sứ, đại sứ các nước tại Hà Nội .
Ngoài ra, thành viên các Hội Hữu nghị các nước, các cán bộ lão thành cách mạng của các nước
xã hội chủ nghĩa sang thăm Việt Nam, tổ chức các buổi nói chuyện về đấu tranh cách mạng ở nước họ.
Trong khối ảnh về hoạt động đối ngoại của các địa phương, ở Trung tâm III còn lưu giữ được
nhiều hình ảnh về lãnh đạo các cấp, ngành và nhân dân Việt Bắc đón phái đoàn các nước như Trung-
Quốc, Liên- Xô, Ba- Lan, Căm-pu- chia, Nhật- Bản lên thăm Việt Bắc trong những năm kháng chiến
chống Mỹ. Các đoàn Hoà bình Mỹ, Italia, các đoàn nghệ thuật Cu- Ba, Liên- Xô, đoàn Nhà Văn, Nhà
Báo Mỹ, Thuỵ- Điển, Trung- Quốc, O-man, Poc-to-ri-cô và nhiều nước khác trong các chuyến sang
thăm Việt Nam đều lên Việt Bắc và đã dành cho nhân dân Việt Bắc sự ủng hộ và giúp đỡ tinh thần và
vật chất rất quí giá, động viên, khích lệ nhân dân Việt Bắc đứng lên trong cuộc kháng chiến vì tự do và
độc lập.[69]
+ Hội nghị quốc tế tại Việt Nam
Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, chúng ta vui mừng được tổ chức và đón các đoàn
đại biểu nước ngoài về dự hội nghị quốc tế tại Hà Nội ( Hội nghị Ngoại giao lần thứ 9 tổ chức tại Hà
Nội 29-7-1970).
+ Hoạt động của các đoàn nghệ thuật nƣớc ngoài
Đoàn Văn công An-ba-ni là đoàn Văn công sớm nhất sang biểu diễn tại Việt Nam (1955), tiếp
theo đó nhân dân Hà Nội và nhiều tỉnh phía Bắc được đón chào và thưởng thức của chương trình biểu
diễn văn nghệ đặc sắc của các đoàn văn công Liên -Xô, Trung-Quốc, An-Ba-Ni…[69]
- Hoạt động ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.
+ Hoạt động của Đảng ở nƣớc ngoài
Công tác đối ngoại luôn được Đảng ta quan tâm nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè
quốc tế. Tuy không nhiều về số lượng nhưng những hình ảnh về Phái đoàn Đảng Lao động Việt Nam do
đồng chí Lê Duẩn- Tổng Bí thư dẫn đầu thăm Liên- Xô, Trung - Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa
trong các thời gian khác nhau nhằm củng cố khối đoàn kết giữa các đảng cộng sản, đã phản ánh được
những hoạt động đối ngoại quan trọng của Đảng.[69]
+ Hoạt động của chính phủ
17
Việt Nam do ông Hoàng Minh Giám dẫn đầu sang thăm Cu-Ba; sau đó, Phái đoàn Mặt trận Dân tộc
Giải phóng Miền Nam Việt Nam do ông Trần Văn Thành dẫn đầu sang thăm Cu-Ba ngày 30-7-1964 đã
chứng tỏ lực lượng cách mạng miền Nam ngày càng lớn mạnh và đã giành được sự ủng hộ quốc tế to
lớn Trong những năm tiếp theo, chính phủ ta đã nhiều lần cử các đoàn đại biểu đi thăm hữu nghị chính
thức các nước, đi dự của lễ kỷ niệm Quốc khánh của nước như Liên- Xô, Trung- Quốc, Cộng hoà Dân
chủ Đức…[69]
+ Hoạt động của Quốc hội
Để tăng cường tình đoàn kết, sự hiểu biết và giúp đỡ lẫn nhau, Quốc hội Việt Nam đã chú trọng
đến các hoạt động của mình ở nước ngoài nước. Tháng 10 -1956, Đoàn đại biểu Quốc hội nước ta do
18
đồng chí Tôn Đức Thắng làm trưởng đoàn đã đi thăm chính thức Liên- Xô. Hơn 200 tấm ảnh đã ghi lại
cảnh tiễn đoàn ở ga Hàng Cỏ, cảnh đoàn đi qua Trung- Quốc, Mông- Cổ, cảnh Đoàn Đại biểu Xô viết
tối cao Liên- Xô và nhân dân Liên- Xô nồng nhiệt đón chào Đoàn ở sân bay Vơnucôvơ (Mátxcơva ).
Những ngày ở Liên Xô ngoài những cuộc hội đàm quan trọng, Đoàn đã vào Lăng viếng Lê-nin và Xta-
lin, thăm phòng làm việc của Lê-nin, thăm các danh lam thắng cảnh ở Mátxcơva. Ngoài ra Đoàn còn đi
thăm một số nước cộng hoà khác. Tháng 7 -1958, Đoàn Đại biểu Quốc hội nước ta đã đi thăm hữu nghị
chính thức nước Cộng hoà nhân dân Trung - Hoa. Nhiều tấm ảnh đã ghi lại cảnh đón tiếp Đoàn nồng
nhiệt ở Bắc-Kinh, cảnh hai đoàn hội đàm với nhau và các hoạt động khác của Đoàn ta. Chuyến đi thăm
này đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ giữa Quốc hội và nhân dân hai nước.
Tháng 8-1964, đồng chí Trường Chinh đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội nước ta đi thăm
Cộng hoà In-đô-nê-xia. Hàng nghìn đại biểu của đủ các tầng lớp, đảng phái ở Gia-các-ta đã tổ chức mít
tinh chào mừng đoàn. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bức vào
giai đoạn ác liệt, để tranh thủ thêm sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đoàn
đại biểu Quốc hội ta đã đi thăm Liên-Xô, Mông-Cổ. Đáng chú ý là những tấm ảnh ghi lại hành trình và
phản ánh kết quả chuyến đi thăm hữu nghị một loạt nước của Đoàn đại biểu Quốc hội nước ta do đồng
chí Trường Chinh dẫn đầu. Tháng 8-1977, Đoàn đã đi thăm hữu nghị Liên-Xô, Bun-ga-ri, Mông-Cổ,
Tiệp-Khắc, Ba-Lan, Ru-ma-ni. Đây là chuyến thăm dài ngày nhất và qui mô nhất mà kết quả chuyến
thường xuyên dự các hội nghị quốc tế khác như Hội nghị Á-Phi ở Miến-Điện (4-1955); Dự Đại hội
Liên hoan Thanh niên quốc tế tại Matxcơva 1957; Hội nghị Conabry( Ghi-Nê)-4-1960 [68, 95-96;
117-134]
Trong Hội nghị Giơ-nevơ về Đông Dương năm 1954, có hình ảnh phái đoàn ta tiến hành các
cuộc hội đàm, ảnh về lễ ký Hiệp định; Bộ trưởngNgoại giao Ung Văn Khiêm làm Trưởng đoàn Hội
nghị Giơ-ne-vơ mở rộng về vấn đề Lào, 5-1961… [69]
Tiếp theo là những hình ảnh sinh động, chân thực của Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh
và lập lại hoà bình ở Việt Nam năm 1973.
+ Hoạt động của các nhà khoa học, lƣu học sinh,
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng và chính phủ Việt
Nam đã tuyển chọn nhiều nhà khoa học, chuyên gia, lưu học sinh đi học tập, nghiên cứu, hợp tác khoa
học. . . Đặc biệt trong nhóm ảnh này, chúng ta gặp lại những hình ảnh của cán bộ, sinh viên Việt Nam
trong các cuộc biểu tình chống Mỹ từ năm 1964-1972… [69]
- Hợp tác với các nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá. . .
Hợp tác với các nước trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, văn hoá là ưu tiên hàng đầu
của Đảng và Chính phủ. Chưa đầy một năm sau khi giải phóng miền Bắc, chúng ta đã ký kết các hiệp
định thương mại giữa Việt Nam với Pháp, Ba-Lan,Tiệp-Khắc(1955) Trung- Quốc, Liên- Xô và nhiều
nước khác.
Ngoài ra một số nước đã tổ chức các cuộc triển lãm kinh tế tại Hà Nội . Chủ tịch Hồ Chí Minh
và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước cũng như quan chức ngoại giao đã đến xem triển lãm
như Triển lãm công nghiệp của Tiệp-khắc tại Hà Nội 7-1955. [69]
- Các nước ủng hộ Việt Nam
+ Tài liệu ảnh về hoạt động của các chuyên gia
Trong các cuộc kháng chiến dành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, một trong những
nguyên nhân quan trọng làm nên chiến thắng của chúng ta là có sự ủng hộ quốc tế rộng rãi trong đó các
chuyên gia nước ngoài đóng góp một phần không nhỏ. Chính phủ ta đã thành lập Cục Chuyên gia để
chăm lo, bảo vệ và quản lý các chuyên gia. Trong khối ảnh này, chúng ta thấy hình ảnh của các đồng chí
lãnh đạo Đảng và nhà nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm các
chuyên gia ở khách sạn Bạch Mai năm 1958, các đại hội liên hoan thi đua của Cục Chuyên gia qua các
20
thăm công trình Thuỷ lợi Bắc-Hưng Hải.
Hình ảnh về các hợp tác xã điển hình như Thành Công, Ba Nhất; các nông trường, lâm trường,
các trạm kiểm lâm; hình ảnh khai thác, chế biến các sản phẩm của rừng; việc khai hoang xây dựng
vùng kinh tế mới; một số hình ảnh về cơ khí hóa trong nông nghiệp; cảnh gặt lúa tập đoàn, thu hoạch
bông, trồng cây gây rừng, chăn nuôi v.v. cũng được phản ánh sinh động và khá phong phú.
- Về Thủy sản : Đó là những hình ảnh nuôi và thu hoạch thủy sản nước ngọt, nước lợ ở nhiều địa
phương; các hợp tác xã đánh cá điển hình; đánh bắt cá biển và các loại hải sản khác…
- Về Thủy lợi: Tài liệu ảnh về hoạt động của ngành Thuỷ lợi khá phong phú và có thời gian
tương đối sớm: những hình ảnh về lũ lụt năm 1914 ở Lạng Sơn, hình ảnh thi công đập sông Đáy, đập