ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN TRUNG
Vấn đề lập hồ sơ hiện hành và nộp lưu hồ sơ tài liệu và lưu
trữ cơ quan bộ- thực trạng và giải pháp LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Bảng các chữ viết tắt
3
A. PHẦN MỞ ĐẦU
4
Lý do chọn đề tài
4
Mục tiêu của đề tài
7
Đối tượng nghiên cứu
8
Phạm vi nghiên cứucủa đề tài
8
Nhiệm vụ nghiên cứu
8
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
9
Các nguồn tài liệu tham khảo
11
Phương pháp nghiên cứu
12
2.3. Công tác nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan tại các bộ hiện nay.
49
2. 4. Nhận xét chung.
54
Chƣơng 3. Giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác lập hồ sơ
và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan Bộ.
72
3.1. Nâng cao nhận thức cho lãnh đạo và các cán bộ, công chức,
viên chức về tầm quan trọng của công tác lập hồ sơ và nộp lưu hồ
sơ vào lưu trữ cơ quan bộ.
72
3.2. Hoàn thiện hệ thông văn bản quản lý nhà nước về công tácvăn thư
lưu trữ nói chung, công tác lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan
bộ nói riêng.
73
Mục lục Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005 2
3.3. Bổ sung nội dung thực hiện nghiêm các quy định của Nhà
nước về công tác lập hồ sơ hiện hành và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ
Chữ viết tắt
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
3
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH Chủ nghĩa xã hội
HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
HĐCP Hội đồng Chính phủ
HĐNN Hội đồng Nhà nước
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHXH&NV Khoa học Xã hội và Nhân văn
LĐ TB&XH Lao động Thương binh và Xã hội
TLLTQG Tài liệu lưu trữ quốc gia
TTLTQG Trung tâm lưu trữ quốc gia
TW Trung ương
UBTVQH Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa PHẦN MỞ ĐẦU
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005 4
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài.
Tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá vô cùng quý giá của quốc gia. Chính vì
5
đề này, Điều 8 của Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ Quốc gia ban hành ngày
11/12/1982 quy định: “Các cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân, trong qúa trình hoạt động, phải tổ chức công tác lập hồ sơ và lƣu trữ hồ
sơ trong cơ quan, đơn vị, đến hạn nộp lƣu thì phải nộp vào các cơ quan lƣu trữ
Nhà nƣớc theo qui định của Hội đồng Bộ trƣởng”. [53; 3]
Vấn đề lập hồ sơ công việc đến năm 2001 vẫn tiếp tục được khẳng định tại
Điều 11 Chương II Mục 1 của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia được công bố bởi lệnh số
03/2001/L/CTN ngày 15/4/2001 của Chủ tịch nước: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản và sử dụng tài liệu văn bản và sử
dụng tài liệu văn thƣ phải lập thành hồ sơ và bảo vệ an toàn ” [54 ; 3]
Mới đây, ngày 08/4/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2004/NĐ-
CP Về công tác Văn thư. Trong Nghị định này, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan,
Chánh Văn phòng, Trưởng phòng Hành chính, cán bộ văn thư, lưu trữ và của mỗi cá
nhân công chức, viên chức đối với công tác lập hồ sơ tài liệu vào lưu trữ hiện hành ở
các cơ quan, đơn vị đã được qui định rất cụ thể.
Tuy vậy, vì nhiều lý do mà nhiều năm qua, ở rất nhiều cơ quan Nhà nƣớc
từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, việc lập hồ sơ hiện hành và nộp lƣu hồ sơ vào lƣu
trữ cơ quan bộ không đƣợc thực hiện hoặc thực hiện chƣa tốt với những mức độ
khác nhau. Đây chính là nguyên nhân khiến rất nhiều tài liệu khi đến hạn nộp vào
lƣu trữ cơ quan bộ ( lưu trữ hiện hành) và lƣu trữ Quốc gia (lưu trữ lịch sử) còn ở
dạng bó gói, lộn xộn, chƣa hình thành hồ sơ. Đã hàng chục năm nay ngành lƣu
trữ đƣợc sự quan tâm của Chính phủ đã lập những đề án giải toả tài liệu tích đống,
bản thân các cơ quan bộ cũng đã ký rất nhiều hợp đồng chỉnh lý khoa học kỹ thuật
tài liệu lƣu trữ trong các phòng, kho lƣu trữ cơ quan bộ nhằm giải quyết các tài liệu
chƣa đƣợc lập hồ sơ trong kho lƣu trữ cơ quan. Tuy vậy tài liệu chƣa đƣợc lập hồ
sơ tồn đọng ngày càng nhiều, ngày một tăng lên với tốc độ cao hơn ở các lƣu trữ cơ
Phần mở đầu
số tài liệu tồn đọng không được lập hồ sơ tại các phòng lưu trữ đến năm 2003
chỉ ở 6 Bộ đã là 20.979 mét giá. Cùng với đà tăng trưởng kinh tế, cũng như việc
Phần mở đầu
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
7
tăng cường trang thiết bị sao, chụp văn bản tại các văn phòng cơ quan ở nước ta
như hiện nay, mức độ tăng hồ sơ tài liệu ở các cơ quan Bộ, ngành, tỉnh cũng sẽ
tăng với số lượng không nhỏ. Dù rằng, từ năm 2000 đến nay nhiều bộ, ngành,
tỉnh, thành phố trực thuộc TW đã chi hàng tỷ đồng cho công tác chỉnh lý tài liệu
- tức lập lại hồ sơ công việc nhưng chỉ làm giảm một phần lượng tài liệu tồn
đọng, tích đống ở các phòng, kho lưu trữ mà thôi. Riêng ở 2 Trung Tâm lưu trữ
Quốc gia II và III số tiền Nhà nước đã chi cho việc giải quyết tài liệu tích đống
chưa được lập hồ sơ do các bộ, ngành giao nộp từ năm 1998 đến nay cũng đã
gần 30 tỷ nhưng cũng chưa giải quyết hết số tài liệu tồn đọng. Như vậy, dù Nhà
nước có xây thêm bao nhiêu kho lưu trữ cũng không chứa đủ, chi thêm bao nhiêu
kinh phí để giải toả tài liệu không được lập hồ sơ cũng sẽ không bao giờ giải toả hết
tài liệu chưa được lập hồ sơ nếu công tác lập hồ sơ hiện hành không được các bộ,
ngành làm tốt. Một hậu quả khác cũng khá nghiêm trọng là: Do hồ sơ không
được lập nên nhiều trường hợp độc giả, nhất là các cấp lãnh đạo cơ quan cần đến
tài liệu, hồ sơ mà cán bộ lưu trữ cơ quan không thể tìm được đã làm cho uy tín
của lưu trữ cơ quan xuống thấp. Chính điều này đã trở thành nguyên nhân cơ
bản khiến cho xã hội và các nhà quản lý không quan tâm hoặc từ chối tạo điều
kiện giúp đỡ các phòng, kho Lưu trữ.
Thực tế tình hình ở các Bộ, ngành mà chúng tôi đã đi khảo sát trực tiếp và
các số liệu của các bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo về Cục
Đối tượng nghiên cứu để thực hiện mục tiêu của đề tài là tình hình lập hồ
sơ hiện hành, chất lượng của hồ sơ đã được lập và tình hình nộp lưu hồ sơ, tài
liệu vào lưu trữ cơ quan của các bộ. Còn đối tượng nghiên cứu khảo sát trực tiếp
là nhiều văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bộ quy định,
hướng dẫn những vấn đề liên quan đến lập hồ sơ, nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu
trữ cơ quan; hồ sơ tài liệu hình thành trong hoạt động của các bộ; các văn bản
quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; nhiều báo cáo phản ánh tình
hình công tác văn thư, lưu trữ ở các bộ.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Do hạn chế bởi khả năng nghiên cứu và điều kiện thời gian nên luận văn
chỉ dừng ở mức chỉ ra thực trạng công tác lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu
Phần mở đầu
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
9
vào lưu trữ cơ quan của các đơn vị thuộc cơ quan bộ và các nguyên nhân của
tình trạng tài liệu tồn đọng ở các cơ quan Bộ mà chƣa thể mở rộng phạm vi đến
các cơ quan, đơn vị trực thuộc bộ nhƣ các Tổng cục, Cục hay Tổng công ty,
các cơ quan sự nghiệp
Cũng do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ có điều kiện đến khảo sát sâu
tình hình thực tế ở 9 Bộ, đó là Bộ Công nghiệp, Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hoá Thông tin, Bộ Y tế. Đối với
các bộ khác chúng tôi nghiên cứu thông qua các báo cáo thống kê định kỳ, đột
xuất mà các bộ gửi về Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Lưu trữ Việt Nam.
Ở thập niên 60 của thế kỷ 20, trong khoảng mười năm liên tục, rất nhiều
bài viết của các tác giả Nguyễn Xuân Nung, Phạm Thân, Thiết Thạch đã đề
cập đến các vấn đề về nguyên tắc, phương pháp lập hồ sơ, kinh nghiệm lập hồ
sơ công việc ở nhiều cơ quan, vấn đề lập hồ sơ khi chỉnh lý sơ bộ tài liệu cũng
như vấn đề nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan ở các đơn vị. Ví dụ các bài: Cán
bộ lưu trữ có nhiệm vụ đi sát giúp đỡ bộ môn văn thư làm tốt công tác lập hồ sơ
hiện hành (Tài liệu nghiên cứu Công tác lưu trữ, số 3/1968), Bàn về phương
pháp lập hồ sơ (Tập san Công tác lưu trữ hồ sơ, số 2/1969), Bàn về công tác lập
danh mục hồ sơ (Tập san Lưu trữ hồ sơ, số 1/1970) của tác giả Nguyễn Xuân
Nung, Cán bộ làm công tác công văn giấy tờ phải tự tay mình lập hồ sơ công
việc mình giải quyết (Tập san Công tác Lưu trữ hồ sơ, số 3/1969) của tác giả Vũ
Dương Hoan, Mấy ý kiến trao đổi về việc giải quyết tình trạng để công văn tài
liệu linh tinh, lộn xộn trong từng cặp, từng bó (Tập san Lưu trữ hồ sơ, số
3/1972) của tác giả Đỗ Ngọc Phác. Rải rác ở hầu hết các số Tập san từ năm
1972 đến năm 1977 đều có bài viết về vấn đề lập hồ sơ công việc và nộp lưu hồ
sơ vào lưu trữ cơ quan ở hầu khắp các cơ quan, các ngành công nghiệp, nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi, nhiều nhất là ở các cơ quan hành chính cấp tỉnh.
Phần mở đầu
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
11
Nội dung các bài viết chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Mục đích, ý nghĩa
của công tác lập hồ sơ hiện hành, các nguyên tắc, yêu cầu về lập hồ sơ, phương
pháp lập hồ sơ, trách nhiệm lập hồ sơ của các cán bộ làm công tác công văn giấy
tờ của các cơ quan.
công tác lập hồ sơ, nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan mà thiếu các bài học thực
hành, các ví dụ sát với tình hình thực tế tại các cơ quan.
Đặc biệt, trong số các đề tài nghiên cứu khoa học ngành văn thư lưu trữ thực
hiện trong những năm qua chưa hề có một đề tài nghiên cứu khoa học nào về công
tác lập hồ sơ hiện hành và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan. Có thể nói, công tác
lập hồ sơ, nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan tại các bộ nói riêng, tại các cơ quan
Nhà nước nói chung đã không có được sự quan tâm đầy đủ.
Các nguồn tài liệu tham khảo:
Để viết luận văn, chúng tôi đã nghiên cứu, tham khảo các tài liệu sau:
+ Các Văn bản chủ yếu của Nhà nước về công tác văn thư - lưu trữ như:
Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ Quốc gia năm 1982 và Pháp lệnh Lưu trữ Quốc
gia năm 2001, Chỉ thị 762/TTg ngày 04 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng Chính
phủ Về tăng cường chỉ đạo công tác lưu trữ trong thời gian tới, Nghị định số
110/2004 ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư, Nghị định
số 111/2004 ngày 08/4/2004 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết thi hành một số
điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia và nhiều Nghị định, Thông tư, văn bản
hướng dẫn nghiệp vụ có liên quan khác.
+ Một số giáo trình như: Lý luận và thực tiễn Lưu trữ của Liên Xô, Lý luận
và phương pháp công tác văn thư của PGS Vương Đình Quyền do Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia ấn hành năm 2005, Giáo trình Nghiệp vụ công tác Văn thư của
trường Trung học văn thư Lưu trữ TW I và một số Giáo trình của các lớp Bồi
dưỡng ngắn hạn công tác văn thư lưu trữ do Cục Lưu trữ Nhà nước xuất bản.
+ Các Báo cáo tổng kết công tác văn thư lưu trữ vào dịp kỷ niệm các sự
kiện quan trọng của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, của các Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia; các báo cáo thống kê định kỳ và các báo cáo đột xuất của các bộ gửi về
Cục để phục vụ cho việc tổng kết, đánh giá các vấn đề nghiệp vụ.
Phần mở đầu
Phần mở đầu
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
14
Chƣơng 3. Các giải pháp giải quyết.
Cuối cùng là phần C. KẾT LUẬN.
Đóng góp của luận văn.
Nếu các kiến nghị của chúng tôi trong luận văn được các nhà quản lý ngành
Văn thư và lưu trữ quan tâm, cho áp dụng trong thực tế thì luận văn sẽ có những đóng
góp thiết thực sau:
- Kiến nghị một số giải pháp để Nhà nƣớc ban hành các văn bản chỉ đạo
chấn chỉnh công tác lập hồ sơ hiện hành và nộp lƣu hồ sơ vào lƣu trữ cơ quan
bộ.
- Góp phần giải quyết tình trạng không lập hồ sơ hiện hành và tình trạng
không giao nộp hoặc giao nộp các tài liệu chƣa đƣợc lập hồ sơ hoàn chỉnh vào các
lƣu trữ cơ quan bộ.
Chúng tôi hy vọng đề tài của chúng tôi sẽ góp phần giải quyết một vấn đề khó
đã tồn tại nhiều năm đối với ngành văn thư và lưu trữ nước ta.
Tuy nhiên do năng lực có hạn, luận văn của chúng tôi khó tránh khỏi thiếu sót,
khiếm khuyết trong cách giải quyết vấn đề, trong những giải pháp mà chúng tôi đề
xuất trong luận văn. Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã gặp không ít khó
khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, xin ý kiến chuyên gia và xử lý thông tin, bởi vì vấn
đề nghiên cứu rộng và khó. Những hạn chế này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất
lượng của đề tài. Chúng tôi mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các
đồng nghiệp và những ai quan tâm tới vấn đề này.
NỘI DUNG
NỘI DUNG
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
16
án khác theo sự phân công của Chính phủ. Ví dụ Bộ Nội vụ đã giúp Chính phủ
xây dựng dự án Pháp lệnh Công chức Viên chức để Chính phủ trình UBTVQH
và đã được UBTVQH Khoá X thông qua ngày26/02/1998; Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã xây dựng dự án luật Tài nguyên Nước để Chính phủ trình Quốc
hội Khoá XI.v.v…
Để giúp Chính phủ thực hiện chức năng quy hoạch, kế hoạch chiến lược
lĩnh vực chuyên môn của bộ, các bộ phải trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch
phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các công trình quan trọng
thuộc ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách. Đồng thời phải công khai hóa chiến lược,
quy hoạch phát triển, kế hoạch sau khi được phê duyệt; tổ chức chỉ đạo và
hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đó.
Về hợp tác quốc tế, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ phải trình
Chính phủ việc đàm phán, ký, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước,
nhân danh Chính phủ về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ; tổ chức thực
hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập thuộc ngành, lĩnh vực quản lý
nhà nước của bộ. Đồng thời các bộ còn được Chính phủ giao nhiệm vụ trình
Chính phủ việc ký kết, gia nhập, phê duyệt các điều ước quốc tế và chủ trương,
biện pháp, mở rộng quan hệ với nước ngoài, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc
tế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; chỉ đạo và tổ chức thực hiện các điều
ước quốc tế và thực hiện chủ trương biện pháp đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt; tham gia các tổ chức quốc tế theo sự phân công của Chính phủ.
Thuộc phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của mình, các bộ phải thực hiện hợp
tác quốc tế về ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật; cho phép các đơn vị
Đồng thời các bộ phải kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành
về ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách; phát hiện những quy định do các cơ quan đó
ban hành không đúng thẩm quyền hoặc trái các văn bản quy phạm pháp luật về
ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách và giúp Chính phủ giải quyết theo quy định tại
các khoản 3, 4, 5 Điều 13 của Nghị định.
Tham khảo các quy định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và thẩm
quyền của cấp bộ như chúng tôi vừa trình bày ở trên, chúng ta thấy cấp bộ có vai
trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước. Việc cấp bộ triển khai thực
hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước như thế nào sẽ có ảnh hưởng lớn
NỘI DUNG
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
18
đến sự tồn tại và phát triển của Quốc gia. Ví dụ như: Bộ Nội vụ là cơ quan của
Chính phủ, giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước công tác tổ
chức, công tác cán bộ; giúp chính phủ thực hiện công cuộc cải cách hành
chính.v.v …Chúng ta ai cũng biết rằng công tác tổ chức, cán bộ là cực kỳ quan
trọng và cần thiết đối với mỗi cơ quan, đơn vị. Bởi vì con người và bộ máy tổ
chức là hai điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với mỗi cơ quan, đơn vị, tổ
chức. Như vậy các hoạt động hàng ngày về công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan
Bộ Nội vụ sẽ có ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự tồn tại và phát triển của
mỗi cơ quan và qua đó sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của cả đất nước.
Chúng ta có thể hiểu thêm về tầm quan trọng của cấp bộ qua tham khảo
chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi
trường được thành lập theo Nghị định số 91/2002/NĐ - CP ngày 11/11/2002 của
Chính phủ [ 44; 1]. Theo Nghị định này, Bộ có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là:
cho ủy ban nhân dân địa phương và hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế, xã hội
thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ;
3. Quyết định và chỉ đạo thực hiện việc sửa đổi, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, hiện đại hóa hành chính trong phạm vi quản lý của bộ."
Do có vai trò quan trọng đặc biệt như vậy, cấp bộ có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ, có sự phân công, phân cấp quản lý rất rõ ràng, cụ thể cho các đơn vị chức
năng của bộ và các đơn vị trực thuộc bộ. Theo Nghị định số 86/2002/NĐ - CP
ngày 05/11/2002 của Chính phủ thì cơ cấu tổ chức của cấp bộ bao gồm:
* Các đơn vị tham mưu cho Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước. Ví dụ như: Tại các bộ, bộ nào cũng có các Vụ chức năng để tham mưu
cho Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực mà bộ
đó được giao phụ trách; bộ nào cũng có Văn phòng bộ để thực hiện hai chức
năng chính là tham mưu và giúp việc cho lãnh đạo bộ.
* Tham khảo chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của cấp bộ như chúng tôi
vừa trình bày ở trên chúng ta thấy cấp bộ không chỉ có các đơn vị chức năng của
bộ làm nhiệm vụ tham mưu cho Bộ trưởng trong việc thực thi quyền quản lý
Nhà nước, cấp bộ còn có thể có Cục, Tổng cục trực thuộc bộ có chức năng quản
lý nhà nước ngành, lĩnh vực. Đó chính là các cơ quan được giao nhiệm vụ quản
lý Nhà nước phạm vi ngành, lĩnh vực thuộc bộ. Ví dụ như: Tổng cục Thuế
NỘI DUNG
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
20
thuộc Bộ Tài chính có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý,
chỉ đạo và thực thi chính sách thuế trên phạm vi cả nước. Hoặc một ví dụ khác
như: Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thuộc Bộ Nội vụ có chức năng giúp Bộ
trưởng Bộ Nội vụ thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo công tác Văn thư, công
đa dạng và có nhiều giá trị cả trong công tác thực tế hiện hành và cả trong các
lưu trữ lịch sử.
1.1.2. Thành phần, nội dung tài liệu chủ yếu hình thành trong hoạt
động ở cấp bộ hiện nay.
Với chức năng, nhiệm vụ quan trọng như đã trình bày ở trên nên thành
phần, nội dung tài liệu hình thành ở các bộ là rất phong phú và có giá trị lưu trữ
cao. Về thành phần tài liệu ở các bộ thường bao gồm:
1) Luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, và các văn
bản chỉ đạo khác của các cơ quan cấp trên như Quốc hội, Chính phủ. Bao gồm:
- Luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định đề cập đến những
vấn đề đường lối, chính sách chung, chế độ thể lệ chung, nguyên tắc chung gửi
cho các bộ để sử dụng lâu dài hay nghiên cứu vận dụng giải quyết công việc cụ
thể hàng ngày. Ví dụ Nghị quyết số 730/ NQ- UBTVQH 11 ngày 30/9/2004 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 11 Về việc phê chuẩn bảng lương chức vụ,
bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước, bảng lương
chuyên môn, nghiệp vụ ngành toà án, kiểm sát; hoặc Nghị định số 204/2004/NĐ
- CP ngày 14/12/2004của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang
- Luật, pháp lệnh, nghị quyết, quyết định, chỉ thị và các văn bản chỉ đạo
khác về những vấn đề, sự việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của bộ. Ví dụ Bộ Nội
vụ có các văn bản như: Luật Tổ chức Chính phủ, Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia,
Nghị định số 86/ NĐ - CP ngày 05/11/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cấp bộ; Bộ Tài nguyên Môi trường có: Luật
đất đai, Pháp lệnh Tài nguyên nước
2) Các loại chỉ thị, thông tư, quyết định, báo cáo và các văn bản khác do
các bộ, ngành khác gửi đến như: Các quy định, quyết định, chỉ đạo, hướng dẫn
thi hành những vấn đề, sự việc thuộc chức năng quản lý nhà nước của bộ ngành
NỘI DUNG
thuộc Bộ. Về cơ bản nhóm này gồm có các loại tài liệu sau đây:
NỘI DUNG
Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Xuân Trung Tháng 10/2005
23
- Đề cương nghiên cứu chuyên đề.
- Các tài liệu điều tra, nghiên cứu thực tế.
- Các tài liệu tham khảo khác
- Biên bản các cuộc họp góp ý kiến xây dựng hoặc các bản tham luận góp
ý kiến bổ sung.
(7) Tài liệu về tổ chức cán bộ như: Đề án, kế hoạch, quyết định của bộ về
tổ chức bộ máy, các quyết định bổ nhiệm, điều động, thuyên chuyển , nâng bậc
lương, khen thưởng, kỷ luật cán bộ công chức, viên chức.
4) Văn bản của các cơ quan, đơn vị trực thuộc gồm:
(1) Chương trình, kế hoạch công tác tháng, quý, năm.
(2) Báo cáo phản ánh tình hình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ công tác.
(3) Tờ trình, công văn đề xuất, kiến nghị, trao đổi về xét duyệt và giải
quyết những vấn đề, sự việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của bộ chủ quản.
(4) Những văn bản phản ánh tình hình và kết quả thực hiện của các cơ
quan cấp dưới về vấn đề hay sự việc, đề xuất, kiến nghị, tờ trình, công văn trao
đổi giải quyết vấn đề hay sự việc của các cơ quan, đơn vị có liên quan tới chức
năng, nhiệm vụ của bộ.
5) Những văn bản do các cơ quan gửi đến đề nghị góp ý kiến xây dựng
các đề án, dự án luật, pháp lệnh chuyên ngành.
6) Báo cáo, tờ trình và các văn bản khác của các UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc TW và các sở, ban, ngành liên quan đến lĩnh vực quản lý của bộ. Ví
dụ như: Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố Hà Nội gửi báo cáo số 314/BC -