ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
KHOA VĂN HỌC
NGUYỄN THỊ THUẦN
ẢNH HƯỞNG
CỦA TAM QUỐC DIỄN NGHĨA
ĐỐI VỚI HOÀNG LÊ NHẤT THốNG CHÍ
Chuyên ngành: Lí thuyết và lịch sử văn học
Mã sô : 50401
LUẬN VÃN THẠC sĩ KHOA HỌC NGỮ VÃN
Người hướng dẩn khoa học
Giáo sư LÊ HUY TIÊU
HÀ NỘI
Tháng 11 năm 2004
1 tìA Ỉ KOC v ó c O IA HÁ MỘI 1
ị TSIỊNS TÍW v l's 'ị
I k S ị I i I s m ị
MỤC LỤC
MỚ ĐẦU
Chương 1. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIẺN nghĩa và
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
1. Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất
thống chí
2. Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống
chí trên phương diện nội dung tư tưởng
TIỂU KẾT
Chương 2. so SÁNH KẾT CẤU TAM QUỐC DlỄN nghĩa và hoàng
LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
1. Sự hình thành thể loại và vai trò của nó đối với kết cấu chương hồi
2. So sánh kết cấu Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí
TIỂU KẾT
nguyên bản nên bản dịch có muộn hơn so với các nước khác ở Châu Á. Từ bao
đời nay Tam quốc diễn nghĩa vẫn là bộ tiểu thuyết được nhiều tầng lớp người
Việt Nam ưa thích. Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì: "Người Việt Nam
không tìm ở đây những thủ đoạn chính trị, quân sự mà theo dõi nhân vật để cư
xử sao cho hợp với đạo nghĩa" (44). Tam quốc diễn nghĩa không những hấp
dẫn người đọc mà còn có vai trò quan trọng đối với văn nhân Việt Nam.
Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán là một hiện tượng độc đáo trong bối
cảnh những nền văn học chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, ở Việt
Nam, bên cạnh những truyện Nôm lấy đề tài từ những truyện kể Trung Quốc
đã xuất hiện những tác phẩm văn chương viết theo lối tiểu thuyết chương hồi
phản ánh những vấn đề lịch sử xã hội. Có thể kể đến Hoan Châu kí của
1
Ảnh hưởng cửa Tam quốc diễn nghĩa đôi vói Hoàng Lê nhất thông chí
7\)0wyên T k i x k u á t t
Nguyễn Cảnh Thị, Hoàng Việt long hưng chí của Ngô Giáp Đậu, Nam triều
công nghiệp diễn chí của Nguyễn Bảng Trung, Việt Lam xuân thu của Vũ
Xuân Mai nhưng Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm thành công nhất.
Đặc điểm chung của những tác phẩm này là vay mượn hình thức tiểu thuyết
chương hồi, học tập nghệ thuật miêu tả sự kiện, xây dựng nhân vật của Tam
quốc diễn nghĩa để phản ánh lịch sử Việt Nam. Hoàng Lê nhất tliống chí là
một tác phẩm văn xuôi lịch sử đương thời chịu ảnh hưởng sâu sắc bút pháp,
kết cấu và phong cách sử thi của
Tam quốc diễn nghĩa. Tuy nhiên các tác giả
Hoàng Lê nhất thông chí không chỉ chịu ảnh hướng của Tam quốc diễn nghĩa
mà còn dựa vào truyền thống vãn học dân tộc đặc biệt là thể kí đã được phát
triển ở Việt Nam từ thế kỉ XV.
ở Việt Nam đã có nhiều chuyên gia nghiên cứu về Tam quốc diễn nghĩa
và Hoàng Lê nhất thống chí nhưng việc nghiên cứu ảnh hưởng của Tam quốc
diễn nglũa đối với Hoàng Lê nhất thống chí chưa được giới nghiên cứu quan
tâm một cách toàn diện. Đê hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi muốn phân
Trung Quốc, tác giả đã cung cấp cho người đọc làm công tác nghiên cứu
những kiến thức bổ ích, đặc biệt là hiểu sâu văn hoá Trung Quốc trong thế đối
lập với văn hoá Việt Nam và văn hoá Châu Âu. Ngoài ra, trong những bài
nghiên cứu về văn học Việt Nam đăng trên Tạp chí Văn học như: Mấy vấn đề
ngliiên cứu những nền văn học Trung cổ cùa phương Đông theo phương pháp
loại hình (1974), Hoàng Lê nhất thống chí và truyền thống của tiểu thuyết
Viễn Đông (1984), B.L Riftin đã đặt nền móng cho việc nghiên cún ảnh hướng
của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lè nhất thống chí trên phương diện
thi pháp thể loại. Luận văn đã dẫn ra một số luận điểm của B.L Riftin trong
quá trình đánh giá, nhận xét sự ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với
Hoàng Lê nhất thống chí.
2.2 Tình hình nghiên cứu Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thông
chí ở Việt Nam
Tam quốc diễn nghĩa có ảnh hưởng sâu rộng đối với văn học Việt Nam.
Nó không chỉ tạo những cơn sốt "truyện Tàu" trong việc xuất bản và đọc mà còn
có ảnh hưởng sâu sắc trong giới sáng tác. Một loạt những tác phẩm văn xuôi lịch
sử đặt nền móng cho sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đều chịu ảnh hưởng
của Tam quốc diễn nghĩa. Không những thế, kết cấu chương hồi và cách xây
dựng hình tượng nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa còn đê lại nhiều dấu tích
3
/SỈguyêiA Xkị "Thuần
Ảnh hưởng của Tam cịuốc diễn nghĩa đôi với Hoàng Lê nhất thông chí
trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XX. Tuy Tam quốc diễn nghĩa đã đi sâu
vào lòng người đọc và giới sáng tác Việt Nam nhưng việc nghiên cứu Tam quốc
diễn nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với văn xuôi chù' Hán nói chung và thê loại
diễn nghĩa lịch sử nói riêng một cách chuyên sâu thì chưa có được bao nhiêu.
Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và tìm hiểu tiểu thuyết Minh Thanh, năm
1965 giáo sư Trần Xuân Đề viết sách Tiểu thuyết c ổ điển Trung Quốc (sau này
được bổ sung để thành sách v ề mấy bộ tiểu thuyết cổ điển của Trung Quốc)
gồm hai tập để phân tích nội dung, nghệ thuật và hình tượng nhân vật của năm
của "Hoàng Lê nhất thống chí", một tác phẩm văn xuôi cổ điển tiêu biểu
(1966) của tác giả Mai Quốc Liên và Kiều Thu Hoạch, bài nghiên cứu Tiểu
thuyết chữ Hán Việt Nam, nội dưng và nghệ thuật (1997) của Trần Nghĩa. Đó
là những bài viết có giá trị về nội dung phản ánh hiện thực và nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong Hoàng Lê nhất thống chí. Trong cuốn Văn học Việt Nam
(nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX) chương V Hoàng Lê nhất thống chí
(1976), giáo sư Nguyễn Lộc đã đề cao sự kết hợp tương đối hài hoà giữa chân
lí lịch sử với chân lí nghệ thuật, đồng thời nêu những vấn đề về thể loại của tác
phẩm. Ớ khía cạnh khác, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục quan tâm đến vấn đề
điển hình hoá trong Hoàng Lê nhất thống chí qua bài viết Tính cách điển hình
trong "Hoàng Lê nhất thống chí'\ 1968).
Về việc so sánh, phân tích và nghiên cứu ảnh hưởng của tiểu thuyết
Minh Thanh đối với văn xuôi chữ Hán cũng đã bước đầu được giới nghiên cứu
quan tâm. Theo giáo sư Phạm Tú Châu, người đầu tiên phát hiện và chỉ rõ ảnh
hưởng của tiểu thuyết Minh Thanh đối với tiểu thuyết Việt Nam là Hà Thiện
Hán (không rõ tiểu sử). Trong lời đề tựa cho tập Truyền kì mạn lục, ông đã chỉ
ra những mối liên hệ giữa Truyền kì mạn lục và Tiễn đăng tân thoại của Tông
Cát - một nhà nho đời Minh (41). Những phát hiện của Hà Thiện Hán sau này
được Lê Quí Đôn và Phan Huy Chú khẳng định. Đó là những bước tiến đầu
tiên đặt cơ sở cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của tiểu thuyết Minh Thanh đối
với văn xuôi chữ Hán Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Mặt khác, việc dịch và xuất bản những bộ tiểu thuyết nổi tiếng thời Minh
Thanh như: Tam quốc diễn nghĩa (1901), Nho lâm ngoại sử (1961), Hồng lâu
mộng (1963) đã tạo điều kiện để bạn đọc và giới nghiên cứu tiếp xúc với
những tinh hoa của tiểu thuyết Trung Quốc. Những bài nghiên cứu trên Tạp
chí Văn học, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc và Tạp chí Hán Nôm như: Ảnh
5
/\)0uyền Tkị Xhucm
Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa dôi vói Hoàng Lế nhất thông chí
hưởng của tiểu thuyết Trưng Quốc ở Việt Nam của giáo sư Phan Ngọc (1996),
Ảnh hưởng của Tam ơịUốc diễn nghĩa đôi với Hoàng Lê nh ấ t thống chí
/M guyên x h ị T k u ầ n
phương diện nội dung tư tướng, kết cấu và hệ thống hình tượng nhân vật. Tác
phẩm mà chúng tôi sử dụng để khảo sát là Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê
nhất thống chí.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu là tính tất yếu của một
công trình khoa học. Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp so sánh: để đối chiếu, nhận diện những điểm giống và
khác nhau về nội dung và nghệ thuật giữa Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lé
nhất thống chí.
- Phương pháp hệ thống: cung cấp những dữ liệu cơ sở tin cậy cho
những kết luận của luận văn và đảm bảo tính chính xác khoa học.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: để khẳng định ảnh hướng của Tam
quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí và sáng tạo của tác giả
Hoàng Lê nhất thống chí trên cơ sở truyền thống vãn hoá dân tộc.
5. Mục đích và ý nghĩa khoa học của đề tài
Đây là luận văn đầu tiên so sánh Tam quốc diễn Iiglũa với Hoàng Lê
nhất thống chí để tìm hiểu nhũng ảnh hướng nội dung và nghệ thuật cùng
những sáng tạo trên cơ sở truyền thống văn hoá dân tộc, từ đó khẳng định
những giá trị của Hoàng Lê nhất thống chí trong nền văn học dân tộc.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm các phần: Mở đầu, Nội dung (gồm ba chương) và Kết
luận. Cuối cùng là Thư mục sách tham khảo.
Phần nội dung chính được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê
nhất thống chí
Chương 2: So sánh kết cấu Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất
thống chí
Chương 3: So sánh nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê
Nhân đó, bọn quan liêu đại địa chủ thừa cơ thôn tính đất đai, ngày càng thoát ly
khỏi chính quyền trung ương, tổ chức những tập đoàn quân phiệt có vũ trang.
Lòng người xáo động, giặc cướp nổi lên như ong. Năm 184 khởi nghĩa nông
8
/\ )0 Uỵềv\ T k ị X k u c m
Ảnh hưởng của Tam quốc diấn nghĩa đồi với Hoàng Lê nhất thông chí
dân do ba anh em Trương Giác, Trương Lương, Trương Bửu lãnh đạo với khí
thế lừng lẫy chưa từng có cùng một lúc ở ba mươi sáu nơi với một lực lượng vô
cùng đông đảo. Với danh nghĩa "phù trì vương thất”, các tập đoàn địa chủ có vũ
trang ra sức đàn áp khởi nghĩa Hoàng Cân. Nghĩa quân Hoàng Cân thất bại
nhưng chính quyền Đông Hán cũng vì thế mà suy sụp hoàn toàn.
Năm 189, Đổng Trác kéo quân vào Lạc Dương rắp tâm thực hiện chí
lớn, tác oai, tác quái trong triều đình.
Năm 190, liên quân địa phương gồm 17 đạo do Viên Thiệu cầm đầu, tổ
chức tiến đánh Đổng Trác.
Năm 196, loạn Đổng Trác bị dập tắt nhung nền kinh tế bị phá hoại
nghiêm trọng, kinh đô Lạc Dương hoang phế, tiêu điều. Trong quá trình dẹp
loạn các tập đoàn không ngừng tăng cường vây cánh của mình. Trong đó
mạnh nhất phải kể đến Viên Thiệu, Viên Thuật và Tào Tháo.
Trong vòng 10 năm từ 197 đến 207, sau khi dẹp loạn kiêu binh Lí Thôi,
Quách Dĩ, Tào Tháo tập trung lực lượng tiêu diệt Viên Thuật, Viên Thiệu,
thống nhất cả một vùng đất đai rộng lớn, chấm dứt thế lực cát cứ của quan liêu
địa chủ, hình thành một cục diện mới. Cũng trong thời kì này, Tôn Quyền lợi
dụng tình thế củng cố địa vị của mình ở vùng Giang Đỏng.
Năm 208 Tào Tháo thực hiện chí lớn vượt Trường Giang tiêu diệt Tôn
Quyền. Kế hoạch của Tào Tháo thất bại vì liên quân Tôn, Lưu. Sau đại bại ở Xích
Bích, cục diện đã hoàn toàn đổi khác. Lưu Bị lĩnh chức Kinh Châu mục, chiếm
ích Châu rồi dần dần tiến vào Thành Đô. Thế chân vạc dần được hình thành.
Năm 219, Lưu Bị xưng vương ở Hán Trung, lên ngôi Hoàng đế, lập nên
Thục Hán. Năm 220, Tào Tháo chết, con là Tào Phi phế vua Hán lập ra nhà
Tống - Nguyên (960 - 1368).
Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là tố cáo sự tàn khốc của chiến tranh.
Mới chỉ có loạn Đổng Trác, "Dân Lạc Dương còn được vài trăm nóc nhà, cũng
không có gì để ăn, phải ra ngoài thành bóc vỏ cây, đào rễ cỏ mà ăn. Còn các
quan thì từ thượng thư lang trở xuống cũng phải ra thành hái rau. Có nhiều
người bị đè chết ở những chỗ tường đổ vách nát" (1, hồi 14). Trong cuộc nội
chiến các tập đoàn coi việc tranh quyền, đoạt lợi là phương tiện sống còn của
mình. Số phận của người dân thật mong manh, họ bị giết một cách tàn nhẫn
ngay trong lễ hội cầu may của mình. "Giữa mùa xuân dân Dương Thành đang
10
/\)guyễk\ T k Ị T k u ầ n
Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối vói Hoàng Lê nhất thông chí
tế lễ, Đổng Trác ra lệnh cho quân lính vây chặt lại, chém giết sạch, cướp đàn
bà, của cải chất đầy lên xe, treo hơn một nghìn cái đầu ở dưới xe rồi trở về
thành, phao tin là đã giết được giặc thắng lợi trở về, sau đó thắp lửa đốt đầu
người ở dưới cửa thành, đem đàn bà, của cải chia cho quân lính" (1, hổi 5).
Cuộc nội chiến liên miên giữa các tập đoàn phong kiến đã cuốn đại đa
số nhân dân vào guồng máy khủng khiếp của nó và tàn phá nền kinh tế đất
nước. Theo B.L.Riữin thì cư dân Trung Quốc lúc đó không đông, nhưng chiến
tranh đã làm cho số cư dân đó rút xuống một con số hết sức "khiêm tốn". "Nếu
như vào năm 157 của Công nguyên (đời Đông Hán) dân cư Trung Quốc là
năm mươi sáu triệu rưỡi thì vào những năm 221 - 240 trong cuộc chiến tranh
khốc liệt nhất con số này chỉ còn lại không đầy tám triệu." (6, tr 38).
Trong một xã hội loạn lạc như thế, người dân đã mất hết lòng tin vào
"thiên tử", họ tha thiết mong ước có một đấng minh quân thương dân, thi hành
chính nghĩa. Theo các học giả Trung Quốc, khi Tam quốc diễn nghĩa ra đời là
lúc tập đoàn Nữ Chân đang hoạt động ráo riết để lật đổ nhà Tống. Tư tướng "úng
Lưu, phản Tào" của nhân dân thời kì Tam quốc cũng phù hợp với ước nguyện
của nhân dân thời đại La Quán Trung "lòng người Trung Quốc hướng về nhà
Hán". Không phải ngẫu nhiên ở thời kì suy tàn của nhà Tống mọi người rất
niệm và nguyện vọng của nhân dân thời đại La Quán Trung.
Mặc dù lấy nguồn sử liệu trong Tam quốc chí nhưng tư tưởng của Tam
quốc diễn nghĩa đi ngược với quan điểm của Trần Thọ. Điều này có liên quan
đến thân thế và sự nghiệp của tác giả Tam quốc chí. Trần Thọ một mặt là quan
ngự sử dưới triều đại nhà Tấn, triều đại được thành lập từ nhà Nguỵ, mặt khác
Trần Thức, bố của Trần Thọ làm quan dưới triều Thục Hán đã bị Gia Cát
Lượng giết chết trong một lần không làm tròn trọng trách. Vì vậy, Trần Thọ
hết sức ca ngợi Tào Tháo và đề cao tính chính thống của nhà Nguỵ.
Thái độ đối với cuộc chiến tranh thời Tam quốc thay đổi trong những thời
kì khác nhau của lịch sử Trung Quốc. Vào thời Lục triều, khi vua nhà Tấn bị
đánh đuổi xuống phía Nam thì quan niệm đương thời đã khẳng định tính chính
thống của tập đoàn Thục Hán. Nửa đầu thời Bắc Tống là triều đại giành quyền
lực từ nhà Đường thì các sử gia đề cao Tào Tháo. Còn khi những đoàn người Nữ
Chân đánh chiếm miền Bắc, kinh đô chuyển xuống Hàng Châu (1127) thì các sử
gia và các nhà văn lại nói đến tính chính thống của nhà Thục. Tư Mã Quang (thế
12
Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối vói Hoàng Lê nhât thông chí
/slg u y ê n TTKi T k u ầ n
kỉ XI) bênh vực tính chính thống của nhà Nguỵ còn Chu Hy (1130) lại bênh vực
tính chính thống của nhà Thục. Như vậy mỗi thời đều đưa ra một cách giải quyết
của mình về vấn đề này và kết luận lại phụ thuộc vào tư tưởng của các nhà sử
học, nhà văn của thời đại ấy.
1.2 Nội dung tư tưởng của Hoàng Lé nhất thống chí
Hoànẹ Lê nhất thống chí là tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán trong
bộ "Ngô gia văn phái". Tác phẩm có 17 hồi, gồm 7 hồi chính biên và 10 hồi
tục biên. Xét về mặt qui mô thì
Hoàng Lê nhất thống chí không bằng Tam
quốc diễn Iiglũa nhưng tác phẩm đã dựng được một bức tranh rộng lớn, phức
tạp về xã hội Việt Nam từ năm 1767 đến năm 1802. Đây là thời gian khủng
hoảng, giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử đồng thời cũng là thời kì có nhiều
chí đã vẽ nên một cách hết sức sinh động cảnh dâu bể tang thương của xã hội
phong kiến Đàng Ngoài thời kì Lê-Trịnh. Những mâu thuẫn trong nội bộ các
tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh, cuộc nổi dậy của "kiêu binh", sức tấn công như
vũ bão của phong trào khởi nghĩa nông dân do Nguyễn Huệ lãnh đạo, sự thất
bại nhục nhã chưa từng thấy của quân xâm lược nhà Thanh và bè lũ bù nhìn Lê
Chiêu Thống đã giúp các tác giả nhìn thấy sự suy sụp không gì cứu vãn nổi
của triều đình nhà Lê nói riêng và chế độ phong kiến Việt Nam nói chưng.
Bên cạnh chủ đề chính viết về triều đình Lê-Trịnh, chủ đề về cuộc sống
của nhân dân cũng được đề cập đến trong Hoàng Lê nhất thống chí. Trăm cái
cơ cực đổ lên đầu người dân khi đất nước là một bãi chiến trường. Mỗi lần có
một toán lính kéo quân vào thành là dân chúng lại một phen tranh nhau chạy
trốn. Các tập đoàn trong quá trình đánh nhau cũng không quên thả lính ra vơ
vét tài sản của nhân dân. Những kẻ tiếm quyền mượn oai chúa như Đặng Mậu
Lân tác oai tác quái ở kinh thành, những kẻ có quyền thực như Hữu Chỉnh thả
quân vào làng Bái Hạ giết không sót một người nào, Vũ Văn Nhậm vào thành
cho quân lính lùng sục để lấy của ở khắp các nhà dàn Tiếng kêu khóc của
người dân vô tội vang lên đầy trời.
Trong toàn bộ nền văn xuôi Trung đại Việt Nam, chưa có một tác phẩm
nào có được qui mô sử thi như Hoàng Lê nhất thống chí. Chính thực tế xã hội
đầy phức tạp, mâu thuẫn, với những đảo lộn, những biến cố dồn dập đã cung
cấp những tài liệu quí giá để các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí dựng nên bức
tranh hiện thực và sinh động của thời đại. "Một tác phẩm đã phản ánh được lịch
14
/\]0 u y ếr\ T k ị T k u c m
Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa ảố\ vói Hoàng Lê nhât thông chí
sử với một độ chân xác như thế, với một cảm quan nhạy bén và sâu sắc như thế,
tác phẩm ấy chứng tỏ một sự vươn lên của nền văn học dân tộc" (28).
2. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIẺN NGHĨA Đối VỚI HOÀNG LÊ
NHẤT THỐNG CHÍ TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TƯ TƯỞNG
2.1 Vài nét về tác giả Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thông chí
Thi Nại Am. Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm lưu danh tên tuổi của La Quán
Trung cả về tính phổ biến cũng như giá trị nghệ thuật.
Tam quốc có nhiều dị bản. Bản Tam quốc sớm nhất của La Quán Trung được
xuất bản và còn luu giữ được đến ngày nay là vào năm 1522 (niên hiệu Gia Tĩnh đời
Minh) và có một bài tựa viết vào năm 1494. Bản này gồm 24 quyển, có 240 hồi với
tên gọi là Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa, về sau có đến 20 bản khác được in ra
có chút ít thay đổi nhưng nội dung vẫn không khác với bản in ban đầu. Đến đời
Thanh, cha con Mao Tôn Cương dựa vào bản in năm 1522 chinh lí lại các hồi mục,
thêm bớt sử liệu và thêm các lời bàn vào cuối mỗi hồi, dồn 240 hồi thành 120 hồi.
Đến Mao Tôn Cương, nghệ thuật của tác phẩm được nâng cao, tư tưởng chính thống
được nhấn mạnh và là văn bản được lưu truyền cho đến ngày nay.
2.1.2 Vê tác giả Hoàng Lê nhất thông chí
Hoàng Lê nhất thống chí (còn gọi là An Nam nhất thống chí) là một tác
phẩm có nhiều tác giả. Bản chính của tác phẩm không còn nên việc xác định ai
là tác giả của những hồi nào thì hiện nay vẫn còn là vấn đề đòi hỏi sự khảo sát
tỉ mỉ của nhiều nhà nghiên cứu. Phần lớn các tài liệu đều cho rằng Ngô Thì
Chí là người đã viết bảy hồi đầu gọi là phần chính biên. Mười hồi tiếp theo là
phần tục biên trong đó có bảy hồi là do Ngô Thì Du viết còn ba hồi viết có
tính chất chắp vá chưa xác định được chính xác tác giả.
Dưới thời Lê Chiêu Thống, Ngô Thì Chí làm đến chức Thiêm thư bình
chương tỉnh sự. Năm 1787, khi Vũ Văn Nhậm được Nguyễn Huệ sai ra Bắc diệt
Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngô Thì Chí cùng Trần Danh Án, Vũ Trinh chạy theo Lê
Chiêu Thống. Ông đã từng dâng lên Lê Chiêu Thống bản Trung hưng sách bàn
kế khôi phục lại nhà Lê. Kế sách của ông đã được Lê Chiêu Thống khen ngợi và
ông được cử đi Lạng Sơn liên lạc với Nguyễn Đình Túc qui tập những quan lại
lưu vong đang hoạt động ở Cao Bằng. Trên đường đi ông bị bệnh và mất vào
năm 1788. Ngoài phần sáng tác trong Hoảng Lê nhất thống chí, Ngô Thì Chí
còn có Học Phi thi tập và Học Phi văn tập trong Ngô gia văn phái.
16
Ảnh hưởng của Tam ơịyổc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thông chí
Ảnh hưởng của Tam ơịyốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí
N g u y ê n x k ị X k w ầ n
Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí đều là những tác phẩm
lấy đề tài từ lịch sử nên nhân vật trong tác phẩm đều là những nhân vật có thật
trong lịch sử. Đó là những con người được sinh ra để gánh vác sứ mệnh lịch sử.
Những Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu Bị, Gia Cát Lượng (1) chia ba thiên hạ,
mưu đồ bá vương lập giang san cho riêng dòng họ của mình; hay như Hữu Chỉnh
có thế lực lật nghiêng nước, Nguyễn Huệ đánh tan hai mươi vạn quân xâm lược
thống nhất đất nước, lập nên một triều đại mới (3) Những người có chí lớn của
chim bằng nhưng sinh ra trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, họ làm được
những việc "đội đá vá trời" nhưng đa phần đều có kết cục bi kịch. Hữu Chính, Vũ
Văn Nhậm phải chấp nhận cái chết bi thảm do chính tham vọng của bản thân, Lê
Chiêu Thống phải gửi nắm xương tàn ở xứ người, Nguyễn Huệ mất sớm trong khi
chính quyền còn chưa được củng cố vững chắc khiến sự nghiệp cả đời xây dựng
tiêu tán trong vòng hơn chục năm (3). Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi đều chết
trong những hoàn cảnh trớ trêu, Tào Tháo chết trong đau đớn, Khổng Minh chết
trong thất vọng không có cách nào xoay chuyển được tình thế (1) Quan Công
khi mất rồi hồn không chịu tiêu tan, cứ lang thang trong không trung la lớn: "Trả
đầu ta đây?". Phổ Tĩnh đã giải thích cho hồn Quan Công: "Xưa nay phải trái nhất
thiết không bàn; nhân trước quả sau, bao giờ vẫn thế. Nay tướng quân bị Lã
Mông làm hại, kêu lên rằng: "Đem trả đầu ta đây!" thế thì đầu Nhan Lương, Văn
Sú cùng những đầu sáu tướng ở năm cửa ải và bao nhiêu đầu nữa thì đòi vào
đâu?" (1, tập 2, hồi 77). Lời giải thích của Phổ Tĩnh đã chứng minh cho sự thật
tàn khốc của chiến tranh; chiến tranh, loạn lạc chính là sự huỷ diệt, nhân chiến
tranh thì ắt quả là bi kịch.
2.2.2. Thái độ đổi với lịch sử
Trong Tam quốc diễn nghĩa
Các dân tộc vói truyền thống văn hoá khác nhau nhưng trong những bộ sử thi
của họ đều có chung một tư tưởng, đó là cùng thấm nhuần một nhiệt tình ca ngợi
những người cai trị chính nghĩa và phủ nhận những bạo chúa. Tưởng Đại Khởi,
này kết thúc và tiếp theo lại bắt đầu một vòng khác.
Theo quan điểm của tác giả, cái mới là sự lặp lại một tinh trạng đã có từ xưa.
Sự khẳng định uy túi hiển nhiên của cái cổ xưa có thể nhìn thấy ngay trong tính từ
"cổ" trong ngôn ngữ Trung Quốc. Người Châu Âu coi những cái "cổ" là lỗi thòi,
lạc hậu; ngược lại, từ "cổ" trong ngôn ngữ Trung Quốc chỉ có ý nghĩa tích cực.
19
/slguyeKA ~ukị "Ukucm
Ảnh hưởng của Tam quốc diẫn nghĩa dôi với Hoàng Lề nhất thông chí
Khổng Tử xem thòi xưa là một lí tưởng không thể nào đạt tới, là "thế ki vàng của
nhân loại". Chính vì vậy "mục đích của loài người không phải ở sự vận động tiến
lên phía trước mà ở sự nắm bắt tốt nhất nhũng bài học của thế ki xa xưa, ở sự theo
đòi những mẫu mực hoàn hảo đã có" (18, tr 263). Người Trung Quốc cổ xưa
không cảm thấy các thế kỉ đã qua đứng sau lưng mình mà coi quãng thời gian ấy là
lí tưởng để người ở thòi hiện tại vươn tới. Đây là một đặc điểm quan trọng trong tư
tưởng của Trung Quốc cổ đại, sự cảm thụ thời gian như một chuỗi vòng tuần hoàn
khép kín này gắn liền vói đặc trưng của những tộc người gắn bó cuộc đời mình với
đất đai và cây lúa nước. Sự vận động của lịch
sử "không phải là lịch sử của sự kiện
mà là lịch sử của một sự xét xử nghiêm khắc đối với những sự kiện, một sự xét xử
xây dựng trên quan niệm cái thiện và cái ác" (6, tr 253).
Trong Hoàng Lê nhất thông chí
Lấy đề tài trong một giai đoạn lịch sử đau thương và hào hùng của dân
tộc, tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã phản ánh những vấn đề lớn của xã hội
có liên quan đến cả một thời đại và số phận hàng triệu người, đặc biệt tác
phẩm được viết ngay trong lòng của những sự kiện nên tính thời sự luôn được
nhiều ngành, nhiều giới quan tâm. Tuy nhiên đây không phải là một bản kí sự
lịch sử đơn thuần mà trong quá trình trình bày các sự kiện, tác giả bộc lộ một
cách rõ ràng thái độ đối với hiện thực phản ánh.
Lấy tinh thần đề cao sự thống nhất, trung hưng nhà Lê, nhưng ngòi bút
hiện thực của tác giả đã làm nổi bật tình cảnh suy sụp cả vật chất lẫn tinh thần
Trung. Là tác phẩm viết về lịch sử đương thời nên thái độ đánh giá của tác giả
Hoàng Lê nhất thống chí ít nhiều phải phù hợp với chính quyền đương thời,
những lực lượng có quyền quyết định sự lưu hành của tác phẩm. Có thể nói thái
độ của tác giả trong Hoàng Lê nhất thống chí là một thái độ tôn trọng khách
quan, tác giả đã chịu sự chi phối mạnh mẽ của tinh thần khoa học, dân tộc và
bút pháp hiện thực. Việc phản ánh những sự kiện lịch sử trung thực được gắn
liền với những yếu tố hư cấu, nghệ thuật đã làm nên giá trị của tác phẩm.
2.2.3 Tư tưởng mệnh trời
Trong Tam quốc diễn nghĩa
Thôi Châu Bình nói với Lưu Bị: "Tướng quân muốn khiến Khổng Minh
chuyển xoay trời đất, chắp vá càn khôn, tôi e khó lắm, chỉ uổng hơi sức mà thôi.
Ảnh hưởng cửa Tam quốc diễn nghĩa dôi với Hoàng Lê nhất thông chí
21
Ảnh hưởng của Tam cịuôc diễn nghĩa đôi vói Hoàng Lê nhất thông chí
/\Jgu yên x k ị X k u ầ n
Tướng quân chẳng nghe người ta nói: "Thuận trời thì an nhàn, trái trời thì vất vả",
"số đã định, lí không chống lại được; mệnh đã định, người không cưỡng lại
được" hay sao?" (1, hồi 37).
Đọc Tam quốc diễn nghĩa, sự hưng vong của những triều đại, những biến
cố trần gian, sự thành bại của mỗi con người đều có sự quyết định của trời. Tác
phẩm có sự hiện diện vô hình nhưng rất rõ ràng bởi một quyền năng tuyệt đối
đó là mệnh trời. Muốn thành công, con người chỉ có cách duy nhất là hành động
theo ý muốn của trời. Chính vì vậy đoán được điềm trời, hiểu được mệnh trời là
một phẩm chất không thể thiếu được của người quân tử. Khổng Tử nói: "kẻ nào
chưa hiểu được mệnh trời thì chưa có thể xem là một người quân tử". Mệnh trời
được thông qua rất nhiều những biểu hiện kì lạ của tự nhiên như một ngọn gió,
một tiếng hạc kêu, những giấc mơ, những ngôi sao sa, những bài hát đồng dao
của trẻ con không ai biết từ đâu tới Tư tướng mệnh trời là một yếu tố chi phối
mạnh mẽ tư tưởng nghệ thuật của tác giả, nó quyết định việc sắp xếp tổ chức sự
kiện trong tác phẩm theo một dòng mạch thống nhất.
Có trời nhưng cũng có con người. Con người làm hết sức mình nhưng kết quả
lại do trời. Đại cuộc đời thì do trời nhưng tiểu cuộc đời thì do con người, con
người phải vận động mà không được trông chờ vào số mệnh. Lưu Bị là dòng
dõi nhà Hán. Ông là người được thừa nhận là có thể kế nghiệp nhà Hán nhưng
sự nghiệp mà ông gây dựng là do chính hai bàn tay ông chứ không phải là sự
trông chờ của số mệnh. Khổng Minh ở Long Trung đã có quyết sách chia ba
thiên hạ, nhưng trong quá trình giúp Lưu Bị dựng cơ đồ, Khổng Minh đã có
những cố gắng không mệt mỏi mưu đồ thống nhất đất nước. Sáu lần xuất quân
ra Kì Sơn đã chứng minh rõ điều đó. Lần xuất quân thứ 6, ông hiểu đây là lần
ra đi cuối cùng. Hiểu được vận mệnh của mình, Khổng Minh làm đàn tế xin
trời cho gia tăng tuổi thọ, nhưng không được. Khổng Minh là người hiểu rõ
lòng trời, nhưng vẫn cố gắng vươn lên với tất cả trí tuệ và lòng trung thành của
mình. Lời than trước giờ phút lâm chung: "trời xanh thăm thẳm, giận này biết
bao giờ nguôi!" (1, tập 3, hồi 104) thể hiện sự nuối tiếc, tuyệt vọng của con
người trước mệnh trời.
Trong Hoàng Lê nhất thống chí
Hoàng Lê nhất thống chí viết về lịch sử đương thời nhưng trong tác phẩm
có sự hiện diện của mệnh trời và biểu hiện của trời cũng được thông qua nhũng
23