ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ KIM NHẠN
DU KÍ, MỘT BỘ PHẬN ĐỘC ĐÁO TRONG
SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ VĂN PHẠM QUỲNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội, 5/2013
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Nhiệm vụ của đề tài 8
4. Phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Bố cục luận văn: 10
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẠM QUỲNH VÀ SÁNG TÁC DU KÍ TRONG
BỐI CẢNH VĂN CHƢƠNG QUỐC NGỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX 11
1.1. Vài nét cuộc đời, sự nghiệp Phạm Quỳnh 11
1.1.1. Cuộc đời Phạm Quỳnh 11
1.1.2. Văn nghiệp Phạm Quỳnh 13
1.1.2.1. Dịch thuật 13
1.1.2.2. Khảo cứu, phê bình 14
1.1.2.3. Sáng tác du kí 17
1.2. Du kí trong bối cảnh văn chƣơng quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỉ XX 19
1.2.1. Tiền đề lí thuyết về du kí 19
1.2.1.1. Du kí ở giữa những giao thoa 19
1.2.1.2. Du kí, diễn ngôn về không gian 21
1.2.2. Khái lược du kí quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỉ XX 25
1.2.2.1. Các tiền đề văn hóa - xã hội 25
1.2.2.2. Du kí quốc ngữ đầu thế kỉ XX 28
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG TƢ TƢỞNG TRONG DIỄN NGÔN DU KÍ PHẠM QUỲNH 31
2.1. Nhãn quan văn hóa, chính trị của Phạm Quỳnh qua du kí 31
2.1.1. Cái nhìn văn hóa qua các không gian Việt 31
2.1.1.1. Cảnh quan đô thị 31
2.1.1.2. Cảnh quan nông thôn, miền núi 36
2.1.2. Cái nhìn chính trị về không gian thế giới 41
2.1.2.1. Cảnh quan thuộc địa 42
2.1.2.2. Cảnh quan chính quốc 50
Ba mươi năm đầu thế kỉ XX đánh dấu sự vận động hình thành thể loại văn
học mới, lấy các tiêu thức của văn học phương Tây làm hệ quy chiếu; trong sự biến
chuyển mấy mươi năm ấy, văn học Việt Nam đã phải trải qua những bước đệm mà
theo đó, những dấu hiệu mới mẻ dần xuất lộ, nhờ được công chúng mới ủng hộ và
chấp nhận, chúng dần được nhân rộng, từng bước chiếm lĩnh, đưa nền văn học tiến
vào kỉ nguyên hiện đại. Trong giai đoạn bước chuyển ấy, du kí - một thể tài đã có
thời kì phát triển nở rộ trên báo chí suốt những năm 1920 cho đến đầu những năm
1930, trở thành một hiện tượng độc đáo của lịch sử văn học. Sự nở rộ của du kí diễn
ra trong bối cảnh tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, một mặt đánh dấu sự thay đổi trong
tư duy và tập quán sinh hoạt của người Việt, mặt khác ghi dấu những cách tân trong
nghệ thuật tự sự, là bước chuẩn bị cho công cuộc hiện đại hóa văn học. Tuy thế, du
kí do chiếm vị thế nhỏ trong tiến trình văn học, nên cho đến nay, thể loại này vẫn
chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Chính điều đó đã thôi thúc chúng tôi
tiến hành tìm hiểu, nhìn nhận du kí một cách nghiêm túc để từ đó thấy quá trình
hiện đại hóa của văn học dân tộc.
Sự ra đời và phát triển của du kí quốc ngữ gắn liền với báo chí, trong đó nổi
lên vai trò của Nam phong tạp chí như một bệ đỡ quan trọng nhất của đời sống văn
học ba mươi năm đầu thế kỉ XX. Cũng trên tờ báo này, du kí viết bằng tiếng Việt đã
tạo được một bước trưởng thành cả về chất và lượng so với thời kì đầu tiên vào cuối
thế kỉ XIX, đánh dấu bằng các tác phẩm của Trương Vĩnh Kí, Trương Minh Kí,
đăng trên Gia định báo. Tìm hiểu du kí trên Nam phong tạp chí sẽ cho thấy bước
tiến của văn xuôi viết bằng quốc ngữ, sự trưởng thành của tư duy nghệ thuật trước
thềm hiện đại hóa văn học dân tộc.
Sự bùng nổ của du kí trên Nam phong trong suốt thập kỉ 1920 không thể
không kể đến công lao khởi xướng, góp sức của chủ bút Phạm Quỳnh. Với 7 tác
phẩm du kí, ông đã tạo cho mình một lối văn du kí độc đáo, sâu sắc, có giá trị nhiều
mặt. Chính bởi vậy, việc tìm hiểu du kí Phạm Quỳnh sẽ hứa hẹn khám phá được
những đặc sắc trong tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật mà ông thể hiện, không
Từ hai ông trình mang tính văn học sử nhắc đến du kí Phạm Quỳnh trên, có
thể thấy trong suốt một thời gian dài, tính từ thời điểm những tác phẩm du kí của
Phạm Quỳnh ra đời đến đầu thế kỉ XXI, du kí nhận được không nhiều sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu, phê bình. Mảng sáng tác này cũng không được bàn riêng
trong một công trình mà chỉ được nhắc đến khi tác giả công trình tổng kết sự nghiệp
của ông chủ báo Nam phong, dưới dạng điểm qua tác phẩm chính cùng đôi lời bình
luận, cảm tưởng của nhà nghiên cứu về bộ phận trước tác ấy. Trong phần lớn các
công trình văn học sử của thế kỉ XX khác như Phê bình và cảo luận (Thiếu Sơn),
Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Văn học Việt Nam giai đoạn giao
thời 1900-1930 (Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng), du kí của Phạm Quỳnh không
được đề cập.
Tựu chung lại, tư cách người sáng tác du kí ở Phạm Quỳnh ít được các nhà
nghiên cứu chú ý đến; trong khi đó tư cách nhà viết tiểu luận, người chủ bút, vai trò
kiến thiết, kiến tạo nền văn hóa, văn học mới vốn là những phương diện nổi trội
trong sự nghiệp của tác giả được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm làm rõ. Tồn tại thực
trạng này, theo chúng tôi, có hai nguyên nhân: (1) Du kí là thể loại giao thoa giữa
báo chí và văn chương, ở chỗ du kí vừa có tính phi hư cấu (một đặc điểm quan
trọng của báo chí) lại vừa được tổ chức, thể hiện một cách nghệ thuật (trong hành
văn, kết cấu, ngôn ngữ,…) Chính sự giao thoa thể loại này đã khiến du kí ít được
chú ý so với các thể loại thuần túy khác. (2) Du kí khá tự do trong kết cấu, phát huy
được cái tôi phóng túng của người viết, nhưng vì du kí gắn với các chuyến đi, bởi
vậy trong cách hình dung của giới nghiên cứu lâu nay, nó được/bị ngầm hiểu là lối
“văn chơi”, không phải nơi thể hiện tập trung và cô đọng nhất những kết tinh tư
tưởng hay tài năng nghệ thuật của người viết so với các thể loại khác như: tiểu
thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, tiểu luận, bút kí Thực tế nghiên cứu, phê bình nước
ta cho thấy, việc tìm hiểu, đánh giá một tác gia, nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn, giới
nghiên cứu thường chú tâm đến những bộ phận lớn trong sự nghiệp của họ, coi đó
là nơi thể hiện tập trung nhất những đóng góp của nhân vật/ tác giả đó. Đối với
trường hợp Phạm Quỳnh, người có những đóng góp đa dạng, ông không chỉ dùng
Hữu Sơn sưu tầm, ba tập, tổng 1918 trang sách, khổ 14x20 cm, Nxb. Trẻ, 2007),
cuốn sách tuyển chọn toàn bộ du kí đăng trên Nam phong tạp chí, trong đó có đầy
đủ các sáng tác du kí của Phạm Quỳnh; và gần đây nhất là cuốn: Phạm Quỳnh - Tuyển tập du kí (Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, Nxb. Tri thức - Công ty văn hóa
Phương Nam, 2013) công bố trọn vẹn du kí Phạm Quỳnh. Những động thái này đã
khơi nguồn, rộng đường cho những nghiên cứu bước đầu về thể tài du kí của ông
chủ báo Nam phong trong vòng hơn chục năm nay.
Phê bình về du kí Phạm Quỳnh, Nguyễn Huệ Chi khi soạn mục từ Phạm
Quỳnh trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới) (Đỗ Đức Hiểu chủ biên), đã đề cập vắn
tắt nhưng cũng khái quát được một nét đặc sắc không chỉ của du kí Phạm Quỳnh:
“Ngay cả những thiên du kí, phần tra soát, luận lí vẫn nhiều hơn những trang nói lên
tâm trạng và cảm xúc của mình, nên giá trị sưu khảo trong đó rất lớn (chẳng hạn bài
viết về lễ tế giao) nhưng đây đó vẫn có những nhận xét tinh tế, dí dỏm” [20, tr.
1364]. Sau hàng loạt tác phẩm du kí của Phạm Quỳnh được công bố trở lại, trên
nhiều tờ báo lớn, thể tài du kí (trong đó có du kí Phạm Quỳnh) được luận bàn: Đọc
sách để đi chơi (Tuổi trẻ, số ra ngày 23/3/2007) của Ngân Xuyên, Du kí trên tạp chí
Nam phong (Người đại biểu nhân dân, số 91, ngày 1/4/2007) của Phong Lê, Du kí
như một thể tài (Thể thao và văn hóa, số 50, ngày 27/04/2007) của Linh Lê, Viết
của sự đi (Doanh nghiệp, số ra ngày 13/5/2007) của Trung Sơn,… Trong khuôn khổ
của báo chí, tác giả các bài viết trên đây đều nhắc đến Phạm Quỳnh như một người
mở đầu cho thể văn du kí trên báo Nam phong, chỉ ra được một nét hấp dẫn nào đó
của du kí Phạm Quỳnh, đặc biệt là giá trị nhiều mặt như lịch sử, văn hóa, xã hội
học, phong tục tập quán,… được thể hiện trong mỗi ghi chép của ông.
Người giới thiệu một cách hệ thống về du kí phải kể đến là Nguyễn Hữu
Sơn, tác giả của các công trình sưu tập đầy đủ du kí trên Nam phong, trong đó có du
kí Phạm Quỳnh. Ông đi từ lịch sử thể tài du kí chữ Hán: Thể tài văn xuôi du kí chữ
Hán thế kỉ XVIII-XIX và những đường biên thể loại, đến những nhận định khái quát
về: Thể tài du kí trên Nam phong tạp chí (1917-1934) (Nghiên cứu văn học, số
6 trên tổng số 7 tác phẩm du kí Phạm Quỳnh, tác giả đã khái quát những nét tiêu
biểu trong cuộc đời, sự nghiệp Phạm Quỳnh, chỉ ra đặc điểm thể tài du kí từ truyền
thống chữ Hán đến định lượng thể tài du kí trên Nam phong tạp chí. Tiếp đó, bằng
cái nhìn tổng quan, tác giả công trình đã khái quát, cho người đọc hình dung tổng
thể các vấn đề nội dung, nghệ thuật của du kí Phạm Quỳnh, cụ thể: Tác giả khái
lược lại hiện thực và lịch sử được thể hiện các tác phẩm du kí, nhấn mạnh phong
cảnh, danh thắng, phong tục tập quán, con người (vua chúa, quan lại, danh sĩ, và bản thân con người nhà văn) và quan hệ Đông - Tây; Về nghệ thuật viết du kí của
Phạm Quỳnh, tác giả đã chỉ ra những đặc sắc trong phương thức tự sự, nghệ thuật
khắc họa con người, cảnh vật, kết cấu tác phẩm và cuối cùng là ngôn ngữ du kí.
Trần Thị Ái Nhi tỏ ra rất chú trọng đến khảo sát ngôn ngữ khi lập bảng thống kê
ngữ liệu cổ, ngữ liệu Hán-Việt, nhìn thấy ngôn ngữ du kí Phạm Quỳnh chịu ảnh
hưởng của Truyện Kiều và ca dao, khẳng định ông chủ báo Nam phong là người “có
ý thức kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa Đông và Tây trong việc sử dụng
từ ngữ để xây dựng câu văn.” [48, tr. 74] Công trình Nhãn quan văn hóa của Phạm
Quỳnh, qua du ký của Đặng Hoàng Oanh lại đi sâu tìm hiểu con người văn hóa của
Phạm Quỳnh. Từ việc chỉ ra những mặt khác nhau trong con người nhà văn: “người
dung hòa những đối cực: cũ và mới, truyền thống và hiện đại, bảo thủ và cách tân”,
tác giả soi chiếu vào tác phẩm, chỉ ra rằng: du kí Phạm Quỳnh vừa thể hiện tư tưởng
tồn cổ (thể hiện qua Mười ngày ở Huế, Trẩy chùa Hương), vừa thể hiện khao khát
vươn ra thế giới văn minh (Pháp du hành trình nhật kí, Thuật chuyện du lịch ở
Paris) của học giả Phạm Quỳnh.
Với phạm vi đề tài khác nhau, ở một mức độ nhất định, hai công trình đều
khái quát được những giá trị của du kí Phạm Quỳnh. Trong khi Trần Thị Ái Nhi
nhấn mạnh hơn đến ngôn ngữ thì Đặng Hoàng Oanh quan tâm đến khía cạnh văn
hóa. Cả hai công trình đều có tính chỉ dẫn trong nghiên cứu du kí Phạm Quỳnh.
Nhìn lại tổng thể lịch sử nghiên cứu trên đây, có thể nói tất cả các công trình
đều phần nào chỉ ra những nét đặc sắc trong du kí Phạm Quỳnh, gợi ra nhân cách,
du kí của Phạm Quỳnh. Chúng tôi cũng có ý thức đặt bộ phận du kí trong tổng thể
trước tác của ông để thấy tính liên đới trong các vấn đề tư tưởng, cũng như, tìm ra
sự khác biệt trong nghệ thuật thể hiện tư tưởng đó giữa du kí và các bộ phận khác,
đặc biệt là với tiểu luận, nơi thể hiện rất đậm nét tư tưởng Phạm Quỳnh.
Tìm hiểu du kí Phạm Quỳnh, chúng tôi cũng đặt những sáng tác du kí của
ông trong lịch sử thể tài, từ truyền thống kí sự chữ Hán đến du kí quốc ngữ ba mươi
năm đầu thế kỉ XX để thấy dấu vết của truyền thống cũng như những tiên báo trong
nghệ thuật tự sự in dấu nơi những trang du kí Phạm Quỳnh, từ đó thấy được những
đóng góp của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn chương. Việc đặt du kí trong bối
cảnh nở rộ của thể tài du kí ba mươi năm đầu thế kỉ XX cũng cho phép chúng tôi
nhận ra phong cách riêng biệt và dấu ấn cá nhân của Phạm Quỳnh so với các cây bút du kí cùng thời khác như: Phạm Vân Anh, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Trọng
Thuật,… và sau này, là Nguyễn Tuân, Nhất Linh,…
Chúng tôi cũng đặc biệt coi trọng việc đặt du kí Phạm Quỳnh trong một bối
cảnh rộng hơn phạm vi nước Nam và văn chương du kí nước ta đầu thế kỉ XX, đó là
cuộc giao lưu tiếp xúc Đông – Tây và cụ thể hơn, là bối cảnh của những cuộc phát
kiến địa lí, du lịch, thăm dò, thám hiểm, thể hiện qua những ghi chép du kí, trong đó
có nhiều ghi chép của người phương Tây về Việt Nam để thấy cái nhìn, quan điểm
khác nhau xuất phát từ những khu vực địa-chính trị khác nhau. Theo đó, chúng tôi
nhìn ra tính đối thoại trong du kí của nhà văn hóa-chính trị Phạm Quỳnh, người
đóng vai trò không nhỏ trong việc thiết lập mối quan hệ giữa việt Nam và thế giới
những năm đầu thế kỉ XX.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu
nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Ngoài phương pháp tiểu sử và các thao tác cơ bản như
phân tích tác phẩm, thống kê, tổng hợp,… chúng tôi nhấn mạnh một số phương
pháp sau:
Trước hết, xuất phát từ chỗ du kí thể hiện kiến thức rất uyên thâm của Phạm
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẠM QUỲNH VÀ SÁNG TÁC DU KÍ
TRONG BỐI CẢNH VĂN CHƢƠNG QUỐC NGỮ VIỆT NAM
ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1. Vài nét cuộc đời, sự nghiệp Phạm Quỳnh
1.1.1. Cuộc đời Phạm Quỳnh
Phạm Quỳnh (bút hiệu Thượng Chi, bút danh: Hồng Nhân, Hoa Đường) sinh
năm 1893 tại số 17, Hàng Trống, Hà Nội nhưng quê nội ở làng Lương Ngọc (nay
thuộc xã Phúc Kháng), phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương - vùng đất có truyền thống
khoa bảng, hiếu học. Xuất thân trong một gia đình có căn cốt Nho học, Phạm
Quỳnh được thừa hưởng trí thông minh, sự cần mẫn và thái độ tôn kính đối với việc
học. Nhưng vì sớm chịu cảnh mồ côi: 9 tháng tuổi mồ côi mẹ, 9 tuổi mồ côi cha,
cậu bé Phạm Quỳnh được bà nội yêu thương, chăm sóc, nuôi ăn học từ nhỏ. Là
người sớm bộc lộ thiên tư, Phạm Quỳnh học rất giỏi, đỗ đầu bằng Thành chung
trường trung học Bảo hộ (hay còn gọi là trường Bưởi, hoặc trường Thông ngôn) khi
mới 15 tuổi.
Năm 1098, ngay sau khi tốt nghiệp, Phạm Quỳnh làm việc tại trường Viễn
Đông Bác Cổ (Escole Française d‟Extrême-Orient, viết tắt EFEO), một trung tâm
nghiên cứu văn hóa Đông phương của Pháp tại Việt Nam. Thời gian này, ông tích
cực học Hán văn, trau dồi Pháp văn, đọc và nghiên cứu nhiều về văn hóa, lịch sử
Đông phương, nhất là Trung Quốc và Việt Nam. Quá trình đó đã hình thành nên ở
ông một tri thức nền phong phú, sâu sắc. Sự cộng tác thường xuyên với các học giả
Pháp còn giúp ông làm chủ được các phương pháp luận nghiên cứu của phương
Tây. Những điều này đã làm nên con người học giả ở Phạm Quỳnh, chi phối đến
cách tư duy, lối viết của ông về sau. Từ 1916, ông tham gia cộng tác cho một số tờ
báo uy tín đương thời, trong đó quan trọng nhất là hoạt động dịch thuật trên Đông
Bắc kì.
Từ năm 1930, Phạm Quỳnh chủ trương chủ nghĩa quốc gia: kêu gọi thiết lập
chế độ Lập hiến, đòi thực dân Pháp thành lập hiến pháp, quy định rõ các giới hạn
quyền lợi của triều đình, chính phủ bảo hộ, của nhân dân. Ngày 11/11/1932, ngay
sau khi Bảo Đại lên ngôi thay vua Khải Định, Phạm Quỳnh được triệu vào Huế, làm
việc tại Ngự tiền văn phòng; sau đó đảm nhiệm chức Thượng thư bộ Học, rồi Thượng thư bộ Lại. Trong thời gian này, ông có nhiều kiến nghị đối với phía chính
quyền bảo hộ.
Sau đảo chính Pháp 9/3/1945, Phạm Quỳnh lui về ở ẩn tại biệt thự Hoa
Đường bên bờ sông An Cựu; trở lại với việc viết lách, dịch thơ Đỗ Phủ (được 51
bài). Ngày 23/8/1945, ông bị lực lượng cách mạng Việt minh tại Huế bắt và sau ít
ngày thì bị giết, bỏ lại những dự định văn chương dang dở, khi đó cuốn sách ông đề
tên là Hoa Đường tùy bút - Kiến văn, cảm tưởng I chưa hoàn thành.
1.1.2. Văn nghiệp Phạm Quỳnh
Phạm Quỳnh là cây bút rất đa dạng và phong phú. Trong suốt chặng đường
cầm bút của mình (theo chúng tôi là ba chặng: khi cộng tác cho Đông Dương tạp
chí, khi chủ bút Nam phong và những ngày cuối đời), ông đã để lại hàng trăm công
trình khác nhau ở nhiều lĩnh vực: triết học, tôn giáo, chính trị, tư tưởng, văn
chương. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi điểm qua những công trình liên
quan đến văn chương.
1.1.2.1. Dịch thuật
Những thập niên đầu thế kỉ XX đánh dấu phong trào dịch thuật rầm rộ trên
báo chí quốc ngữ. Sự đứt gãy của ý thức hệ truyền thống, sự lựa chọn quốc ngữ làm
nguôn ngữ chính thức cho đồng bào đã kéo theo cuộc khủng hoảng trong đời sống
văn chương. Lực lượng nhà nho sáng tác bằng chữ Hán theo các lối, thể của mô
hình văn chương trung đại không còn đủ sức hấp dẫn đối với công chúng thành thị,
những người sống bứt khỏi môi trường và quan niệm truyền thống; trong khi đó, lực
lượng sáng tác mới chưa hình thành hoặc xuất hiện quá thưa thớt. Chính lúc này,
đồng cảm của ông đối với bậc tiền nhân, cũng là cách kín đáo thể hiện nỗi lòng của
một người cầm bút luôn cô đơn trước thế cuộc xoay vần.
1.1.2.2. Khảo cứu, phê bình
Với lòng ngưỡng mộ văn chương Pháp, Phạm Quỳnh có một loạt công trình
biên khảo, nghiên cứu về văn học Pháp: Văn học nước Pháp (Nam phong tùng thư
1929), Pháp văn thi thoại: Baudelaure tiên sinh (Nam phong số 6, tháng 12/ 1917),
Một nhà danh sĩ nước Pháp: ông Pierre Loti (Nam phong số 72, tháng 6/ 1929),
Một nhà văn hào nước Pháp: ông Anatole France (Nam phong số 161, tháng
4/1931). Những bài biên khảo trên chẳng những có tác dụng quảng bá, làm tăng sự hiểu biết về nền văn học vĩ đại như nền văn học Pháp mà qua đó, cung cấp mẫu
hình cho thể loại tự sự. Biên khảo của Phạm Quỳnh do đó rất gần với nghiên cứu.
Là người rất nhiệt tâm đẩy mạnh văn chương quốc ngữ tiến lên cho kịp với
các nền văn học lớn, đặc biệt là văn học Pháp, Phạm Quỳnh rất có ý thức giới thiệu
các thể loại cơ bản theo mô hình văn học phương Tây. Ở cả ba thể loại lớn của nền
văn học là tiểu thuyết, thơ và kịch, ông đều trang bị lí luận, giới thiệu một cách kĩ
lưỡng mô hình thể loại. Cuốn Khảo về tiểu thuyết xuất bản lần đầu năm 1929 bởi
Nam phong tùng thư, chỉ ra những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết đã trở thành
cuốn sách lí luận đầu tiên của Việt Nam về thể loại này, trở thành cẩm nang cho cả
người sáng tác lẫn công chúng đọc. Cho đến nay, gần một thế kỉ qua đi, cuốn sách
vẫn được các học giả nhắc đến khi nghiên cứu lịch sử nhận thức tiểu thuyết. Phạm
Quỳnh cũng là một trong số những người đầu tiên đặt nền móng cho lí thuyết kịch
nghệ với các công trình: Lịch sử nghề diễn kịch nước Pháp: bàn về hí kịch của ông
Moliére (Nam phong, số 35, tháng 5/1920), Khảo về diễn kịch: lối diễn kịch châu
Âu (Nam phong, số 51, tháng 9/1921), Một bài kịch mới bằng chữ Pháp (Nam
phong, số 67, tháng 1/1923), Nghề diễn kịch ở nước Mĩ (Nam phong, số 77, tháng
11/1923). Với những công trình này, khái niệm “kịch”, “bi kịch”, “hí kịch” được
phân tích, mổ xẻ; các chuẩn tắc của bộ môn (nhất là luật tam duy nhất), cách phân
chia các thể loại kịch, kết cấu, ngôn ngữ, cách hành văn của kịch,… đều được Phạm
nhiều bài bình luận văn học. Ông là người mở đầu mục “Văn học bình luận” với bài
phê bình Một bộ tiểu thuyết mới: “Nghĩa cái chết” của nhà văn Pháp Paul Bouget
(Nam phong số 1, tháng 7/1917). Tiếp sau đó là nhiều bài giới thiệu tiểu thuyết
Pháp. Ngoài ra, ông cũng bình luận về một số hiện tượng văn học ở Việt Nam
đương thời, có thể kể: Bàn về văn Nôm của ông Nguyễn Khắc Hiếu (Đông Dương
tạp chí, số 120, năm 1915), Bình phẩm “Một tấm lòng” của Đoàn Như Khuê (Nam
phong số 2, tháng 8/1917), Mộng hạy mị? (phê bình Giấc mộng con của Tản Đà,
Nam phong số 7, tháng 1/1918). Trong khi phẩm bình, Phạm Quỳnh sử dụng các
thao tác của phương Tây để phân tích chứ không dùng lối bình, tán như cách bình
văn thời trung đại. Các bài viết của ông thường vượt lên phạm vi bình phẩm một tác
phẩm, tác giả cụ thể để khái quát các vấn đề thuộc lí luận văn học. Chẳng hạn, khi
phân tích cuốn Vua bể của Eugéne Menchior De Vogue (Nam phong số 3, tháng 9/1917), từ phạm vi phản ánh của tác phẩm, ông đã luận bàn về phạm vi mà thể loại
tiểu thuyết có thể đạt tới.
Có thể nói, khi bình phẩm về một vấn đề tác giả, tác phẩm cụ thể, Phạm
Quỳnh thể hiện một thái độ đúng mực, tuy có những đánh giá không phải khi nào
cũng nhận được nhiều sự đồng thuận, đặc biệt là bài bình luận về Giấc mộng con
của Tàn Đà, ông tỏ ra “nghiêm khắc” trước cái mơ mộng, ngông ngênh của thi sĩ.
Với sự cẩn trọng, nghiêm túc, văn phê bình bình của ông do đó hàm chứa những
vấn đề rộng lớn hơn phạm vi văn chương.
1.1.2.3. Sáng tác du kí
Nếu như dịch thuật xác định tư cách dịch giả; biên khảo, nghiên cứu, bình
luận cho thấy tri thức của một vị học giả, nhà lí luận thì du kí xác lập một Phạm
Quỳnh - nhà sáng tác. Xét một cách khách quan, Phạm Quỳnh không có nhiều tư
chất nghệ sĩ, ông cũng không phải nhà sáng tác chuyên nghiệp. Ngay từ lúc khởi
nghiệp, ông đã sớm được làm quen với các phương pháp khoa học khi làm việc tại
Viện Viễn Đông Bác Cổ. Chính môi trường nghiên cứu tại đây đã hình thành nên tư
duy khảo cứu, thứ tư duy đòi hỏi phân tích, tổng hợp từ các cứ liệu có sẵn. Trong
từ số 58, tháng 4/1922 đến số 100, tháng 10-11/1925, đăng không đều kì), Thuật
chuyện du lịch ở Paris (Nam phong, số 64, tháng 10/1922), Chơi Lạng Sơn, Cao
Bằng (Nam phong, số 96, tháng 6/1926), Du lịch xứ Lào (Nam phong, số 158-159,
tháng 1-2/1931). Ngoài ra, ông cũng có một số bài viết: Cùng các phái viên Nam kì
(1920), Tổng thuật về phái bộ Bắc kì đi quan sát đường xe lửa Vinh - Đông Hà
(1922), Ngự giá Âu du tổng thuật (1922), Ngự giá Bắc hành (1932), Ngự giá Nam
tuần (1933) được viết sau các chuyến đi. Tuy nhiên, theo chúng tôi, các bài viết này
thực chất là báo cáo mang tính quan phương hành chính, do đó khó có thể coi đây là
du kí. Thông qua bảy tác phẩm du kí, Phạm Quỳnh đã thể hiện con người cá nhân,
những suy tư của kẻ sĩ, trình làng một lối văn rất duyên, nhiều giá trị, đánh dấu một
bước tiến của ngôn ngữ tiếng Việt. Tất cả những điều này sẽ được chúng tôi làm
sáng tỏ trong hai chương tiếp theo.
Phác thảo toàn bộ cuộc đời và văn nghiệp của Phạm Quỳnh như trên, để thấy
ông chủ bút Nam phong đã có những đóng góp nhiều mặt, cả về văn chương lẫn tư
tưởng, văn hóa trong giai đoạn bước chuyển, tiến tới xác lập hệ hình văn hóa mới cho dân tộc. Thực tế, bằng các công việc cụ thể: điều hành Nam phong tạp chí, tờ
báo dành dung lượng lớn để bá, giới thiệu tư tưởng, triết học, khoa học, văn chương
phương Tây; ủng hộ và luôn có ý thức trau dồi chữ quốc ngữ; dịch thuật, giới thuyết
các thể văn mới lấy tiêu thức Tây Âu làm chuẩn mực để làm tiền đề cho hoạt động
sáng tác về sau, Phạm Quỳnh mang dáng dấp của một nhà kiến thiết nền văn học
mới. Ở lĩnh vực trước thuật nào, ông cũng có những đóng góp lớn cho đương thời,
tạo nên những ảnh hưởng ở bề sâu nhận thức của công chúng, nhất là tầng lớp thanh
niên mới, những người chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Pháp - Việt, sẽ là lực
lượng nòng cốt đưa nền văn chương Việt Nam tiến vào kỉ nguyên hiện đại trong
thập niên 1930.
Phác thảo văn nghiệp Phạm Quỳnh, cũng để thấy du kí chiếm số lượng
không nhiều trong tổng gia tài của ông, nhưng những thiên du kí lại là nơi thể hiện
nói lên người thật việc thật.
Khác biệt với các thể loại văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn ở tính phi hư
cấu nhưng mặt khác, du kí cũng lại rất gần gũi với chính các thể loại tự sự đó bởi du
kí là một nhánh của truyện kể với nhân vật, người kể chuyện và phương thức tự sự.
Du kí thể hiện trình độ dụng ngôn và nghệ thuật tự sự của người cầm bút; nhìn vào
du kí, có thể thấy đặc trưng nghệ thuật của thời đại ấy. Đây là đặc điểm khiến du kí
không đồng nhất với báo chí mặc dù rất gần gũi với nó. Trong khi kể chuyện, nhà
văn vẫn có thể “ngoài sự thực có thể điểm chút cảm tưởng riêng” như chính Phạm
Quỳnh nói, sự linh động trong kể chuyện chính là điểm khác biệt căn bản của du kí
với báo chí. Tóm lại, giao thoa với báo chí nhưng du kí không chỉ đơn thuần là
trang viết đưa tin, bình luận sự kiện; gần gũi với các tiểu loại văn tự sự khác nhưng
du kí lại không thuần túy văn chương như truyện ngắn, tiểu thuyết ở chỗ du kí đề
cao tính xác thực.
Về thể thức, theo Trần Đình Sử, du kí được thể hiện dưới nhiều dạng, “có thể
là ghi chép, kí sự, nhật kí, thư tín, hồi tưởng,… miễn là mang lại những thông tin,
tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở ít người
biết đến.” [18, tr. 108] Còn theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên thì, “[n]ếu duy
danh mà nói thì du kí là tất cả những ghi chép khi đi đến một nơi nào đó. Và như
thế thì hầu như ở mọi thời và mọi nền văn hóa đều có du kí.” [45, tr. 43] Nghĩa là,
du kí không bị khuôn trong một dạng thức (form) thể hiện nào. Người viết có thể tùy vào dụng ý, khả năng và sở trường để có thể chọn cho mình hình thức thích hợp.
Chính vì thế, lâu nay khi tìm hiểu du kí, người ta ít chú ý đến những đặc thù thể loại
mà quan tâm nhiều hơn đến phương diện cảm hứng, chủ đề, vậy nên hình thành
cách duy danh thể tài du kí. Theo chúng tôi, tâm lí đề cao cảm hứng, chủ đề và
không chú ý đến phương thức tự sự của du kí là biểu hiện của cách nghĩ coi nhẹ
hình thức của tác phẩm từng rất phổ biến một thời. Tâm lí này cũng xuất phát từ
một đặc trưng của thể kí, là tính xác thực về thông tin, sự việc, sự vật, theo đó,
người viết du kí không nhất thiết tạo nên những hình tượng hư cấu, những ẩn dụ