Hiện thực nông thôn qua một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ QUANG HUY
HIỆN THỰC NÔNG THÔN QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VĂN HỌC


HIỆN THỰC NÔNG THÔN QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số : 60 22 32 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÝ HOÀI THU

HÀ NỘI, NĂM 2013
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 4
Chƣơng 1: BỨC TRANH ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ LÀNG
QUÊ TRONG BỐN TIỂU THUYẾT: THỜI XA VẮNG, BẾN KHÔNG
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.

Trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, nhà nghiên cứu Phan
Cự Đệ đã nhận xét về tình hình sáng tác văn chƣơng giai đoạn này: “mở
rộng đề tài và các phƣơng thức tiếp cận, chấp nhận cả lãng mạn, tƣợng
trƣng, huyền thoại, viễn tƣởng, quan niệm cởi mở hơn về vai trò của chủ
thể nhà văn, về điển hình hoá, về các kiểu ngôn ngữ trần thuật, nhìn chung
là khuyến khích sự đa dạng về hình thức và phong cách biểu hiện” và
“chúng ta đƣợc mùa về truyện ngắn và tiểu thuyết”. Đặc biệt là tiểu thuyết.
Cũng theo sự thống kê do chúng tôi tổng hợp thì độc giả đã đƣợc đón nhận
đến vài trăm cuốn tiểu thuyết, trong đó nổi bật là tên tuổi những nhà tiểu
thuyết nhƣ: Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai, Bảo
Ninh,Khuất Quang Thụy, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Hoàng Minh Tƣờng,
Trung Trung Đỉnh, Ngô Ngọc Bội, Vũ Huy Anh, Xuân Đức, Nguyễn Trí
Huân, Đào Thắng Sau này, còn xuất hiện thêm nhiều tác giả, tác phẩm
khác.
Trong văn học Viê
̣
t Nam đƣơng đại , tiê
̉
u thuyết chiếm mô
̣
t vị trí quan
trọng, chính vì thế từ giữa thâ
̣
p kỷ 90, với cảnh hô

khi tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết thời kì đổi mới, ngƣời ta chủ yếu xoáy
sâu vào các nội dung nhƣ: vấn đề chiến tranh, vấn đề xây dựng chủ nghĩa
xã hội, vấn đề số phận con ngƣời trong thời kì mới, sự thay đổi trong
những quan niệm về giá trị con ngƣời Ít ngƣời chú ý tới khía cạnh nội
dung phản ánh hiện thực nông thôn trong các tác phẩm.
Chính vì những lí do kể trên mà chúng tôi quyết định chọn đề tài này.
Chúng tôi mong muốn việc nghiên cứu đề tài sẽ phần nào đó đóng góp một
cách nhìn khách quan và tƣơng đối toàn diện cho bức tranh xã hội Việt
Nam trong thời kì vốn đƣợc xem là cực kì nhạy cảm này.
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài chủ yếu tập trung khảo sát bốn tiểu thuyết Thời xa vắng (Lê
Lựu), Bến không chồng (Dƣơng Hƣớng) và Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trƣờng), Dòng sông Mía ( Đào Thắng) những tiểu
thuyết đã đoạt giải chính thức của Hội nhà văn nên thu hút đƣợc sự quan
tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu và độc giả. Trong quá trình tìm hiểu và
thu thập tài liệu, chúng tôi sƣu tập đƣợc một số bài viết về các tiểu thuyết
này.
Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu” đăng
trên tạp Tạp chí văn nghệ quân đội, số 4, năm 1987 đã tập trung nghiên cứu
tiểu thuyết Thời xa vắng trong giới hạn vấn đề số phận cá nhân, số phận
của ngƣời nhà quê trƣớc những biến động của xã hội, cụ thể là cuộc đời, số
phận của nhân vật Giang Minh Sài. Theo Hoàng Ngọc Hiến thì anh nông

3
dân Giang Minh Sài “ “người nhà quê” của Lê Lựu hai lần khốn khổ, vừa
xung đột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ phận
phức tạp nhất của nó là đàn bà, con gái.”[16, tr119], thế nên cuộc sống của
anh cứ bùng nhùng, bế tắc, vƣớng vào hết bi kịch này đến bi kịch khác. Và
từ những vấn đề thuộc về nhân vật, thuộc về tác phẩm, tác giả Hoàng Ngọc
Hiến suy luận đến những vấn đề lớn, những vấn đề bức xúc của xã hội suốt

của nó, ý thức cá nhân phải tạm lu mờ, nhƣờng chỗ cho những vấn đề lớn
lao mang ý nghĩa dân tộc. Đấy là xét về mặt nội dung. Xét về mặt nghệ
thuật, mặc dù “nhiều người có ý cho là văn Lê Lựu không chuốt, mộc quá,
và không phải là không có những câu què, hoặc trúc trắc, thậm chí có câu
ngữ pháp chưa chỉnh” , nhƣng tác giả Thiếu Mai vẫn cho rằng tiểu thuyết
Thời xa vắng đƣợc xây dựng bằng “một giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được
vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan, không thêm bớt, tô vẽ, đặc biệt là
không cay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết
phục, hấp dẫn của tác phẩm” [32, tr.123]. Tuy chƣa thích thú với kết cấu
ba phần mà phần kết “khó chấp nhận vì tính chất bất hợp lí của nó, và vì nó
thể hiện một sự áp đặt do ý muốn chủ quan của tác giả” [32,tr.125]. Thế
nhƣng, với tác giả Thiếu Mai, Thời xa vắng “tuy vẫn còn có những nhược
điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần thiết, nhưng với ưu điểm
rất trội của nó, nó là một thành công, một đóng góp vào nền văn học đang
có đà phát triển khởi sắc cùng chúng ta mấy năm vừa qua.” [32, tr.125]
Đinh Quang Tốn trong cuốn Tản mạn và chính kiến văn chương có
bài: “Lê Lựu - Thời xa vắng”. Trong bài viết này, Đinh Quang Tốn muốn
nói đến sự hoá thân của cuộc đời tác giả Lê Lựu vào trong các tác phẩm
của mình. Trong khi giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu,
những dấu ấn cá nhân của tác giả để lại trong các sáng tác , Đinh Quang
Tốn có vài dòng nhận xét về tiểu thuyết Thời xa vắng: “Thời xa vắng viết
về hậu phương miền Bắc trong cuộc chống Mĩ cứu nước với cả cái vui và
cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt, những quầng sáng và những bóng
mờ, có cả nụ cười và nước mắt ” [49, tr.18]. Nhìn chung, đề tài hậu

5
phƣơng nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mĩ có nhiều ngƣời
viết, nhƣng theo sự đánh giá của Đinh Quang Tốn thì: “Lê Lựu là người
viết thành công nhất” [49, tr.22] và “ Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên
Hội nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê

Ở đây, tác giả Trung Trung Đỉnh cũng có chỉ ra những mặt hạn chế của
cuốn tiểu thuyết này, đó là quá trình dẫn dắt “có những chỗ sắp xếp vụng
và đôi khi lại thiếu sự tế nhị của nghề nghiệp”, “ phần đầu dài quá. Câu
chữ có chỗ hơi luộm thuộm quá. Cái cười của cô Dâu cứ hi hí thế, e tự
nhiên chủ nghĩa quá” [8, tr.100] Thế nhƣng, tác giả bài viết lại đánh giá
“đây là nhược điểm của người say”, đấy là biểu hiện cái say của ngƣời
nghệ sĩ Dƣơng Hƣớng giữa làng Đông. Nhƣng cuối cùng, ƣu điểm vẫn là
chủ yếu, tác giả Trung Trung Đỉnh thừa nhận: “Anh chiếm lĩnh được tâm
hồn người đọc bằng sức hút của tấm lòng yêu thương nhân hậu, tự nhiên,
không ồn ào văn vẻ với một bút lực dồi dào đầy trách nhiệm. Dương
Hướng là người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm trước những số phận bi
ai, không né tránh nửa vời khiến cho thiên truyện càng tới những trang
cuối càng dồn nén, dồn nén đến nghẹt thở” [8, tr.98]
Về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Hữu Sơn,
trong cuốn Điểm tựa phê bình văn học có bài: “Bóng đêm - Một phƣơng
diện tƣ duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma”
chủ yếu khảo sát thủ pháp nghệ thuật, cụ thể là thời gian nghệ thuật của
tiểu thuyết này. Theo tác giả Nguyễn Hữu Sơn thì tiểu thuyết Mảnh đất
lắm người nhiều ma “không có những trang miêu tả, thể hiện thời gian
tâm lí, tâm trạng gây ấn tượng như Sầu đong càng lắc càng đầy – Ba thu
dồn lại một ngày dài ghê! (Truyện Kiều), song chính mối liên hệ giữa các
biến cố, sự kiện với thời điểm nảy sinh các biến cố, sự kiện đó mới là đặc
điểm chính yếu tạo nên đặc trưng thời gian cho tác phẩm” [43, tr.131-132].
Và đặc trƣng thời gian của tác phẩm là thời gian bóng đêm. Các phân đoạn
mở đầu hay kết thúc trong tác phẩm cũng gắn liền với cảnh chiều tà, bóng
tối. Phần lớn những thời gian đƣợc đặc tả trong tác phẩm là thời gian bóng

7
đêm, hơn thế nữa “chúng lại thuộc về đêm cuối tháng không trăng sao,
hoặc có trăng thì chỉ thấy hình hài kì dị, không bao giờ được miêu tả như

phụ nữ đẹp, đẹp ở hình thể, đẹp ở tâm hồn, đẹp trong bản năng Nhƣng
cuộc đời họ cũng đầy bất hạnh, đầy bi kịch chỉ vì họ sinh ra là phụ nữ, họ
phải chịu đựng biết bao áp lực, định kiến ở đời
Trong cuốn sách “Đồng cảm và sáng tạo”, PGS.TS Lý Hoài Thu
dành sự ƣu ái cho “Dòng sông Mía”, tác giả quan tâm đến diện và điểm,
chú ý đến các hiện tƣợng và sự kiện có tiếng vang trong dƣ luận. Khả năng
nắm bắt và bình luận của Lý Hoài Thu thể hiện rõ ở các bài viết có sức khái
quát cao về lý luận: Dòng sông Mía - Một không gian tiểu thuyết vừa quen
thuộc vừa mới mẻ, Với Dòng sông Mía của Đào Thắng, tác giả nhận xét:
“Rõ ràng là, ẩn sau câu chuyện về đòn trả thù khủng khiếp của cá ông, ngòi
bút tác giả hƣớng tới một đời sống tâm linh nguyên sơ và huyền bí, một thứ
tín ngƣỡng dân gian trong trẻo nhƣng rất mực linh thiêng. Cùng với nó là
lời cảnh báo về sự ứng xử thô bạo, ngu muội của con ngƣời trƣớc thiên
nhiên, kêu gọi con ngƣời hãy biết sống hài hoà với thiên nhiên” (tr.229).
Về hình thức, Dòng sông Mía của Đào Thắng “có đƣợc nhiều dấu hiệu
thành công, mở ra đƣợc những hƣớng tiếp cận mang ý nghĩa cách tân về
mặt thể loại” (tr.232).
Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều bài viết chúng tôi muốn lấy
làm ví dụ minh họa cho sự quan tâm, những vấn đề nghiên cứu khác nhau
của các tác giả về ba tiểu thuyết Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh
đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía. Có thể nói, khi nghiên cứu bốn
tiểu thuyết này, các nhà nghiên cứu hầu nhƣ không phân tích sâu bức tranh
xã hội nông thôn thể hiện trong các tác phẩm, mà chỉ chạm tới, chỉ nói qua.
Dẫu không phải là tiền sử của vấn đề luận văn nghiên cứu, nhƣng các bài
viết vẫn có giá trị tham khảo rất lớn. Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh
rằng vấn đề nông thôn không mới, không đặc biệt trong nghiên cứu văn
học, cũng không mới trong phạm vi nghiên cứu các tiểu thuyết Thời xa
vắng, Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông

9


10
tôi cũng thực sự chú ý đến phong cách chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực
của các tác giả.
Đạt đƣợc những mục tiêu kể trên, đề tài cũng có những đóng góp nhất định,
đó là đƣa ra một cái nhìn tƣơng đối khách quan, toàn cảnh về nông thôn
miền Bắc Việt Nam trong thời kì mới, đồng thời tạo hứng thú cho những ai
cùng có mối quan tâm đến vấn đề này trong việc nghiên cứu văn học.
6.Phương pháp nghiên cứu.

Xuất phát từ yêu cầu của đối tƣợng nghiên cứu và mục đích cần hƣớng tới
của luận văn, chúng tôi đã vận dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích - loại hình: Nắm vững đặc trƣng, phƣơng pháp
luận loại hình thể loại tiểu thuyết để khái quát bức tranh nông thôn, tìm ra
và phân tích những vấn đề chung, những biến đổi của xã hội, của con ngƣời
và những bi kịch mà con ngƣời phải chịu đựng sau luỹ tre làng.
Phương pháp lịch sử: Trên quan điểm lịch sử cụ thể, luận văn xem xét sự
vận động và chuyển biến của xã hội theo xu thế tất yếu của nó, để từ đó cố
gắng tiếp cận một cách đầy đủ nhất những quan điểm của tác giả về đời
sống, xã hội và con ngƣời thể hiện trong các tiểu thuyết.
Phương pháp so sánh: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng không nhiều,
nhƣng chúng tôi có sử dụng để so sánh ba tiểu thuyết kể trên với một số
tiểu thuyết khác cùng thời có phản ánh những vấn đề liên quan đến vấn đề
luận văn đang nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có ý thức vận dụng những hiểu biết
về thi pháp học hiện đại kết hợp với cảm thụ truyền thống để nghiên cứu,
chiếm lĩnh tác phẩm theo quan niệm của mình. Đồng thời, cũng có ý thức
tham khảo những ý kiến đánh giá, nhận xét đã có về từng tác phẩm. Nhƣng,
cái chính yếu là chúng tôi luôn cố gắng cảm nhận tác phẩm dựa trên ý
nghĩa bản thân nó. Chúng tôi hi vọng những gì thể hiện trong luận văn này

phong tục tập quán không tốt, tiêu cực. Dẫu vậy, dù tốt hay không tốt, dù
tích cực hay tiêu cực thì những phong tục tập quán ấy cũng góp phần hình
thành nên sự đặc sắc của văn hoá nông thôn, sự đặc sắc của văn hoá dân
tộc.
Trong cái ý thức tiểu nông tồn tại từ bao đời, ngƣời nông thôn
thƣờng có quan niệm: “ăn cây nào rào cây ấy”, ở các làng quê Việt Nam,
ngƣời ta thƣờng có xu hƣớng thích đề cao làng mình. Với họ, làng mình cái
gì cũng nhất, cái gì cũng hơn thiên hạ: “Đình làng Đông to nhất. Cây quéo
làng Đông cao nhất. Cầu đá làng Đông đẹp nhất; nƣớc sông Đình cũng mát
nhất” [18, tr.9]. Chính vì vậy, bất cứ địa danh nào nổi bật của địa phƣơng
cũng đƣợc ngƣời ta nâng niu bằng vô số những câu chuyện huyền thoại,
truyền thuyết hoá chúng; một mặt, để bồi dƣỡng thêm sự gắn bó, lòng tự

13
hào của ngƣời dân; mặt khác, để cho bất cứ ai đến làng mình, nghe chuyện
làng mình cũng phải nhớ, cũng phải ấn tƣợng
Cái làng Đông của Bến không chồng dẫu nhỏ bé và cũng bình dị
nhƣ bao làng quê khác, nhƣng nó lại là cái kho của những huyền thoại. Từ
dòng sông, bến nƣớc, đến bãi tha ma của làng đều ẩn chứa bao câu chuyện
thần bí. Nào là chuyện về hồ “mắt tiên” quanh năm trong vắt, là nơi mà đàn
bà con gái làng Đông có nỗi oan khuất đều trốn ra hồ tắm để đƣợc giải oan.
Ngƣời ta kể rằng, cô Ngần – một ngƣời con gái đẹp nhất làng Đông - bị cha
mẹ ép gả cho ngƣời cô không yêu nên đêm tân hôn cô trốn ra hồ nƣớc giữa
đồng tự vẫn, từ đó, cái hồ nƣớc tanh hôi nhƣ một vũng nƣớc trâu đằm, lau
sậy um tùm, cá rúc, quốc lủi hôi xì, đỉa bơi cung quăng, ếch nhảy chòm
chõm bỗng trở nên trong vắt quanh năm, cỏ lau lụi tàn, quốc, cú lủi sạch,
đỉa cũng mất tăm và chính nhờ hồ mắt tiên mà gái làng Đông da cô nào
cũng trắng mịn, mang nhiều nét khêu gợi của tiên nữ; Nào là chuyện gò
ông Đổng, nơi yên nghỉ của ngƣời con trai làng Đông dũng cảm, không
chết nơi trận mạc mà chết khi trở về nghe tin vợ ngoại tình. Và ngƣời ta

thôn, mỗi năm họ có một ngày giỗ tổ, hay còn gọi là ngày chạp tổ. Việc
này do tộc trƣởng chủ trì. Ngƣời trƣởng họ có một thứ quyền lực riêng.
Trƣởng họ còn thƣờng đƣợc hƣởng ruộng hƣơng hoả, tự điền để lấy kinh
phí lo việc họ. Ruộng hƣơng hoả, tự điền nhiều thì lễ to, nhà thờ họ lớn, tế
khí đầy đủ và ngƣợc lại. Sau này, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không
còn ruộng hƣơng hoả, những ngƣời trong họ sẽ cùng nhau đóng góp theo
các xuất đinh của từng gia đình ( gia đình có bao nhiêu nam thì tƣơng
đƣơng bằng ấy xuất đinh) để lo sửa sang nhà thờ họ, cúng kính, cỗ bàn
Ngày giỗ tổ hàng năm là ngày con cháu sinh sống, làm ăn ở khắp mọi nơi
về họp mặt đông đủ để tƣởng nhớ tổ tiên, tƣởng nhớ những ngƣời đã chết
và để những ngƣời còn sống trao đổi thông tin về cuộc sống, thắt chặt thêm
tình anh em máu mủ ruột già, dây mơ rễ má
Dòng họ Nguyễn trong Bến không chồng cũng có những ngày giỗ
tổ nhƣ thế. Họ Nguyễn to nhất làng Đông. Từ đƣờng họ Nguyễn cũng to

15
nhất làng Đông. Ngôi từ đƣờng ấy gồm ba gian cùng với một gian hậu
cung, nơi đặt bàn thờ tổ: “Ba gian từ đƣờng có hai hàng cột cái và hai hàng
cột con, cả thảy là mƣời sáu cột. Những chiếc cột lim to một ôm đẫy cứ đen
bóng lên. Các chân cột đặt tảng đá xanh nổi vân trắng, nền từ đƣờng lát đá
đỏ, ngoài thềm lát đá xanh. Gian hậu cung cuốn bằng gạch chỉ vữa trộn mật
với vôi, cát, rắn nhƣ đá. Trên bệ thờ là những con rồng sơn son thiếp vàng
rực rỡ, cỗ ngai đặt ở giữa bệ thờ, có bát hƣơng to lúc nào cũng toả khói
thơm ngát. Gian giữa từ đƣờng thêm bốn câu đối trên bốn cột cái” [18,
tr.22]. Đấy chính là mồ hôi nƣớc mắt của cả họ tộc qua bao đời đã để lại.
Cái cơ ngơi ấy do cụ Nguyễn Nghiên, ngƣời đứng đầu dòng họ Nguyễn lúc
bấy giờ cai quản. Gia đình cụ Nguyễn Nghiên mấy đời độc đinh, sau cụ
Nguyễn Nghiên, đến con trai ông là Nguyễn Khiên, rồi cuối cùng là Nghĩa
– cháu nội ông. Lễ chạp tổ đƣợc nói đến trong tiểu thuyết rơi vào đời ông
Nguyễn Khiên, khi ông mới hơn bốn chục tuổi. Đấy là cái lễ chạp tổ đầu

“Ba hồn bẩy vía thằng Sài đâu thì về”, Bẩy vía ba hồn Sài ơi về với mẹ đi
con”, “Bẩy vía ba hồn thằng Sài ở đâu tthì về với bố , với mẹ Sài ơi”
Cũng may, ngoài gọi hồn, gọi vía, ngƣời ta còn kết hợp với những cách giải
cảm dân gian khác nên thằng Sài mới thoát chết.
Cũng từ những quan niệm mê muội, ấu trĩ ấy mà làng Giếng
Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) lổn nhổn, lẫn lộn ngƣời với ma,
ma với ngƣời. Ngƣời ta tin vào cái tài cai trị phần âm của làng của cô
Thống Bệu, dù rằng ai cũng biết cô “vừa giỏi việc âm, lại vừa tài việc
dƣơng”, bởi cô cũng có vợ và con đàn cháu đống hẳn hoi. Ngƣời ta tin vào
những câu chuyện ma do ngƣời này ngƣời kia kể. Ngƣời ta cũng tin rằng
ngƣời chết có thể nhập hồn vào ngƣời khác để trả lốt những ân oán, nợ nần
trên cõi trần Bởi vậy mà cái xã hội Giếng Chùa nhỏ bé xảy ra biết bao
chuyện lạ lùng, ma nhập vào ngƣời, ngƣời đội lốt ma, có ngƣời mê tín, có
ngƣời lợi dụng chuyện mê tín , khiến cho làng Giếng Chùa tồn tại toàn
những ma là ma, cả ma sống và ma chết
Bức tranh văn hoá làng quê có lẽ thể hiện sinh động nhất trong

17
các mối quan hệ của con ngƣời trong đời sống thƣờng nhật. Tiền thân là
một xã hội phong kiến tồn tại suốt hơn một ngàn năm, ảnh hƣởng sâu sắc
những chuẩn mực đạo đức theo quan điểm Nho, Phật, Đạo nên khi nƣớc
Việt Nam dân chủ cộng hòa rồi đến nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ra đời thì những quan điểm ấy vẫn luôn thực sự ăn sâu bén rễ trong
nhân dân. Chính vì thế, trong gia đình ngƣời Việt Nam nói chung luôn có
sự nề nếp, có trên có dƣới, quan hệ cha – con, chồng – vợ, anh - chị – em
với vai vế rõ ràng. Chẳng thế mà, cha để di huấn bảo phải đào mộ kẻ thù để
giải quyết ân oán, dù sợ run nhƣng Trịnh Bá Hàm (Mảnh đất lắm người
nhiều ma) vẫn cứ thực hiện. Thủ (Mảnh đất lắm người nhiều ma) đƣờng
đƣờng là một bí thƣ đảng uỷ xã, ai cũng nể, cũng sợ, nhƣng lại tuyệt đối
“chƣa bao giờ Thủ dám trái lời ông anh cả” [52, tr.81]. Rồi tất cả những

nhiều cách, có ngƣời tự nguyện, có ngƣời bị cƣỡng ép, có ngƣời vui vẻ, có
ngƣời oán hận Nhìn chung, đƣờng làng đƣợc lát bằng cả những niềm vui,
niềm hạnh phúc, sự kiêu hãnh về chức danh, và đƣợc lát bằng cả những nỗi
khổ đau ê chề, sự tủi cực của những mảnh đời. Nhƣng đấy là lệ làng, không
ai dám cãi, không dễ phá bỏ, ai không tuân theo thì chỉ có cách bỏ làng mà
đi. Những định chế của làng cùng lối sống thuần nông khiến cho cuộc sống
của ngƣời nông thôn vừa đa dạng vừa vô cùng phức tạp. Mối quan hệ giữa
những con ngƣời trong làng trong xã cũng vì thế mà mang nhiều sắc thái,
vừa cả nể vừa du di, vừa dễ dãi vừa khe khắt, vừa tình cảm, khắng khít vừa
tọc mạch, ti tiện, vừa tự ti vừa tự tôn
Khác với lối sống thờ ơ, đèn nhà nào nhà ấy sáng ở thành phố, ở nông thôn,
hầu nhƣ cả xóm, cả làng, cả xã đều biết nhau. Chính điều đó tạo nên quan
hệ, lối sống tình cảm, gắn bó giữa các gia đình trong cộng đồng thôn, xã;
tạo nên cái nếp sống đẹp “tối lửa tắt đèn có nhau” ở các làng quê. Thế
nhƣng, ngay trong cái tình đoàn kết, cái kiểu sống “tối lửa tắt đèn có nhau”
ấy lại nảy sinh vấn đề phức tạp, nảy sinh tình trạng “trong nhà chƣa tỏ,
ngoài ngõ đã thông”. Hay nói cách khác, ngƣời nông thôn hay có thói quen
để ý, xét nét, thóc mách chuyện nhà ngƣời khác và lan truyền thông tin rất

19
nhanh.
Đến cái xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) trong
những ngày đói ta sẽ thấy ngay điều đó. Vào những ngày giáp hạt, xóm
Giếng Chùa nổi tiếng sung túc nhất xã cũng rơi vào cảnh đói vàng mắt.
Nhiều nhà nấu cháo phải độn thêm rau tập tàng. Nhiều nhà phải luộc chuối
xanh chấm muối. Những nhà thƣờng xuyên túng bấn thì bây giờ đứt bữa
hẳn. Cả làng, đi đâu cũng thấy những mặt ngƣời hao gầy, nhớn nhác hớt
hải cứ tƣởng nhƣ đang vội vã đi đâu, nhƣng kì thực chẳng có việc gì hết, cứ
ra vào quanh quẩn với cái bụng eo sèo. Ấy thế mà họ vẫn còn thời gian, sức
lực để “quan tâm” đến cuộc sống của ngƣời khác. Họ biết đƣợc nhà bà đồ

ngâm, sắn dây, rƣợu thuốc Khách đến sẽ đƣợc hƣởng những mâm cỗ
thịnh soạn, thức nào ra thức ấy, chứa chan tình cảm và kiến thức ẩm thực
của chủ nhà ; Khách sẽ không thể biết đƣợc cái cảnh vợ con Tính sau đấy,
đằng sau cánh cửa bếp, xì xụp bên những bát đĩa thừa thãi đã đƣợc dồn lại,
cùng với bát bánh đúc ngô, một món ăn quen thuộc hàng ngày.
Đến một vùng nông thôn đói nghèo nhƣ xóm Giếng Chùa (Mảnh
đất lắm người nhiều ma) nhƣng ngay trong những tháng giáp hạt khó
khăn, ngƣời ta vẫn thi nhau sắm sửa nào là giƣờng mô-đéc, tủ buýp-phê, tủ
lệch đến sa-lông chân quỳ. Ông bà dạy: “tốt khoe ra, xấu xa che lại”. Ngƣời
dân ở đây phát triển triệt để ý nghĩa lời dạy đó. Với họ, đói mà đƣợc ngồi
sa-lông gỗ lát cũng vênh vang, mát mặt hơn là no bụng mà để ngƣời khác
thấy đƣợc sự tọa tuệch trong cuộc sống của mình. Và trong quan niệm của
họ thì “khách đến nhà làm sao biết trong bụng chủ nhà chứa những gì. Rau
lang, sắn mốc hay cơm tám giò chả đã qua khỏi cửa miệng thì cũng là nhập
khẩu vô tang, có giời lần!” [52, tr.75]. Thế là có bao nhiêu ngƣời ta cứ phô
ra, không có cũng cố kiếm ra mà phô trƣơng. Sở dĩ nhƣ vậy là vì họ không
muốn ai coi thƣờng nhà mình, nhất là coi thƣờng vì sự bần hàn. Đầu tƣ cho
cuộc sống của ngƣời sống đã đành, ngƣời ta còn đầu tƣ cho cả ngƣời chết.
Trong khi nhiều ngƣời trong làng “cái thiếu, cái đói hiện lên từ ánh mắt
mệt mỏi đến nƣớc da mai mái và cặp môi khô, cả hàm răng cũng khô.

21
Tiếng cƣời thiếu ăn khô tông tốc” [52, tr.21] thì nhà ông Vũ Đình Phúc tổ
chức đám tang cho bố mình hết sức đàng hoàng, trang trọng, không nề hà
tốn kém: ngả một con lợn hơn một tạ, đóng áo quan bằng gỗ dổi không cần
phải sơn mà vẫn vàng ƣơm, mời phƣờng bát âm lớn theo đúng nghi thức cổ
truyền, tổ chức lễ cầu hồn hết sức tốn kém, làm cỗ mời cả làng Họ Vũ
Đình là họ lớn trong làng, ông Phúc muốn làm tất cả những việc ấy để dân
làng nhìn vào, để cho dòng họ đối địch Trịnh Bá phải tức tối vì ghen tị.
Hay xét nét, thích phô trƣơng, tính câu nệ, cả nể , những đặc điểm chung


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status