Cách xử lý của Nguyễn Du đối với thơ và từ trong Kim Vân Kiều truyện - Pdf 25

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

CÁCH XỬ LÝ CỦA NGUYỄN DU ĐỐI VỚI
THƠ VÀ TỪ TRONG KIM VÂN KIỀU TRUYỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam CÁCH XỬ LÝ CỦA NGUYỄN DU ĐỐI VỚI
THƠ VÀ TỪ TRONG KIM VÂN KIỀU
TRUYỆN Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nho Thìn

Hà Nội - 2013 iv

2.3. Thơ từ trong Kim Vân Kiều truyện với vai trò khắc họa nhân vật 33
2.3.1. Thơ từ trong Kim Vân Kiều truyện với vai trò ngầm ẩn số phận nhân
vật Thúy Kiều 33
2.3.2. Thơ từ trong Kim Vân Kiều truyện với vai trò khắc họa nội tâm, tính
cách, tài năng nhân vật Thúy Kiều 37
2.3.2.1. Nhóm thơ từ thể hiện con người đa sầu đa cảm của Thúy Kiều 38
2.3.2.2. Nhóm thơ từ thể hiện niềm vui trong tình đầu của Thúy Kiều 40
2.3.2.3. Nhóm thơ từ thể hiện nỗi đau đớn, xót xa về thân phận, nỗi nhớ nhà
và người yêu của Thúy Kiều khi phải trải qua các biến cố, gian truân cuộc
đời 41
2.3.2.4. Nhóm thơ từ thể hiện con người quyết đoán, lý chí như trang nam nhi
của Thúy Kiều 48
2.3.2.5. Nhóm thơ từ chủ yếu thể hiện tài năng thơ ca của Thúy Kiều 52
2.3.3. Thơ từ trong Kim Vân Kiều truyện với vai trò khắc họa nội tâm, tính
cách nhân vật Thúc Sinh 55
2.3.4. Thơ từ trong Kim Vân Kiều truyện với vai trò bộc lộ ý định của nhân
vật 56
CHƢƠNG 3. CÁCH XỬ LÝ CỦA NGUYỄN DU ĐỐI VỚI THƠ VÀ TỪ
TRONG KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 60
3.1. Quan điểm nghiên cứu nghệ thuật tả nội tâm của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều của các nhà nghiên cứu 60
3.2. Cách xử lý của Nguyễn Du đối với bài từ Điệu Nguyệt nhi cao thể hiện tư
tưởng tác phẩm Kim Vân Kiều truyện 67
3.3. Cách xử lý của Nguyễn Du đối với nhóm thơ từ khắc họa nhân vật trong
Kim Vân Kiều truyện 75
3.3.1. Cách xử lý của Nguyễn Du đối với nhóm thơ từ ngầm ẩn số phận
Thúy Kiều trong Kim Vân Kiều truyện 76
vi

3.3.2. Cách xử lý của Nguyễn Du đối với nhóm thơ từ với vai trò khắc họa

tựu nhưng vẫn cần đi sâu hơn nữa.
Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu so sánh lớn nhỏ
khác nhau về hai tác phẩm này trên rất nhiều phương diện: nghệ thuật tự sự,
cách miêu tả xã hội,… nhưng vấn đề cách xử lý của Nguyễn Du đối với thơ
và từ trong Kim Vân Kiều truyện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thực sự
quan tâm. Ta thấy việc đưa thơ từ vào văn bản tác phẩm không phải là một
nét mới trong lịch sử hình thành và phát triển tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa.
Mối liên hệ giữa thơ từ, vận văn với văn xuôi tự sự trong tiểu thuyết cổ điển
Trung Quốc cũng theo chiều hướng từ ít đến nhiều, từ điểm xuyết rời rạc đến
gắn bó chặt chẽ, thống nhất hữu cơ. Trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện,
để khắc họa nhân vật và thể hiện tư tưởng tác phẩm, Thanh Tâm tài nhân đã
đan xen lời 92 bài thơ từ với phần văn xuôi (kể cả bài từ Điệu Nguyệt nhi cao
của Kim Thánh Thán ở đầu hồi 1). Kim Vân Kiều truyện thừa hưởng kinh
nghiệm xen thơ từ của tiểu thuyết chương hồi Minh Thanh, lại cũng có ảnh
hưởng đến các tiểu thuyết chương hồi khác, trong đó có Hồng lâu mộng.
Nhưng khi vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện để sáng tạo Truyện
Kiều, Nguyễn Du đã lược bỏ hết phần lời của những bài thơ từ đó nhưng nhà
nghiên cứu nào cũng phải ghi nhận nghệ thuật tả nội tâm nhân vật bậc thầy
2

của Nguyễn Du cùng sự thay đổi về tư tưởng của tác phẩm này. Vậy ông đã
xử lý thơ từ của Kim Vân Kiều truyện như thế nào? Nghiên cứu để trả lời câu
hỏi ấy rõ ràng có ý nghĩa trong văn học sử Việt Nam nói chung và việc nhận
thức tài năng sáng tạo, cụ thể là tài năng tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du
nói riêng. Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài Cách xử lý của Nguyễn Du đối
với thơ và từ trong Kim Vân Kiều truyện nhằm góp phần khiêm tốn bổ sung
cho hướng nghiên cứu này.
2. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: thơ, từ trong Kim Vân Kiều truyện

4. Lịch sử vấn đề
4.1. Vấn đề so sánh Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện
 Nghiên cứu trong nước
Các nhà nho Việt Nam thế kỷ XIX cùng thời Nguyễn Du chủ yếu viết
ra những điều tâm đắc của mình với Truyện Kiều, ít chú trọng so sánh với
Kim Vân Kiều truyện. Sang thế kỷ XX, Truyện Kiều được nghiên cứu ở nhiều
phương diện, việc so sánh hai tác phẩm trở thành vấn đề nghiên cứu khoa học.
Lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều đã diễn ra qua ba chặng: từ đầu thế kỷ cho
đến 1945, từ 1945 tới 1975, từ 1975 cho đến nay. Mỗi chặng nghiên cứu này
có những đặc trưng riêng, chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử, tư tưởng,
chính trị và văn hóa lúc bấy giờ.
4

 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX tới 1945
Nhìn chung, việc so sánh Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện trong
các thập niên đầu thế kỷ XX chưa thật sự sâu sắc và phong phú. Với bài viết
Văn chương và nhân vật trong truyện Thúy Kiều đăng trên tạp chí Nam Phong
năm 1922, có lẽ người đầu tiên so sánh Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện
trên báo quốc ngữ là Nguyễn Đôn Phục (năm 1922). Trong bài viết của mình,
ông mới chỉ nhắc tới cái hay về nghệ thuật của Truyện Kiều, việc so sánh
Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện chỉ như là nguyên nhân khiến tác phẩm
này nổi tiếng chứ chưa có ý thức so sánh sâu hơn. Năm 1924, Phạm Quỳnh đã
công bố một bài viết đề cao Nguyễn Du trên Nam Phong đọc tại lễ kỷ niệm
ngày mất Nguyễn Du. Trong bài viết này, tuy Phạm Quỳnh chưa đi sâu so sánh
trực tiếp hai tác phẩm nhưng ông là người đầu tiên nhấn mạnh sự đặc biệt của
Truyện Kiều so với nguyên tác và nền văn hóa Trung Quốc. Ngô Đức Kế trong
bài Luận về chính học cùng tà thuyết Quốc văn - Kim Vân Kiều - Nguyễn Du
đã nhắc tới Kim Vân Kiều truyện nhưng không nhằm mục đích so sánh mà để
phê phán cả Kim Vân Kiều truyện và Truyện Kiều.
Người mở ra hướng nghiên cứu so sánh hai tác phẩm ở cấp độ chi tiết,

thay đổi của Nguyễn Du để phê phán Kim Vân Kiều truyện và chủ yếu so sánh
sáng tạo của Nguyễn Du về phương diện lược bỏ chi tiết, việc tả tình chứ
chưa đi vào so sánh việc xử lý thơ từ của nguyên tác.
Đặng Thanh Lê đã đặt lối đi riêng cho mình trong ngành Kiều học với cuốn
Truyện Kiều và thể loại Truyện Nôm, trong cuốn sách này tác giả đã dành một
số trang so sánh hai tác phẩm nhưng chúng đã bị chìm lấp trong nhiều trang viết
về giá trị độc đáo của Truyện Kiều. Ngoài ra, ta phải kể tới: Lê Đình Kỵ với
cuốn Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970), bài báo
6

Nguyễn Du và đạo đức phong kiến (qua nhân vật Thúy Kiều), Lê Xuân Lít với
Truyện Kiều – Kim Vân Kiều truyện nhìn từ góc độ chi tiết,
 Từ sau 1975 tới nay
Cuối thế kỷ XX diện mạo nghiên cứu Truyện Kiều thêm phong phú và
khoa học khi có sự xuất hiện của những công trình nghiên cứu chuyên sâu -
hướng nghiên cứu về nghệ thuật của Truyện Kiều.
Tiếp tục triển khai ý tưởng của Đào Duy Anh, Phạm Đan Quế giới
thiệu cuốn Truyện Kiều đối chiếu vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX. Cuốn
sách này đối chiếu tỉ mỉ từng chi tiết giống và khác giữa hai tác phẩm, sự
thêm bớt cũng được khảo kĩ lưỡng. Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện ra
đời sau đó cũng có nội dung gần giống như Truyện Kiều đối chiếu. Những
nhận xét của ông rút ra trong hai cuốn sách này nhìn chung không có gì mới
so với nhận xét của những nhà nghiên cứu đi trước cùng hướng so sánh này.
Chúng ta không thể không kể tới hai công trình Tìm hiểu phong cách
Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Phan Ngọc) và Thi pháp Truyện Kiều (Trần
Đình Sử). Phan Ngọc đã so sánh hai tác phẩm trên hầu hết các phương diện
và cố gắng chứng minh sự khác biệt cũng như tính ưu việt của các giải pháp
Nguyễn Du đã lựa chọn so với Thanh Tâm tài nhân nhưng cuốn sách của ông
còn bộc lộ không ít sai lầm cần được chỉ rõ. Trong công trình của mình, rút
được kinh nghiệm của những nhà nghiên cứu đi trước, Trần Đình Sử thấy

Bài Nguyễn Du, nhà thơ kiệt xuất Việt Nam và Truyện Kiều của ông của
Lưu Thế Đức và Lý Tu Chương chỉ dừng lại mức độ so sánh hai tác phẩm về
phương diện ngôn ngữ.
Tháng 8 năm 2004, cuốn chuyên luận Nghiên cứu câu chuyện Vương
Thúy Kiều của Trần Ích Nguyên - GS văn học chuyên giảng dạy và nghiên
cứu tiểu thuyết cổ Trung Hoa ở Đài Loan - được Phạm Tú Châu dịch ra tiếng
8

Việt. Tác giả đã tiến tới định vị một cách đích đáng cho Kim Vân Kiều truyện
cũng như ảnh hưởng của nó trong và ngoài nước từ Minh Thanh về sau nhưng
việc nhắc tới Kim Vân Kiều truyện quan hệ đối sánh với Truyện Kiều còn rất
chừng mực.
Công trình So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam của
Đổng Văn Thành đăng trên Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng năm 1986 cũng
được Phạm Tú Châu dịch sau đó ít lâu. Văn bản Đổng Văn Thành dựa vào để
so sánh với Kim Vân Kiều truyện là một bản dịch của giáo sư Hoàng Dật Cầu.
Qua việc so sánh Kim Vân Kiều truyện và bản dịch này, Đổng Văn Thành đã
đưa ra một số ý kiến xoay quanh những vấn đề chung của Kim Vân Kiều
truyện nhưng trong việc đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa hai tác phẩm
lại có nhiều điều bất ổn, đó là do tư tưởng của nước lớn pha trộn với việc
thiếu thông tin về Truyện Kiều. Những nhà nghiên cứu tên tuổi của Việt Nam
đã không ngần ngại bày tỏ chính kiến với những gì Đổng Văn Thành đưa ra:
Nguyễn Khắc Phi với Nhân đọc bài Kim Vân Kiều truyện của Đổng Văn
Thành, Phạm Tú Châu với Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch, Hoàng Văn Lâu
với Cũng là một kiểu so sánh văn học Nhưng chính bài viết của Đổng Văn
Thành đã khơi ra một vấn đề lớn còn tồn tại trong lịch sử so sánh Truyện
Kiều, nó khiến các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nhìn nhận lại giá trị của
Kim Vân Kiều truyện cũng như cách so sánh đúng đắn hai tác phẩm này là
phải dựa trên tiêu chí thể loại.
N.I.Niculyn đã nghiên cứu so sánh Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện ở

- Ông tiến hành phân tích sơ lược bài từ Điệu nguyệt nhi cao và cho rằng
bài từ này đã nêu lên chủ đề Kim Vân Kiều truyện là “hồng nhan bạc mệnh,
hồng phấn trái thời”. Theo ông, đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã gộp
10

đoạn miêu tả tâm lý ngắn gọn, nội dung than thở cho thân thế trong tổ khúc
Thập bất hài và trong bài thơ luật của Thúy Kiều trong nguyên tác, làm nên
một tình cảm biểu lộ ra thật cảm động và mẫu mực điển hình cho thành công
về cải biên của Nguyễn Du. Như vậy, Đổng Văn Thành đã ghi nhận việc thể
hiện chủ đề tư tưởng của truyện qua bài từ Điệu Nguyệt nhi cao, một phần đã
thấy được sự sáng tạo và tính trữ tình của Nguyễn Du khi xử lý tổ khúc Thập
bất hài trong Kim Vân Kiều truyện nhưng đáng tiếc lại chưa đi sâu tìm hiểu
vấn đề này để đánh giá đúng đắn và đầy đủ hơn về cách xử lý của Nguyễn Du
đối với phần thơ từ này.
- Theo ông, về việc mượn những danh cú trong thi từ cổ Trung Quốc,
Nguyễn Du có nhiều chỗ dùng không thỏa đáng làm mất đi tính chân thực: Để
khen một câu thơ hết sức bình thường của Kiều đề trên tranh phong cảnh của
Kim Trọng, Nguyễn Du dùng câu thơ có sẵn của Đỗ Phủ tự khen tài thơ của
mình khi ông đã về già là câu “Bút lạc kinh phong vũ” (Tay tiên gió táp mưa
sa), khen nét chữ Thúy Kiều “Tinh khéo như thiếp tựa Lan Đình” (So vào với
thiếp Lan Đình nào thua), khen tài thơ của Kiều “Quán quân trên thi đàn đâu
nhường cho ai” (Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này). Qua đó, ta thấy Đổng
Văn Thành đã không hiểu cách dùng điển cố của Nguyễn Du. Thực ra Đổng
Văn Thành không biết tiếng Việt, ông đọc Truyện Kiều qua bản dịch sang
Trung văn của người Trung Quốc nên bị khúc xạ qua quan điểm người dịch
nên hiểu sai lệch văn bản là thực tế khó tránh khỏi.
Phan Ngọc trong Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều cho
rằng: “Con người trong tiểu thuyết truyền thống là con người hành động, tả xung
hữu đột, không một phút ngồi yên Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng ở đây đều
lăng xăng cả ngày. Khi ngồi yên không có việc gì làm thì họ phải làm thơ. Họ làm


- Ông nhận xét về thơ từ trong hồi 13 của Kim Vân Kiều truyện và đoạn
thơ tương ứng trong Truyện Kiều như sau: “Thanh Tâm tài nhân đã dành gần
hết một hồi 13 để tả cuộc chia tay hết sức chi tiết Đó thật là cuộc chia tay
của hai người bạn văn nhân, chén tạc chén thù, viện dẫn nào Biệt phú, Hận
phú của Giang Yêm, nào Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, chứ đâu chỉ là cuộc
chia tay của hai vợ chồng. Nguyễn Du đã thuật lại trong 28 dòng đầy lưu
luyến, ai oán, thi vị” [54, tr. 227]. Như vậy, ông cho rằng việc đan xen thơ từ,
bình thơ của Kiều - Thúc Sinh ở hồi 13 chưa hợp lý bởi không phù hợp với
hoàn cảnh, mối quan hệ của nhân vật và khẳng định tính hợp lý cũng như giá
trị nghệ thuật hơn hẳn của đoạn thơ tương ứng trong Truyện Kiều.
Trong Triết lý “Truyện Kiều” trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XX in trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc
nhìn văn hóa của NXB Giáo dục xuất bản năm 2008, Trần Nho Thìn cũng
nhắc tới cách xử lý của Nguyễn Du đối với thơ từ trong Kim Vân Kiều truyện
khi sáng tạo Truyện Kiều. Theo tác giả, đối với các bài thơ Kiều làm “theo
đơn đặt hàng”, không có cảm xúc mà chỉ mang tính chất phô diễn tài năng thì
Nguyễn Du không miêu tả cụ thể mà chỉ lướt qua. Như vậy Trần Nho Thìn đã
đặc biệt chú ý tới nguồn cảm hứng, cảm xúc sáng tác thơ từ của nhân vật.
Điều này có quan hệ mật thiết với quan niệm của ông về triết lý Truyện Kiều
là tài sắc và tài tình.
5. Đóp góp của luận văn
Luận văn sẽ hệ thống hóa lịch sử so sánh hai tác phẩm theo một hướng
quan tâm chưa được chú ý đúng mức, đó là cách xử lý của Nguyễn Du đối với
thơ và từ trong Kim Vân Kiều truyện. Những tiêu chí mà luận văn xác lập sẽ:
- Góp phần tìm hiểu những sáng tạo của Nguyễn Du khi vay mượn cốt
truyện Kim Vân Kiều truyện nói chung, nghệ thuật trữ tình cũng như nghệ
thuật tả nội tâm của Nguyễn Du trong Truyện Kiều nói riêng.
13


“So sánh Truyện Kiều và văn hóa Trung Quốc đang là một đề tài để ngỏ cho
những tìm tòi mới trong giao lưu tinh thần của hai dân tộc qua một kiệt tác”
[54, tr. 57]. Vì thế, trước khi tiến hành tìm hiểu cách xử lý của Nguyễn Du đối
với thơ và từ trong Kim Vân Kiều truyện, chúng tôi tiến hành tìm hiểu những
đặc trưng về mặt thể loại của hai tác phẩm này để xác định nguyên tắc đồng
cấp giữa hai tác phẩm, từ đó có thể tránh tình trạng so sánh khập khiễng.
1.1. Kim Vân Kiều truyện với truyền thống tự sự của tiểu thuyết chƣơng
hồi
Ông Trương Đình Hòe, một học giả người Việt Nam đang sống và làm
việc tại Pháp, đã xác định văn hệ Kim Vân Kiều truyện, kết quả có 20 tác
phẩm cùng đề tài về Vương Thúy Kiều thuộc nhiều thể loại khác nhau: sử,
truyện, thơ, Trần Đình Sử viết: “Mãi đến đời Khang Hy nhà Thanh, khoảng
1662 - 1729, Thanh Tâm tài nhân mới mở rộng quy mô truyện thành một pho
tiểu thuyết chương hồi Thanh Tâm tài nhân viết Kim Vân Kiều truyện trước
15

hết theo môtip cặp đôi truyền thống tài tử giai nhân, thư sinh - kỹ nữ” [54, tr.
32]. Ông cũng cho rằng: “Kim Vân Kiều truyện không còn thuần túy tiểu
thuyết tài tử giai nhân, mà đã chuyển sang loại “tiểu thuyết nhân tình” có
khuynh hướng viết những điều mắt thấy tai nghe đời thường, có khuynh
hướng hiện thực” [54, tr. 40]. Nhưng trước hết, ta thấy Kim Vân Kiều truyện
nằm trong dòng tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, là sự minh họa rõ nét các
đặc điểm của tự sự chương hồi truyền thống.
Tiểu thuyết chương hồi chiếm một vị trí rất quan trọng trong diện mạo
tiểu thuyết Trung Quốc. Được hình thành từ những người kể chuyện rong với
các biến cố lịch sử, truyền thuyết và pho sử thi dân gian nên đặc điểm nổi bật
của thể loại này là sự xuất hiện đậm đặc của yếu tố tự sự. Trong truyện, người
kể thường dùng bút pháp “bạch miêu”, kể hoàn toàn khách quan, tuyệt nhiên
không bày tỏ thái độ chê trách hay tán dương đối với nhân vật hay câu
chuyện. Trần Đình Sử giải thích: “Thuật ngữ bạch miêu vốn là của hội họa,

Quốc từ truyền kỳ đời Đường, tiểu thuyết thế sự Kim Bình Mai, tiểu thuyết
anh hùng Tam quốc diễn nghĩa, tiểu thuyết tài tử giai nhân kết hợp được yếu
tố “kỳ”, “xảo”, yếu tố con người đời thường, yếu tố cơ trí, mưu mẹo với yếu
tố giáo huấn, khuyến thiện, trừng ác chỉ có yếu tố con người đời thường
đem lại hai hệ quả mới: tăng cường miêu tả chi tiết cụ thể và đã chú ý miêu tả
tâm lý con người. Các yếu tố này biểu hiện đặc biệt trong Kim Vân Kiều
truyện Yếu tố giáo huấn thể hiện ở cái chí treo gương bất hủ của Kiều. Yếu
tố miêu tả, phân tích tâm lý cũng có chỗ đặc sắc Phân tích tâm lý đòi hỏi
phải miêu tả chi tiết cụ thể, nhỏ nhặt, và nhiều chỗ Thanh Tâm tài nhân cũng
đạt được việc lấy tâm trạng mà soi sáng hành động” [54, tr. 45]. Ông cũng ghi
nhận những ưu điểm của Kim Vân Kiều truyện so với các tiểu thuyết tài tử
17

giai nhân khác: “Một là truyện nhấn mạnh tới quy luật tài mệnh tương đố
Hai là có một cốt truyện hay, nhiều sự biến giày tía vò hồng, thể hiện tư tưởng
may rủi biến ảo khôn lường ở đời Ba là bút pháp miêu tả tâm lý khai thác
nội tâm, ngôn ngữ độc thoại mặc dù còn thiếu nhất quán nhưng với tư cách là
một thủ pháp thì khá mới mẻ, đáng chú ý” [54, tr. 53].
Tóm lại, chúng tôi nhận thấy nếu xét về yêu cầu của nghệ thuật tự sự,
khả năng của người kể chuyện được bộc lộ trong việc nhìn sâu, nhìn kĩ một sự
vật rồi tả nó ra một cách tỉ mỉ thì Thanh Tâm tài nhân đã làm tốt công việc
này. Rõ ràng, ta cần phải công nhận thế mạnh tự sự của nguyên tác là văn
xuôi nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận thế mạnh của Truyện Kiều với
tư cách là truyện thơ mà lối “bạch miêu” không có được.
1.2. Truyện Kiều với truyền thống tự sự - trữ tình của truyện thơ Nôm
Trong Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử đã tiến hành khảo sát kỹ
lưỡng tính tổng hợp về thể loại của Truyện Kiều, ông viết: “Nguyễn Du đã
tổng hợp tài tình các thành tựu nghệ thuật tự sự và trữ tình của thời đại mình để
sáng tạo ra phẩm chất Truyện Kiều” [54, tr. 65]. Ông đã đặt Truyện Kiều vào
tương quan với thể loại ngâm khúc (đặc biệt là sự ảnh hưởng của Chinh phụ

Bao năm qua, truyện Nôm vẫn là một vấn đề phức tạp, những vấn đề
liên quan tới nó đều trở thành những vấn đề tranh cãi của các nhà nghiên cứu.
Về định nghĩa truyện Nôm, Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử
yếu) đã xác định: “Truyện Nôm là tiểu thuyết viết bằng văn vần”. Trần Đình
Sử - Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học) xem truyện
Nôm là “truyện thơ viết bằng thể lục bát”. Những định nghĩa này mới chỉ đề
cập được mặt hình thức mà chưa nói được đặc trưng về thi pháp thể loại
truyện Nôm.
19

Về đặc điểm truyện Nôm, Nguyễn Tấn Đắc viết: “Truyện thơ là thể loại
hàng đầu ở Đông Nam Á. Đặc điểm lớn nhất của thể loại này là sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa văn học nói và văn học viết, giữa chất dân gian và bác học”
[14, tr. 15]. Trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, trên cơ sở tìm hiểu sâu
cơ sở xã hội của sự hình thành, phát triển cũng như những đặc điểm của thể
loại này, Đặng Thanh Lê nhận xét: “Sự xuất hiện của truyện Nôm là một bước
trưởng thành lớn của phương thức tự sự và thể loại tiểu thuyết bằng thơ trong
văn học cổ Việt Nam. Với số lượng lớn, với nội dung tư tưởng khá tiến bộ và
hình thức nghệ thuật có tính dân tộc và tính nhân dân, truyện Nôm đã biểu hiện
một cách độc đáo và sâu sắc truyền thống nhân đạo Việt Nam, một truyền
thống bắt nguồn từ tiếng nói sau lũy tre xanh kết hợp với tâm tư tình cảm của
người trí thức tiến bộ dưới thời kỳ phong kiến suy tàn. Sự ra đời của thể loại
truyện Nôm đồng thời là nền móng để chắp cánh cho thiên tài Nguyễn Du, tác
giả Truyện Kiều, ngôi sao số một của truyện Nôm” [34, tr. 98]. Kiều Thu
Hoạch cho rằng: “Truyện Nôm do chủ yếu lấy truyện xưa tích cũ làm đối tượng
miêu tả, diễn ca, nên vô hình trung cũng mang theo luôn vào thể loại của mình
một số đặc trưng của truyện cổ tích hoặc truyện kể dân gian trong cách xây
dựng nhân vật, trong cách miêu tả thời gian không gian, trong hình thái cấu
trúc tác phẩm và trong một số biện pháp nghệ thuật khác” [24, tr. 162]. Theo
ông, truyện Nôm là một thể loại sinh thành và phát triển từ cội nguồn văn hóa

vật trong truyện Nôm, ông cho rằng: “Truyện Nôm rõ ràng đã sáng tạo ra lời
kể, lời than, lời bình cố định, lời thoại mang nội dung tư tưởng, tâm lý. Nhân
vật được khắc họa như là những chủ thể có đời sống nội tâm nhất quán” [54,
tr. 90-91]. Như vậy, bản thân thể loại này có tính chất tổng hợp về mặt thể
loại và về phương thức biểu hiện nghệ thuật, truyện thơ là sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa tự sự và trữ tình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status