Đặc điểm hồi kí của các nhà thơ Lưu Trọng Lư - Huy Cận - Xuân Diệu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG NGỌC HUYỀN ĐẶC ĐIỂM HỒI KÍ CỦA CÁC NHÀ THƠ
LƯU TRỌNG LƯ – HUY CẬN – XUÂN DIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số:60.22.34

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Văn Lân

Hà Nội-2010 1


Trang

7
8
8
8
8
8
8
8
8
9
9
9
13
17

2
  ……………………
             ,
…………………………………………………………………
…………………………………………………
2.1.1 Hình ảnh người mẹ và người cha thân yêu .………………………….
2.1.2 Gương mặt những người thân và những câu chuyện đáng nhớ của tuổi
thơ
2.2 Tháng ng và ………………………
2.2.1 Cuộc sống dưới mái trường…………………………………………
2.2.2 Những người thầy tài năng và tâm huyết……………………………
2.2.3 Những người bạn đáng quý ……………
2.2.3.1 Nhà thơ Xuân Diệu…………………………………………………
2.2.3.2 Nhà văn Nguyễn Tuân ……………………………………………
2.2.3.3 Nhà thơ Phạm Hầu ………………………….……………………

61
61
62
64
65
66

3
 ,
………………………………………………………………….
3.1. …………………………………….
 ………………………………………………
3.2.1 Giọng trữ tình thấm thía ……………………………………………
3.2.2 Giọng điệu ngọt ngào ………………………………………………
3.2.3. Giọng suy tư, triết lý………………………………………………….
 …………………………………………………
3.3.1 Ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh …………………………………
3.3.2 Ngôn ngữ đan xen giữa lời kể, lời cảm và miêu tả……………………
KT LUN
TÀI LIU THAM KHO

68
68
72
74
77
79
82
83
89

diễn đàn mạng đăng tải. Sự xuất hiện của các tác phẩm hồi kí đều được dư luận
chú ý. Trong số đó, hồi kí do các nhà văn, nhà thơ, những người hoạt động ở lĩnh
vực văn học nghệ thuật viết vẫn được độc giả quan tâm hơn cả. Đề tài nghiên
cứu Đặc điểm hồi kí Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu của chúng tôi mong
muốn đóng góp một phần nhỏ bé làm sáng rõ những đặc trưng nội dung và hình
thức của thể loại này qua các tác phẩm hồi kí của ba nhà thơ lớn trong nền văn
học Việt Nam hiện đại.

5
Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, là ba nhà thơ tiêu biểu, với ba phong
cách riêng tạo nên sự phong phú cho thơ ca Việt Nam. Trong cả sự nghiệp cầm
bút, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu đã gặt hái được nhiều thành công và có
vị trí xứng đáng trong nền văn học nước nhà. Xuân Diệu, Huy Cận được nhận
giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I) năm 1996, đến năm 2000
– Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cũng có tên Lưu Trọng Lư.
Bên cạnh những vần thơ tha thiết, nồng nàn, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân
Diệu cũng viết hồi kí như để tổng kết lại quãng thời gian cuộc đời đã qua. Ki ức
của bất kì ai cũng có những điểm tối và những ánh sáng lấp lánh. Hồi kí của các
ông bên cạnh những câu chuyện riêng tư vẫn đậm đà tư liệu xã hội. Dù thơ ca
mới là lĩnh vực sáng tác chính nhưng hồi kí vẫn mang dấu ấn phong cách đặc sắc
của các nhà thơ. Cùng những công trình nghiên cứu sâu sắc về sự nghiệp thơ văn
của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, chúng tôi, muốn góp thêm một tiếng
nói khẳng định sự đa dạng trong sáng tác của các nhà thơ thông qua việc khảo
sát một số tác phẩm hồi kí: Những bước đường tư tưởng của tôi (Xuân Diệu –
1958), Hồi kí song đôi (Huy Cận – 1986), Mùa thu lớn (Lưu Trọng Lư – 1978),
Nửa đêm sực tỉnh (Lưu Trọng Lư 1987) Số lượng tác phẩm dù không nhiều
nhưng những cuốn hồi kí của các nhà thơ thực sự có một nội dung tư tưởng
phong phú và đặc sắc về nghệ thuật.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu khái quát về sự nghiệp của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân

vậy mà Huy Cận đặt tên hồi kí của mình là “Hồi ki song đôi”. Cuộc sống và thơ

7
đã cho tôi người bạn thân nhất, cho tôi tâm hồn tri kỉ, tấm lòng tri âm nơi Xuân
Diệu(…). Tôi đang viết hồi kí chung cho cả hai người…Phần hồi kí của Xuân
Diệu do Xuân Diệu kể lại với Hoàng Trung Thông và Tịnh Hà (em trai ông)
nhưng được Huy Cận viết lại cho gọn lời và mạch lạc.
Những bước đường tư tưởng của tôi (1959) được biết đến là tác phẩm tiểu
luận, phê bình. Trong đó ông cũng kể lại một cách thành thực quá trình lột xác
của mình, chuyển bờ tư tưởng, từ ý thức cá nhân, tiểu tư sản trở thành ý thức
công dân, ý thức Cách mạng. Cách mạng đã thay đổi đời và thay đổi thơ ông,
đem lại cho ông cũng như nhiều nhà Thơ mới cuộc giải phóng thực sự về tư
tưởng, hướng tới cái chung của Tổ quốc, của cộng đồng và nhân dân.
Qua những trang hồi kí, các nhà thơ đã thể hiện được suy nghĩ của mình ở
nhiều phương diện: nghệ thuật, xã hội và con người.
Có thể nói rằng việc nghiên cứu hồi kí của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân
Diệu còn là một đề tài mới mẻ, chưa được chú ý. Nhưng chúng tôi hi vọng rằng
sau công trình này sẽ có thêm nhiều nghiên cứu, chuyên luận cùng đề tài để hoàn
thiện và làm phong phú hơn sự nghiệp sáng tác của Lưu Trọng Lư, Huy Cận,
Xuân Diệu cũng như của văn học Việt Nam hiện đại.
Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào về hồi kí của ba
nhà thơ. Có chăng chỉ là một số bài báo nhận xét, đánh giá khi các cuốn hồi kí
xuất bản, hoặc trong một vài bài báo nghiên cứu về hồi kí của các nhà văn, nhà
thơ Việt Nam nói chung có nhắc đến như:
- Đặc điểm của Hồi kí 1975-2000, Nguyễn Quang Hưng, (Tạp chí văn học
nghệ thuật, số 4.2006).
- Hồi kí và bút kí thời kì đổi mới, Lý Hoài Thu, Tạp chí văn học nghệ
thuật số 10.2008

8

cách chọn lọc, dẫn dắt tình tiết, đến ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật.
4.2 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần tạo một cái nhìn rộng mở, linh hoạt hơn về thể loại hồi kí,
đồng thời có những đóng góp nhất định nhằm làm sáng rõ vị trí, đặc điểm của các
nhà thơ ở thể loại này. Có thể khẳng định, đây là công trình đầu tiên đặt vấn đề
nghiên cứu đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của hồi kí Lưu Trọng Lư, Huy Cận,
Xuân Diệu.
Từ những cuốn hồi kí được nghiên cứu, độc giả sẽ có thêm cái nhìn sâu sắc
hơn về cuộc đời, sự nghiệp và con người của các nhà thơ thông qua những gì họ
bộc lộ qua dòng hồi ức.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia
thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về hồi kí
Chương 2: Đặc điểm nội dung hồi kí của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân
Diệu.
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật biểu hiện hồi kí của Lưu Trọng Lư, Huy
Cận, Xuân Diệu. 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỒI KÍ

1.1 Giới thuyết về thể loại hồi kí
1.1.1 Định nghĩa hồi kí
Theo 150 thuật ngữ văn học “Tác phẩm hồi kí là một thiên trần thuật từ
ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải là tôi hư cấu ở một số tiểu thuyết, truyện

sự kiện, thông tin từ hồi kí còn mang tính phiến diện, chủ quan. Tuy nhiên ở một
khía cạnh nào đó những sự thiếu hụt về sự kiện, sự phiến diện đó lại được bù đắp
bằng sự diễn đạt sinh động của tác giả. Chính điều này đem đến cho hồi kí giá trị
như một tư liệu của đương thời. Do không đòi hỏi nhiều ở tính định hình cấu trúc
và định hướng thẩm mĩ nên một số tác phẩm hồi kí có mối quan hệ gần giống
với: văn xuôi lịch sử, truyện, chân dung văn học, tự truyện, nhật kí…Tôn trọng
tính chân thật về số liệu, thời gian, địa điểm hồi kí gần với văn xuôi lịch sử và có
cốt truyện, tình tiết, đề tài cuộc sống như truyện. Ở một phương diện nào đó, khi
các nhà văn, nhà thơ viết hồi kí, nhớ lại về bạn bè, về đồng nghiệp thì hồi kí gần
với chân dung văn học. Nhưng phải nói rằng hồi kí giống với nhật kí và tự
truyện hơn cả.
Nhật ký là loại văn ghi chép hàng ngày, vốn thiên về tóm tắt sự kiện đang
diễn ra trong chính cuộc sống thường nhật của người viết theo hình thức trần
thuật ngôi thứ nhất số ít, có đáng số ngày tháng. Nhật kí là sự ghi chép lại câu
chuyện, cảm xúc của cá nhân, nó thường rất chân thành, không hề có yếu tố hư

12
cấu hay bịa đặt. Nhật kí ghi lại những gì đã xảy ra, đã trải nghiệm. được viết ra
chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc công bố ra dư luận. Người
viết nhật kí tôn trọng sự thật, nhưng cũng có cách đánh giá theo cảm nhận chủ
quan của mình. Nhật kí giống hồi kí ở chỗ không có sự cách biệt giữa thời gian
viết và thời gian được nói tới.
Tự truyện bao gồm cả yếu tố truyện (hình thức, một thể loại tự sự) và yếu tố
tự thân (nội dung, bản thân) của người của người viết truyện. Tác phẩm tự truyện
thường có thiên hướng lý giải cuộc sống đã qua của tác giả như một chỉnh thể,
tạo nên những đường nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình. Người
viết tự truyện có khi vận dụng hư cấu, thêm thắt hoặc xắp xếp lại các chi tiết của
cuộc đời mình. Nếu tác giả tự truyện thường tập trung vào quá trình hình thành
và lịch sử thế giới nội tâm của mình trong sự tương tác với thế giới bên ngoài, thì
hồi ký thường lưu ý trước hết đến thế giới bên ngoài ấy, với những con người,

kinh nghiệm sống dồi dào được đào sâu tích luỹ từ hiện thực khách quan. Nếu ai
cho rằng viết hồi kí là dễ dàng bởi chỉ đơn thuần là trần thuật lại sự việc, biến cố,
kỉ niệm theo trí nhớ thì thật sai lầm. Nhớ lại quá khứ thì dễ, nhưng làm sông dậy
quá khứ ấy lại chẳng dễ chút nào.
Trải qua biết bao nhiêu phong ba bão táp của lịch sử với cả vinh quang và cay
đắng, con người càng muốn được viết lại, ôn lại kí ức. Nhiều cái hồi trẻ ta thấy
đúng thấy hay, về già lại thấy sai thấy xấu, đó cũng là đối cực tạo cảm xúc, nhu
cầu muốn viết lại. Thời đã qua đối với người đọc mọi thế hệ đều là kho thông tin
bí mật và giàu có để có thể hiểu sâu sắc hơn về xã hội về cuộc đời. Hồi kí giống

14
như những thước phim quay ngược lại để “xem” lại những gì mình trải qua trong
quá khứ. Hồi kí ghi nhận lại dòng hồi tưởng, hồi ức bằng trí nhớ nhớ về những
sự việc đã xảy ra đối với bản thân trong quá khứ. Tất nhiên chỉ những sự kiện
thực sự có ấn tượng mạnh mới đủ sức in sâu đậm trong tâm trí người viết, ít có
yếu tố hư cấu, thường kể ở ngôi thứ nhất. Hồi kí rất gần với tiểu thuyết tự truyện
khi cùng khai thác về cuộc sống của cá nhân mình và đem vào đó cuộc sống của
nhiều người khác nữa. Viết hồi kí là thêm một lần được “sống lại” như Lưu
Trọng Lư đã nói. Thời gian cuộc đời chẳng chờ đợi ai cả, chẳng cho ai cái quyền
được thắm lại lần thứ hai. Nhưng con người hoàn toàn có quyền cho mình cơ hội
được là mình, được kinh qua lại những cảm giác xa xưa bằng cách hồi tưởng,
bằng cách nhớ nhung. Và tất nhiên bao giờ niềm thương, nỗi nhớ ấy cũng để lại
trong tâm hồn chúng ta sự xót xa vì hoài niệm và nhớ tiếc, “tiếc nhớ những cái gì
chỉ đến một lần mà thôi” (Lưu Trọng Lư). Tôn trọng và yêu thương quá khứ là
tôn trọng và yêu thương bản thân mình. Dù cái ngày đã qua nhiều tiếng cười hay
thấm đẫm nước mắt nó vần là một phần không thể nào chối bỏ. Soi vào kí ức là
để nhận ra mình, để được cùng buồn, cùng vui với cái ngày xưa.
Mười năm trở lại đây, khi các tác phẩm văn học ít gây được tiếng vang đối
với bạn đọc thì các cuốn hồi kí hay tự truyện xuất bản và không xuất bản lại tạo
ra một làn sóng xã hội mạnh mẽ. Vậy tại sao hồi kí lại thu hút được đông đảo

hay bị hiểu lầm, tìm lại chính xác nguyên nhân của những thất bại, những thiếu
sót trước đây. Như thế có thể thấy, hồi kí là một phương tiện hữu hiệu để con
người bày tỏ quan điểm một cách công khai về chính bản thân mình cũng như về

16
người khác, để thực hiện trên diễn đàn công khai sự minh oan chính đáng cho
những con người mà mình yêu mến, cảm phục. Nhưng viết hồi kí cũng là một
công việc thực sự khó khăn, bởi mấy ai can đảm nhìn vào sự thật một cách công
tâm, khách quan, nhất là những sự thật phũ phàng. Khi nói không đúng sự thật
thì không phải là hồi kí nữa. Viết hồi kí là đấu tranh với bản thân mình.
Ở góc độ là một tác phẩm văn học, hồi kí là nơi để người viết giãi bày tâm sự,
bộc lộ suy ngẫm của mình, có thể liên quan đến cuộc đời, lẽ sống và cả đến
những vấn đề lớn lao của nhân loại, của đất nước. Yêu cầu giãi bày hay bộc lộ
này thường gặp ở những người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sáng tạo nghệ
thuật hay hoạt dộng chính trị - xã hội. Rất nhiều người trong số họ đã để toàn bộ
tâm sức còn lại vào những năm tháng cuối cùng của mình để có được một thiên
hồi kí như cầu mong sự đồng cảm của người đời nay và cả người đời sau.
Từ những trang hồi kí văn học của các nhà văn, nhà thơ bên cạnh tư liệu lịch
sử, cuộc sống chúng ta còn tìm thấy rất nhiều tư liệu quý giá về người viết như
quá khứ tuổi thơ, gia cảnh gia đình, mối quan hệ bạn bè…Cái người ta mong đợi
nhất ở một cuốn hồi kí chính là phần liên quan đến nghề nghiệp của tác giả trên
nền chung của xã hội mà nghề đó có liên quan. Đọc hồi kí của Tố Hữu, ta thấy
ông đã khẳng định mình thuộc dòng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hay
Lưu Trọng Lư tự đánh giá mình trong Nửa đêm sực tỉnh qua lời nhận xét của cụ
Phan Khôi về tập truyện ngắn “Người sơn nhân”: “Tôi là người viết truyện giỏi
nhất, từ Hoàng Ngọc Phách đến Tự lực văn đoàn cũng không ai hơn tôi”. Tô
Hoài lại rất tâm đắc với câu nói về mình “Tôi vào nghề văn có trong ngoài ba
mươi năm trước 1945, và viết như chạy thi”.
Tuy nhiên vị trí của hồi kí chưa được chú ý nhiều. Xuân Diệu cũng suy nghĩ
“hồi kí nước mình như một thửa ruộng bắt đầu cày; không ai, hay ít ai chịu viết

lâu khi tái bản vẫn được độc giả yêu mến đón nhận. Cho đến nay, số lượng hồi kí
trong văn học Việt Nam hiện đại là vô cùng đồ sộ và phong phú, bao gồm cả
những tác phẩm được xuất bản thành sách và hàng trăm trang hồi kí đăng tản
mát trên các báo, tạp chí…đã tạo nên bức tranh sinh động trong nền văn học
nước nhà. Tác giả của các cuốn hồi kí không chỉ là những người hoạt động trong
lĩnh vực văn chương, mà còn thuộc nhiều ngành nghề khác nhau: chính trị gia,
ca sĩ, cầu thủ bóng đá, diễn viên, người mẫu… Thậm chí, đôi khi có những
người còn xem viết hồi kí là một cơ hội để nổi tiếng, chứ không hẳn chỉ đơn giản
là nhìn lại quãng thời gian đã sống và trải nghiệm của mình. Chính vì thế không
phải tác phẩm hồi kí nào cũng thực sự có giá trị cho người đọc. Hồi kí phải tôn
trọng sự thực lịch sử, xã hội, kể lại nó với tất cả diễn biến như đã diễn ra, nhưng
khi sự thật đó được tung ra trước công chúng rộng rãi thì không phải chỉ là
chuyện quyền được nói, quyền được biết nữa. Người viết hồi kí không thể vin
vào chiêu bài “sự thật trên hết”, “sự thật lên tiếng” mà quên đi hậu quả xã hội
của nó. Ở đây, chúng tôi chỉ xin được nói tới hồi kí của các nhà văn, nhà thơ, nhà
lí luận phê bình văn học, tức là những tác giả sống và gắn bó với văn chương
nghệ thuật. Hầu hết tác phẩm của họ đều có giá trị đóng góp cho đời sống văn
học Việt Nam hiện đại. Các tác giả phần lớn đều trưởng thành từ trước Cách
mạng tháng tám, trải qua hai cuộc kháng chiến và chứng kiến nhiều biến động
lớn của văn học nước nhà. Hồi kí của họ ra đời cũng tạo nên những tiếng vang
nhất định. Nhiều sự kiện văn học trong quá khứ, nhiều số phận, gương mặt được
tái hiện lại theo cách nhìn mới.
Nhóm nhà văn có: Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu, Nguyễn Công Hoan
với Đời viết văn của tôi, Tô Hoài với Cỏ dại, Tự truyện, Những gương mặt –

19
chân dung văn học, Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Vũ Bằng với Bốn mươi năm
nói láo, Phan Tứ với Trong mưa núi, Bùi Hiển với Bạn bè một thuở, Duy Khán
với Tuổi thơ im lặng, Phùng Quán với Tuổi thơ dữ dội…Trong đó, Tô Hoài là
cây bút viết nhiều, viết khỏe hơn cả. Cỏ dại (1943) là kí ức của tuổi thơ bất hạnh,

Còn Nguyễn Vỹ ở tác phẩm Văn thi sĩ tiền chiến (1994) với một cách kể
tự nhiên, dung dị và nhiều chỗ đã phác họa ra được những chân dung sống động,
những khoảng cách giữa hiện tại và quá khứ không có độ chênh lệch khác biệt
lắm, những kỷ niệm, những vui buồn hằng ngày trong mối quan hệ giữa các văn
nhân thi sĩ với nhau, toàn những chuyện người đọc muốn biết mà ít có điều kiện
để biết được thấy ở đây.
Bên cạnh đó còn có hồi ký của các tác giả như Vũ Hoàng Chương: Ta đã
làm chi cho đời ta, Nguyễn Xuân Sanh: Những gương mặt đáng yêu (2001).
Một gương mặt nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam không thể không
nhắc đến đó là Tố Hữu – thi sĩ cách mạng với hồi kí Nhớ lại một thời (2000). Tố
Hữu, đã tái hiện lại một thời hoạt động và một thời làm thơ. Với quan niệm thơ
là đời, Tố Hữu kể về những con người đã đánh thức tâm hồn ông, giác ngộ lí
tưởng cách mạng cho ông, về những con người đã đi vào thơ ông. Thơ ca và
chính trị không tách rời nhau, với Tô Hữu sống là phải làm thơ và hoạt động.
Những ngày tháng gian khổ, tù tội, vượt ngục cũng được ông kể lại tường tận.
Nhóm các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng phong phú về số lượng và
có nhiều tác phẩm giá trị. Hồi ký Đặng Thai Mai (tái bản năm 2000) là niềm tự
hào về truyền thống gia đình, sự tu dưỡng nghệ thuật, một nhật lệnh thượng khẩn

21
trong tình thế văn hóa lúc bấy giờ. Nguyễn Hiến Lê với cuốn Hồi ký Nguyễn
Hiến Lê xuất bản lần đầu 1985 và tái bản có bổ sung vào năm 2000. Cuộc đời tác
giả trực tuyến trôi cùng dòng chảy thời gian, trải qua bao thăng trầm của lịch sử.
Ở đây tác giả nghiêng về những đánh giá chính mình. Qua quan niệm dịch văn
học, quan niệm viết sách, người đọc nhận ra một học giả đầy nhân cách và đáng
khâm phục về những đóng góp cho văn học nước nhà.
Vũ Ngọc Phan viết Những năm tháng ấy (1987) với quan niệm “Mình viết
về mình nếu không tốt đẹp thì cũng đầy thơ mộng. Điều quan trọng là nó có biểu
hiện tính chân thật hay không”. Trên quan niệm đó, từ những câu chuyện của kí
ức tác giả đánh giá những nhà văn, tác phẩm của họ rồi tập trung đánh giá công

nền cho đời tâm hồn. Và lại ai cũng chỉ sống có một đời, tôi không kể đời tôi
trọn vẹn thì ai sẽ kể thay cho tôi trong thăm thẳm của thời gian.”(5;54-55). Chính
suy nghĩ đó đã thôi thúc Huy Cận phải kể chi tiết và kể chân thực về cuộc đời
của mình. Thi sĩ tài hoa Xuân Diệu cũng cho rằng “Tôi nghĩ rằng mỗi con người
có nhiệm vụ phải đào sâu vào kỉ niệm của mình, vào quá khứ tình cảm của mình
để làm giàu thêm cái vốn nhân đạo trong mỗi con người chúng ta(…)Chính nhà
văn kể lại tuổi ấu thơ của mình sẽ làm cho các em thiếu niên có tâm hồn, nuôi
dưỡng tình cảm”(3;122 ) Như vậy là ông đã nhận thức và đề cao giá trị giáo dục
của những tác phẩm hồi kí chân chính – đứa con tinh thần của người nghệ sĩ.
Qua những câu chuyện về cuộc đời của người viết, độc giả, đặc biệt là độc giả
trẻ tuổi sẽ tìm thấy nhiều bài học bổ ích, nhiều kiến thức phong phú, có giá trị.
Xuân Diệu không ngần ngại kể cho chúng ta về tuổi thơ bất hạnh của ông, về

23
những tháng ngày đi học, về những gương mặt đáng nhớ đã in dấu trong cuộc
đời nhà thơ. “Tôi thấy những kỉ niệm như thế là một thế giới phong phú, nếu
mình kể cho con em mình nghe thì tâm hồn của chúng được giàu thêm. Chúng sẽ
căm thù lạc hậu, nghèo khổ…Chúng ta chớ làm lòng con người khô cạn, coi
những tình cảm thường là tình cảm nhỏ. Có những cuộc đời bình thường mà vĩ
đại, nhưng cũng phải nói thêm: bình thương và sâu sắc nữa chứ(…) Tôi hơi tiếc
là tôi hầu như không bỏ thì giờ vào việc viết hồi kí để nhớ lại cái thế giới rất là
phong phú của tuổi nhỏ, vì con người từ 7,8 tuổi đến 20 tuổi là ở trong thời kì
phong phú nhất của tình cảm. Tôi nghĩ rằng chúng ta xây dựng con người mới
không chỉ xây dựng bằng tư tưởng, mà còn phải xây dựng bằng nội tâm nữa.
Chính nội tâm mới đẻ ra tình cảm, mà tình cảm mới làm hậu thuẫn cho tư tưởng”
(3;124)
Dù tác phẩm hồi kí của các nhà thơ không nhiều, nhưng thực sự là những
cuốn hồi kí có giá trị. Giá trị đầu tiên nằm ở ngay mục đích sáng tác. Có hai cuốn
được viết khá sớm Những bước đường tư tưởng của tôi (Xuân Diệu 1958), Mùa
thu lớn (Lưu Trọng Lư-1978), Hồi kí song đôi (Huy Cận) viết năm 1986 đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status