Quan niệm về thơ của Xuân Diệu - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN VĂN KHÁNH
QUAN NIỆM VỀ THƠ CỦA XUÂN DIỆU

Chuyên ngành : Lý luân văn học
Mã số : 5.04.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2003


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 13
CHƯƠNG THỨ NHẤT:THƠ VÀ NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ THƠ 13
I - Lƣợc khảo một số định nghĩa về thơ. 13
Xung quanh một số định nghĩa về thơ cổ 14
Xung quanh một số định nghĩa về thơ hiện đại 15
II- Những quan niệm cơ bản về thơ. 21
1. Quan niệm về thơ trong văn học trung đại. 21
Em xuống dưới ao em bắt con cua 23
Hắn kêu một tiếng, chàng ôi ! 23
2. Quan niệm về thơ trong văn học hiện đại. 27
2.1. Quan niệm về thơ từ đầu thế kỷ XX - 1945. 27
2.2. Quan niệm về thơ từ 1945 đến 1975. 31
2.3. Quan niệm về thơ từ 1975 đến nay 33
CHƯƠNG THỨ HAI 38
QUAN NIỆM CỦA XUÂN DIỆU VỀ ĐẶC TRƢNG THƠ 38
I - Xuân Diệu quan niệm về thơ 38
1. Xuân Diệu quan niệm về bản chất thơ. 38
2 . Xuân Diệu quan niệm về nhà thơ. 49
3. Xuân Diệu quan niệm về quy trình sáng tạo thơ. 58
4. Xuân Diệu quan niệm về chất lượng thơ. 66
II- Xuân Diệu quan niệm về phê bình thơ 74
1. Xuân Diệu quan niệm về mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu, cách thức, phương pháp phê bình
thơ. 76
2. Xuân Diệu quan niệm về mối quan hệ giữa nhà thơ, nhà phê bình thơ với công chúng thơ.
83
CHƯƠNG THỨ BA 88
QUAN NIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA XUÂN DIỆU VỀ THƠ 88


1
A. MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
1.1. Thơ là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm và có vô số quan niệm
về thơ. Có ngƣời nói : “thơ là muối của cuộc đời”, và cao hơn, thơ chính là
“máu của cuộc đời”. Lê Quí Đôn quan niệm : “Thơ khởi phát tự trong lòng
người ta”. I.W.Goethe xem thơ là hành động tự giải toả của mỗi ngƣời. Với Tố
Hữu, thơ là “tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn”. Nhà thơ Sóng Hồng coi
thơ là “tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật” để
có khả năng “thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Platon xem
“thơ là tặng phẩm của thần linh”v.v và v.v Dù thơ là gì đi nữa thì vẫn phải
là kết tinh và thăng hoa của mồ hôi và nƣớc mắt cuộc đời. Có thể nói có bao
nhiêu nhà thơ, ngƣời đọc thơ thì có bấy nhiêu cách hình dung “định nghĩa” và
quan niệm về thơ khác nhau. Lãnh địa tinh thần này, mang trong mình những
quan niệm riêng tiềm ẩn đầy sức ám gợi không dễ gì thấu hiểu nắm bắt. Chính
điều đó khiến thơ ca trở thành một loại hình nghệ thuật đƣợc sự quan tâm hàng
đầu của các nhà nghiên cứu. Nói đến thơ là nói đến một hệ thống mở, một
dòng chảy dào dạt luôn vận động biến đổi không ngừng mà sự luận bàn là một
hành trình không có hồi kết.
1.2. Xuân D Đình Thi có ngôn ngữ tự nhiêà một nhà thơ lớn, một “hiện
tượng nghệ thuật điển hình” là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”,
ngƣời góp phần làm nên “một thời đại trong thi ca”, đồng thời cũng là “người
tái tạo nguồn sinh lực cho Thơ mới những năm 36 - 39 và đẩy trào lưu thơ ca
này vào thời cực thịnh”. Sau cách mạng, hồn thơ Xuân Diệu rộng mở nhƣ
muốn ôm trùm cả cuộc đời mới. Hai trƣờng ca “Ngọn quốc kì” và “Hội nghị
non sông” chứng tỏ ông đã bƣớc đúng giữa đại lộ thơ ca cách mạng. Bên cạnh
thơ chính trị, thơ chiến đấu và xây dựng cuộc sống mới, con ngƣời mới, mảng
thơ tình yêu đã làm cho tên tuổi Xuân Diệu thành bất tử. Đến nay, ông vẫn là
nhà thơ tình số một, nhà thơ tình “kiệt xuất” chƣa ai vƣợt qua đƣợc.



3
thơ từ đó đƣa ra những lý giải quan niệm về thơ đó là gì? Nó ảnh hƣởng, chi
phối đến thực tiễn sáng tác : cả thơ và phê bình thơ của bản thân nhà thơ nói
riêng cũng nhƣ vai trò, tác động và ý nghĩa của quan niệm ấy trong sự vận
động và phát triển của thơ ca dân tộc nói chung ra sao? Qua đó, phần nào giúp
ngƣời đọc có một nhận thức toàn diện hơn về một tác gia văn học lớn của dân
tộc trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, gần trọn thế kỷ XX “một thế kỷ bùng nổ,
một thế kỷ nhảy vọt trong tiến trình phát triển tuần tự của toàn nhân loại” đặng
giúp chúng ta có thể bƣớc vào một thời kỳ văn học mới với bản lĩnh và những
thành tựu xứng đáng hơn. Bởi vì, nói nhƣ Jiri Wolker : “Qua nhà thơ, người
ta thấy tầm cỡ thời đại mà ông ta sống.”
2. Lịch sử vấn đề.
Xuân Diệu là một tác gia văn học lớn. Ông luôn đƣợc sự quan tâm của
đông đảo giới nghiên cứu, phê bình. Ở những vấn đề và dƣới những góc độ,
những phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học đã đi sâu và làm
sáng tỏ nhiều điều lý thú. Nhƣng vấn đề, quan niệm về thơ của Xuân Diệu lại
chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Vấn đề thƣờng chỉ dừng lại ở một phạm vi hẹp
hay một mức độ vừa phải nếu không muốn nói là lƣớt qua. Hoặc cũng có khi
các tác giả trình bày quan niệm về thơ cho cả một trào lƣu, một giai đoạn
nhƣng lại chƣa đi sâu vào từng tác giả cụ thể và coi đó là một đối tƣợng nghiên
cứu có tính hệ thống; cũng cần phải thấy rằng quan niệm về thơ của mỗi tác giả
luôn bị chi phối bởi quan điểm nghệ thuật của các khuynh hƣớng, trào lƣu văn
học mà tác giả đó chịu ảnh hƣởng cũng nhƣ của từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Hơn nữa phần lớn các nhà nghiên cứu mới chỉ đề cập tới quan niệm về thơ của
Xuân Diệu trên các “văn bản lộ thiên” tức là các phát ngôn trực tiếp của tác giả
mà chƣa chú trọng đúng mức đến “văn bản chìm”, ẩn chứa trong chính thực
tiễn sáng tác của nhà thơ. Dầu vậy, luận văn luôn tiếp thu, kế thừa những kết
qủa của những ngƣời đi trƣớc, coi đó là những gợi ý, những điểm tựa quan
trọng làm nên tính hệ thống của vấn đề quan niệm về thơ của Xuân Diệu.

hơn cho bằng sự hoan nghênh của tuổi trẻ”(29.T33, 37). Mặc dù vậy, qua Thi

5
nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khai mở nhiều vấn đề quan trọng cho việc tìm
hiểu quan niệm về thơ nói chung và của Xuân Diệu nói riêng.
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (1941) có nêu cảm
giác chung của ngƣời trí thức lúc bấy giờ về thơ Xuân Diệu. Họ đã từng “phải
chặc lưỡi mà kêu: Thơ đâu lại có thứ thơ quái gở như thế !”. Nó ngây ngô quá,
“Tây” quá nhất là về âm điệu. Theo Vũ Ngọc Phan: dù là thơ mới hay cũ, đã là
thơ hay phải đảm bảo hai điều: ý nghĩa và âm điệu. ý nghĩa phải khoái hoạt,
hùng hồn, thú vị phát ra bởi những tƣ tƣởng thâm trầm, còn âm điệu du dƣơng
là nhờ ở cú pháp phân minh, chữ dùng tề chỉnh và quán xuyến. Đồng thời ông
cũng bênh vực Xuân Diệu và cho rằng không thể dùng hai chữ “ngô nghê”
đƣợc. Bởi vì “nếu ngũ quan bị kích thích, thi nhân chứa chan tình cảm mà phát
ra lời thơ, thì trong trí tưởng tượng, những cái vô hình cũng có thể hoá ra hữu
hìmh : Thơ cũng có thể ví như những thỏi nước đá mát lạnh và cảm đến não
con người ta, nhạc có thể ví như một thứ rượu mùi, tuy ngọt, tuy đậm đà, thơm
tho, mà có thể làm cho người ta say tuý luý”(48.T49). Và cuối cùng Vũ Ngọc
Phan kết luận : “Xuân Diệu thật là một người có tâm hồn thi sĩ”. Rằng Xuân
Diệu quan niệm về quá trình sáng tạo thơ phải luôn “với sự nồng nàn, tha
thiết” bằng nhịp đập của trái tim chứ không phải là một tay “thợ thơ” chỉ chăm
chăm chú ý vào kĩ thuật, chú ý đến “xác” mà không chú ý đến “hồn”.
2.2. Tình hình nghiên cứu quan niệm về thơ của Xuân Diệu
sau cách mạng tháng Tám.
Nguyễn Văn Long trong Từ điển Văn học, T.II, Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, mục Xuân Diệu có đề cập ảnh hƣởng của thơ ca lãng mạn và tƣợng
trƣng Pháp đến phong cách thơ Xuân Diệu. Nguyễn Văn Long cho rằng: Do
chi phối bởi quan niệm về bản chất, chức năng và quy luật tự biểu hiện, đặc
biệt quan niệm về “cái tôi” bản thể trong mỗi nhà thơ và mỗi tác phẩm thơ mà
trong thơ, Xuân Diệu đã “kêu gọi tuổi trẻ tận hưởng hạnh phúc trần thế, nhằm

niệm nghệ thuật của chính nhà thơ. Tác giả đã phân tích, lý giải và chứng
minh cụ thể không chỉ ở lý luận mà còn trong cả thực tiễn sáng tác. Chẳng hạn
khi tác giả cho rằng : ngoài “Lời đưa duyên” cho tập “Thơ Thơ” Xuân Diệu

7
còn có hai bài thơ, mà theo tác giả, trực tiếp bộc lộ quan điểm sáng tác của
Xuân Diệu. Đó là hai bài : “ Cảm xúc” và “ Lời thơ vào tập gửi hương”.
Trên nền tảng của chủ nghĩa lãng mạn, cùng với “ Cây đàn muôn điệu”
của Thế Lữ, có thể coi hai bài thơ trên là những lời tuyên ngôn của Xuân Diệu
nói riêng và phong trào Thơ mới nói chung. Ở đây Xuân Diệu cũng mộng mơ,
cũng tôn thờ cái đẹp nhƣng đằm thắm say sƣa hơn với cuộc đời trong bổn phận
thi sĩ của mình: Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn dây
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.
Xuân Diệu luôn muốn đem lòng mình “ ràng rịt với muôn xuân”, muốn
thắt chặt với cuộc đời bởi “ trăm tình yêu mến”. Cũng có lúc ông tự ví mình
nhƣ con chim mang tiếng hót đắm say, khác biệt dâng hiến cho đời :
Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
Trong chuyên luận, tác giả khẳng định những câu thơ trên có thể coi là
sự phát ngôn đầy đủ cho quan điểm “ nghệ thuật vị nghệ thuật”. Đồng thời nó
nằm trong hệ thống quan niệm về thơ và nghệ thuật nói chung của Xuân Diệu .
Sau đó tác giả đi đến kết luận : “cùng với một số tác phẩm văn xuôi như : Phấn
thông vàng, Người lệ ngọc, Chú lái khờ Xuân Diệu là một trong số rất ít ỏi
các nhà thơ lãng mạn 32 - 45 đã bộc lộ rõ rệt những quan niệm sáng tác của
mình bằng thơ” . Những luận điểm trên đã gợi mở cho chúng tôi rất nhiều
trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Gần đây nhất trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà, Hà
Nội 2002 với đề tài Xuân Diệu - nhà nghiên cứu phê bình thơ trong đó có một

không đề cập tới một cách trực tiếp nhƣng các bài viết đã cung cấp cho chúng
tôi những tiền đề cần thiết.
Nếu nhƣ Huy Cận, ngƣời bạn lớn trong đời và trong thơ, ƣớc mong nhƣ
ngƣời nông dân “được gieo hết hạt khi kết thúc cuộc đời” thì điều ấy Xuân
Diệu đã làm đƣợc. Ông đã hiến dâng cho cuộc đời tất cả những gì có thể, vẫn

9
là ông hoàng của thơ tình, nhà thơ tiên phong của cách mạng với tinh thần:
“Phần tinh hoa của người nghệ sĩ mà cũng là phần sống của cuộc đời là ở tác
phẩm”.
Với thực tế trên, chúng tôi nhận thấy : cho đến nay chƣa có công trình
nào đi sâu nghiên cứu quan niệm về thơ của Xuân Diệu với tƣ cách là một đề
tài độc lập. Vì vậy, thông qua luận văn chúng tôi mong muốn có một cái nhìn
hệ thống cùng một số ý kiến riêng, đóng góp vào sự nghiên cứu chung trên cơ
sở học hỏi, kế thừa kết quả bấy lâu của giới nghiên cứu.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Về lý luận : Muốn sáng tạo thơ, hiểu thơ cần phải có một hệ thống quan
niệm đúng đắn về thơ : quan niệm về đặc trƣng, bản chất thơ, về nhà thơ, qui
trình sáng tạo thơ, chất lƣợng thơ Hệ thống quan niệm đó sẽ ảnh hƣởng và
chi phối đến quá trình sáng tác thơ, phê bình thơ của bản thân Xuân Diệu nói
riêng và nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung.
Qua việc hệ thống và phân tích những quan niệm về thơ của Xuân Diệu,
chúng tôi cố gắng chỉ ra những đóng góp từ đó tự nó trả lời và đóng vai trò cơ
sở, nền tảng dẫn đến thành công trên nhiều lĩnh vực trong đó đặc biệt là phê
bình thơ cổ điển. Nếu xem xét quan niệm về thơ của Xuân Diệu nhƣ một chỉnh
thể nghệ thuật khi đặt trong mối quan hệ đa chiều của một tác gia văn học lớn
ở cấp độ loại hình học tác giả, sẽ giúp cho tác giả đó đƣợc nghiên cứu sâu sắc,
toàn diện hơn. Đó là những đóng góp về mặt lý luận.
Về thực tiễn : Luận văn góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu tác
giả Xuân Diệu và có thể làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên các

những đánh giá của Xuân Diệu về thơ thông qua công tác nghiên cứu phê bình
thơ cổ điển của Xuân Diệu. Đây đƣợc coi là thực tiễn sáng tác sinh động, đặc
sắc, hệ quả tất yếu của những quan niệm đúng đắn về thơ.
4.3. Phạm vi nghiên cứu.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, chúng tôi nghiên cứu hầu hết các tác phẩm
của Xuân Diệu, trong đó tập trung hơn vào Xuân Diệu toàn tập - tập III,
“Công việc làm thơ” và bộ sách hai tập : “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”.

11
Quan niệm về thơ nói chung và quan niệm về thơ của Xuân Diệu nói riêng là
một vấn đề mới, khó. Đây là lĩnh vực rộng lớn và phức tạp mà luận văn không
thể khảo sát hết các yếu tố thuộc nội hàm của quan niệm về thơ. Giải trình điều
đó, cũng có nghĩa là chúng tôi tự ý thức rằng: trong luận văn không tránh khỏi
những điều còn phiến diện, cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu từ nhiều
phía, nhiều công trình.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Sự kết hợp của nhiều phƣơng pháp nghiên cứu là tính tất yếu của một
công trình khoa học. ở đây chúng tôi sử dụng phƣơng pháp hệ thống, phƣơng
pháp so sánh lịch sử (đồng đại và lịch đại), phƣơng pháp phân tích chứng
minh Để thực hiện nhiệm vụ và tăng thêm độ tin cậy của đề tài nghiên cứu,
luận văn còn vận dụng các phƣơng pháp liên ngành nhƣ : Văn học sử, phê bình
văn học, lý thuyết tiếp nhận văn học, thi pháp học
Đồng thời trong quá trình tiến hành nghiên cứu, chúng tôi cố gắng kết
hợp một cách nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực tiễn sáng tác để làm sáng tỏ
các quan niệm về thơ của Xuân Diệu, một nhà thơ, trong số rất ít có cả một hệ
thống quan niệm về thơ và hệ thống quan niệm đó ảnh hƣởng chi phối không ít
tới đời sống thơ ca hiện đại.
6. Cái mới của luận văn.
Đây là luận văn đầu tiên tìm hiểu một cách có hệ thống và quy mô vấn
đề quan niệm về thơ của Xuân Diệu (không xem đây là kết luận ổn định vì

hình thức đầu tiên sơ khai, đơn giản của thơ. Nhƣng thơ còn là một “hình thức
nghệ thuật cao quý, tinh vi”. Nên chỉ đến khi con ngƣời có nhu cầu tự biểu
hiện, thơ mới thực sự hình thành, theo đúng nghĩa của nó.
Theo quan niệm thông thƣờng, thuật ngữ thơ hàm nghĩa cho cả hai loại
thể thơ trữ tình và thơ tự sự. Song đặc trƣng của thơ bộc lộ tập trung nhất qua
thơ trữ tình.
Hiện thực cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho thơ nẩy mầm đâm lá.
Nhƣng đặc trƣng của thơ lại gắn với những cảm xúc, suy tƣ với chiều sâu của
thế giới nội tâm trong mỗi cá nhân ngƣời nghệ sĩ. Và ở những cảnh huống đặc
biệt không hề giống nhau, thi ca đã làm nên những phong cách và giá trị vô
cùng phong phú.
Từ những phẩm chất và đặc điểm khác nhau đó mà có nhiều cách lý giải
không hề giống nhau, thậm chí đối lập nhau về bản chất của thơ. Có nhiều
ngƣời xem bản chất của thơ ca là tôn giáo. Nó gắn với những gì thiêng liêng
huyền bí. Platon xem “thơ hay là tặng phẩm của thần linh”. Sau này
Hayđêghơ, Hăngri Brêmông, Malácmê đều chịu ảnh hƣởng của quan niệm
cho thơ là nhịp cầu trung gian nối thần linh với loài ngƣời.
Mặc dù thơ gắn với thế giới nội tâm sâu kín đa thanh, đa dạng, đa chiều,
vừa hữu hình vừa vô hình, không dễ gì nắm bắt. Song không vì thế mà đẩy thơ
ca vào địa hạt của tôn giáo, thần bí xa lạ không bắt rễ và thoát ly với cuộc đời.

14
Thơ từ bao đời vẫn là “tiếng nói tươi trẻ nhất” , “hồn nhiên nhất của tâm hồn”
đƣợc chảy ra từ mạch ngầm của cuộc sống, nói tiếng nói của cuộc sống, một
tiếng nói tinh khiết và sâu thẳm nhất.
Đạo thiên chúa giáo có quan niệm : mỗi ngƣời tin đạo đều có thể tìm cho
mình một cách đến với chúa, đến với thiên đƣờng. Vậy thì cũng có thể nói rằng
: mỗi nhà thơ, ngƣời đọc thơ, yêu thơ đều có thể tìm cho mình một cách để đến
với thơ hay. Và có bao nhiêu nhà thơ, ngƣời đọc thơ, yêu thơ thì cũng có thể
nói có bấy nhiêu cách định nghĩa về thơ.

rung động của tấm lòng, của con tim. Không đƣợc lọc qua và “đầu thai” bằng
cảm xúc, bằng tấm lòng, bằng tình cảm làm sao có đƣợc những áng thơ hay tồn
tại mãi trong lòng ngƣời đọc.
Cũng vƣợt lên trên quan niệm về thơ trong văn học cổ, gần gũi với quan
niệm về thơ với Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhậm phát biểu : “Mây gió cỏ hoa xinh
tươi kỳ diệu đến đâu hết thẩy cũng đều từ trong lòng nẩy ra” và cao hơn, sâu
hơn ông đi vào bản chất của quá trình sáng tạo thơ, cái thiết cốt khơi nguồn cho
sáng tạo thơ hay là khi lòng ngƣời xúc động, và làm thăng hoa những giá trị
tƣởng nhƣ bình thƣờng bỗng trở thành bất tử : “Hãy xúc động hồn thơ để ngọn
bút có thần”. Xúc động càng lớn sự thần kỳ trong ngọn bút càng cao. Có thể
nói sự xúc động lớn đã tạo ra những “phút giây thiêng” sáng tạo nên những giá
trị tinh thần vĩnh cửu. Phải chăng cũng vì lý do trên mà có ngƣời đã quan niệm
thơ là tặng phẩm của thần thánh?
Xuất phát từ giây phút kỳ diệu “để cho ngọn bút có thần” nhà thơ xƣa
không hề khống chế khả năng vô biên của trí tƣởng tƣợng. Cho nên cũng lại
xuất hiện quan niệm : “thơ là sự lung linh giữa khả giải và bất khả giải”. Đó
thực sự cũng là một quan niệm về thơ không phải không đúng đắn và tiến bộ.
2- Xung quanh một số định nghĩa về thơ hiện đại
Mỗi thời đại khác nhau có những quan niệm về thơ không giống nhau.
Tất nhiên không có sự đoạn tuyệt và cắt đứt, không có sự loại bỏ một cách
tuyệt đối. Thực tế cho thấy không ít những quan niệm về thơ tronng xã hội thời
xƣa vẫn đƣợc kế thừa và phát huy một cách tích cực vừa làm giầu thêm kho

16
tàng lý luận về thơ vừa làm phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chẳng
hạn những câu thơ sau đây tuy cách diễn đạt hình tƣợng thơ có khác nhau,
nhƣng ít nhất vẫn cùng chung một dòng chảy, một quan niệm về vai trò chức
năng của thơ, một điểm đến, một địa chỉ là vì cuộc sống con ngƣời, sự tiến bộ
của loài ngƣời :
- Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Với Xuân Diệu, ông lại có một cách định nghĩa riêng về thơ. Đành rằng
thơ là kết quả của cái phần cao sâu nhất là tâm trí của những con ngƣời chân
chính, nhƣng phải có sự đồng điệu, lòng say mê thì mới tạo ra thơ: “Thơ là
tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con
người lao động, phấn đấu, suy nghĩ, yêu thương trong cái phần cao nhất, sâu
nhất của họ tức là tâm trí.” hoặc “Ai cảm được cái kỳ diệu của tình yêu thì
cũng có thể bằng cách tương đương liên hệ mà lĩnh hội được cái kỳ diệu của
thơ. Tình yêu và thơ là hai phạm trù mà trong đó cái tuyệt vời thông minh kết
hợp với cái tuyệt diệu ngây thơ, là hương đặc biệt của một số tâm hồn thi sĩ và
tình nhân.”
Có lẽ vấn đề trung tâm trong thơ là cảm xúc và tình ngƣời, cho nên
nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ đã đề cập tới vấn đề này. Hoài Thanh phát biểu :
“thơ là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại muốn làm thơ trước hết
phải có tình”. Cũng đề cập tới sự rung động của cảm xúc trong sáng tạo thơ,
nhƣng hơi cực đoan khi các tác giả của nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng : “Thơ
là sự rung động : có rung động là có thơ. Phải cần và chỉ cần có rung động ấy.
Thơ vì thế không cần để hiểu mà cốt để cảm. Thơ được ví như Giai nhân, như
Đẹp, như Trời. Trước lúc chưa kịp hiểu nó là gì ta đã bị nó quyến rũ, lôi kéo,
xâm chiếm”
Giáo sƣ Hà Minh Đức, một nhà khoa học có uy tín trong giới nghiên cứu
thơ nói riêng và lý luận văn học nói chung, khi đã “Đi hết một mùa thu”, với
hơn nửa thế kỷ lao động và sáng tạo, trải qua bao suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu
sắc đã phát biểu một định nghĩa khái quát về đặc trƣng và ý nghĩa của thơ ca :

18
“thơ là tiếng nói của một tâm hồn, của niềm ước mơ, thơ bộc lộ khát vọng
vươn tới một lý tưởng đẹp đẽ và cao thượng”. Tất nhiên, không phải bài thơ
nào cũng bộc lộ một cách trực tiếp những luận điểm trên. Nhƣng suy cho đến
cùng thơ hay, thơ lớn dù trực tiếp hay gián tiếp đều “bộc lộ khát vọng vươn tới
một lý tưởng đẹp đẽ và cao thượng”. Điều đó nhƣ là một chân lý.

những hoài bão cao đẹp và rộng lớn của con ngƣời. Ông cho rằng : “Thơ là sự
cố gắng không ngừng của con người để tự vượt lên mình”
Có thể nói rằng các định nghĩa về thơ là vô cùng phong phú. Mỗi định
nghĩa dù ở Việt Nam hay trên thế giới, dù thời xƣa hay thời nay, dù hẹp hay
rộng, dù của nhà thơ, nhà nghiên cứu thơ hay bạn đọc thơ đều có cái lý riêng
của nó, ít nhất là ở tƣ duy, ở điểm nhìn, ở thời điểm hiện tại của bản thân ngƣời
phát biểu. Cũng chính do những đặc điểm trên đã làm nên tính phong phú của
các định nghĩa về thơ. Có ngƣời xuất phát từ quan điểm giai cấp, có ngƣời xuất
phát từ quan điểm nghệ thuật, lại có ngƣời chỉ định nghĩa trên bình diện nội
dung, cũng có ngƣời chỉ định nghĩa trên bình diện hình thức. Thậm chí có
những định nghĩa theo chúng tôi là khá cực đoan chỉ căn cứ vào một khía cạnh
hình thức của thơ. Chẳng thế mà Gectruđơ Stainơ đã phải thốt lên : một bông
hồng là một bông hồng, cũng nhƣ thơ là thơ, thế thôi, cần gì nhọc lòng định
nghĩa mà tốn giấy mực. Để hệ thống lại cho dễ hiểu hơn, chúng ta có thể tạm
sắp xếp lại theo mấy nhóm sau đây. Nhóm một : Coi thơ luôn gắn với cuộc
sống : “Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp”, “Thơ là cuộc sống tập
trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống”, “Thơ biểu hiện tinh chất cuộc sống”,
“là cái nhuỵ của cuộc sống” Nhóm hai : coi thơ là sợi dây ràng buộc mọi
ngƣời : “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm”, “Thơ là
chuyện đồng điệu”, “là tiếng nói tri âm” Nhóm ba: xu hƣớng dựa vào cấu
trúc của ngôn ngữ : “Thơ trƣớc hết và cuối cùng là cuộc hành trình trọn vẹn
của ngôn từ, là cuộc đời của ngôn từ”, “Thi sĩ là ngƣời tạo tác ngôn từ”, “Một
bài thơ là những ngôn từ sáng giá đứng trong những trật tự hoàn hảo”. Nhà
nghiên cứu Phan Ngọc viết : “Thơ là cách tổ chức hết sức quái đản để bắt
ngƣời tiếp nhận phải nhớ, phải xúc cảm và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ

20
chức ngôn ngữ này.” Nhóm bốn : Thi pháp học lại nêu ý kiến về thơ theo một
cách riêng. Bakhtin, nhà thi pháp học nổi tiếng nêu sự khác nhau giữa thơ và
văn xuôi : “Thơ là tiếng độc bạch (monologique), một nỗi oán thán, một niềm

Định nghĩa 1 : “Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách
cao đẹp. Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà thơ, mà nhiều khi thông
qua tình cảm đó, nói lên niềm hi vọng của cả một dân tộc, những ước mơ của
nhân dân, vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của
lịch sử loài người.
Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có
tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và
lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy
được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng
vang nên nhạc điệu khác thường.
Thơ là một viên ngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời. Thơ
là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là nhạc, là trạm khắc theo một cách riêng. Nhưng
thơ có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian mà những nghệ
thuật khác không có. Cho nên thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng
tượng.”
(Sóng Hồng)
Định nghĩa 2 : “Thơ là một thông báo thẩm mỹ trong đó kết hợp 4 yếu
tố: có Ỳ, có Tình, có Hình, có Nhạc.”(55.T22)
( Mã Giang Lân)
II- Những quan niệm cơ bản về thơ.
1. Quan niệm về thơ trong văn học trung đại.
Trƣớc khi tìm hiểu quan niệm về thơ trong văn học trung đại, chúng tôi
xin đề cập vài nét đến quan niệm về thơ trong văn học dân gian. Văn học dân
gian là những sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân. Văn học dân
gian ra đời từ rất sớm, khi mà đời sống và nhận thức xã hội của con ngƣời còn
thấp kém, còn đang ở buổi sơ khai, tuổi ấu thơ hồn nhiên của lịch sử loài

Trích đoạn Xuân Diệu quan niệm về mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu, cách thức, phương pháp phê bình Xuân Diệu quan niệm về mối quan hệ giữa nhà thơ, nhà phê bình thơ với công chúng thơ. Quan niệm về thơ của Xuân Diệu qua phê bình thơ hiện đại Quan niệm về thơ của Xuân Diệu qua phê bình giới thiệu những tinh hoa Quan niệm về thơ của Xuân Diệu qua nghiên cứu phê bình thơ cổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status