BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
O O O LÊ THỊ THANH ĐIỆP NGHỆ THUẬT PHÊ BÌNH THƠ CỦA
XUÂN DIỆU
LUẬN ÁN THẠC SĨ
Ngành: Lý luận văn học
Mã số: 5. 04. 01
Người hướng dẫn: PGS. TS. Phùng Quý Nhâm
TP. Hồ Chí Minh 2001
3
1.2.2.1 Với cả một kho tàng kinh nghiệm quá báu rút ra từ thực tiễn cuộc sống, từ vốn
học thức uyên bác, Xuân Diệu để lại các tác phẩm đi sâu vào nghề nghiệp làm thơ, có
công rất lớn trong việc dìu dắt thế hệ trẻ. 34
1.2.2.2 Sự chuyển biến tích cực trong suy nghĩ về việc sáng tác, phê bình thơ của
Xuân Diệu: 37
1.2.3 Những phát hiện mang tính khái quát của Xuân Diệu về tư tưởng phong cách
các nhà thơ cổ điển Việt Nam: 38
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT PHÊ BÌNH THƠ CỦA XUÂN
DIỆU
53
2.1 Nghệ thuật nghiên cứu phê bình: 53
2.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật - một cách lý giải mới của Xuân Diệu: 56
2.1.1.1 Hành văn: 56
2.1.1.2 Âm thanh- nhạc điệu: 64
2.1.1.3 Sự tương xứng trong ngôn từ thơ: 67
2.1.1.4 Sự trong sáng của ngôn ngữ thơ: 69
2.1.2 Mối quan hệ giữa thơ với các yếu tố ngoài tác phẩm: 71
2.1.2.1 Mối quan hệ giữa hiện thực và nhà thơ: 71
2.1.2.2 Quan hệ giữa thơ và công chúng: 74
2.1.3 Phong cách tác giả : 76
2.2 Phong cách phê bình của Xuân Diệu: 79
2.2.1 Thái độ làm việc nghiêm túc, tỉ mỉ là điều kiện cho những sáng tạo mới mẻ, độc
đáo: 79
2.2.2 Tấm lòng chân tình, thiện cảm, là cái "tâm " của một phong cách lao động chân
chính: 81
2.3 Đánh giá một số mặt mạnh, yếu trong phê bình thơ của Xuân Diệu: 84
2.3.1 Những thành công trong phê bình văn học của Xuân Diệu: 84
2.3.1.1 Tính phổ cập (công chúng): 84
Tinh thần làm việc, kiến thức uyên bác của Xuân Diệu trên những trang viết là điều
khiến chúng ta cần thiết phải suy nghĩ quan tâm và tìm hiểu dù biết chắc chắn việc tìm hiểu
thế giới nghệ thuật của một nhà văn là không đơn giản, con đường tìm kiếm chân lý bao giờ
cũng chông gai ghềnh thác.
Song trong tình hình nghiên cứu văn học có phần chậm phát triển như hiện nay, nhìn
lại những đóng góp của Xuân Diệu cả trong thơ lẫn trong lĩnh vực phê bình thơ chúng ta có
thể khẳng định chắc chắn rằng ông là một tài năng văn học phong phú không lặp lại, một nét
độc đáo trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu của văn học Việt Nam hiện đại.
Tuy không đơn giản nhưng nếu có cách hiểu đúng những đóng góp của Xuân Diệu
tức đã có lòng trân trọng và công tâm với tác giả, với Xuân Diệu, một trong những con chim
đầu đàn của văn học Việt Nam.
TP Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2001
Người viết Lê Thị Thanh Điệp
7
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Xuân Diệu là một tác giả lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện
đại. Hơn nửa thế kỷ cầm bút ông đã để lại cho đời một di sản văn học đồ sộ với nhiều thể
loại: thơ, văn xuôi, phê bình, khảo cứu. Ở lĩnh vực nào, Xuân Diệu cũng có những đóng góp
đặc sắc.
- Số lượng những công trình bài viết về thơ Xuân Diệu phong phú, đa dạng. Trong khi
đó sự nghiệp phê bình, lý luận của ông chưa được tập trung nghiên cứu công phu, đầy đủ.
Người ta thường đánh giá cao Xuân Diệu với cương vị là nhà thơ hơn là nhà phê bình.
- Với luận án này, người nghiên cứu mong góp phần tìm hiểu một vấn đề khoa học trên
cơ sở hệ thống các ý kiến về vấn đề có liên quan của những người đi trước. Qua đó, chúng tôi
cũng nêu một số suy nghĩ, nhận xét về vấn đề đã nêu ra như một đóng góp nhỏ cho việc
nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật phê bình thơ của Xuân Diệu.
mỉ ( ) Đối diện với mỗi tác giả, tác phẩm cổ điển, anh chia xẻ với ta từng biến thái bé
nhỏ xảy đến trong tâm trí. Đó là một lối viết muốn đào cùng tát cạn mọi hiện tượng,
phanh phui bằng hết mọi bí mật trong sáng tác văn học." (51.66)
- Nhận xét những ưu điểm, nhược điểm về văn phong phê bình của Xuân Diệu, Mai
Quốc Liên viết: "Nhiều chữ, nhiều câu của Nguyễn Du đã được Xuân Diệu khảo chứng
và bình luận, câu chữ nào Xuân Diệu cũng làm rõ ra được một số khía cạnh thú vị ( )
Xuân Diệu có cách viết thật thoải mái ( ) Xuân Diệu đã để lộ ra quá nhiều nhiệt tình
của mình ra ngoài lời, và do đó đôi khi anh nói nhiều quá, trong khi đáng lẽ anh nên
thâm trầm hơn, ẩn kín hơn, anh chỉ cần gợi ra mà người ta hiểu, ít lời mà hàm súc sâu
xa." (41.50)
- Trên tạp chí diễn đàn Văn Nghệ Việt Nam tháng 4 năm 1999, Nguyễn Thanh Hà với
bài viết "Xuân Diệu bàn về công chúng thơ" đã có ý kiến "Ông bàn về chất lượng thơ một
cách kỹ càng, với một thái độ tinh thần trách nhiệm đến mức "tót vời" cũng không
ngoài tâm tình là muốn sản phẩm thơ của chúng ta được người đọc công nhận hơn nữa,
mến yêu hơn nữa, có tác dụng cho bạn đọc đúng với cương vị là thơ." (31.3)
- Gần đây nhất Lưu Khánh Thơ tuyển chọn và giới thiệu các bài viết về lĩnh vực phê
bình của Xuân Diệu, tập hợp trong tập sách "Xuân Diệu - tác phẩm văn chương và lao động
nghệ thuật", đã nhìn nhận Xuân Diệu - như một tài năng phong phú và đa dạng "Xuân Diệu
là người tài năng, cố vốn văn hóa sâu rộng, có sự thẩm bình rất tinh tế ( ) trong khi
phê bình giới thiệu thơ có những lúc quá say sưa, Xuân Diệu không tránh khỏi sự nhiều
lời gượng ép, bạn bè trong giới đều thấy rõ nhược điểm này của ông, nhưng tất cả mọi
người đều đánh giá cao tâm huyết và tài năng của Xuân Diệu trong lĩnh vực này."
9
(69.20-21)
Ngoài ra, về vấn đề này, các nhà phê bình văn học Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn
Đăng Mạnh, Lê Đình Kỵ, các nhà thơ Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Quần Phương, Trần Đăng
Khoa đã ít nhiều đề cập đến trong các bài viết về nhà thơ - nhà phê bình Xuân Diệu.
Xung quanh những đánh giá về việc phê bình thơ của Xuân Diệu, chúng tôi nhận thấy
các tác giả đều có nhận định chung: Xuân Diệu là nhà phê bình thơ tài năng, có vốn hiểu biết
rộng, thái độ làm việc kỹ lưỡng, tỷ mỷ dù còn những hạn chế nhất định. Tìm hiểu sự uyên
Muốn tìm hiểu đầy đủ những giá trị đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình là
một công việc khó, đòi hỏi vốn kiến thức sâu rộng, sự làm việc nghiêm túc, thời gian lâu
dài Vì vậy do còn hạn chế nhiều về điều kiện chủ quan cũng như khách quan nên chúng tôi
cố gắng chỉ khảo sát văn phê bình Xuân Diệu ở phạm vi nghệ thuật qua các tập tiểu luận, các
công trình nghiên cứu của tác giả về các nhà thơ cổ điển Việt Nam
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Luận án gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung gồm 2 chương:
♦ Chương I: Những suy nghĩ vê phê bình vãn học (Đặc biệt về việc phê bình thơ) và sự
độc đáo trong phê bình thơ của Xuân Diệu.
♦ Chương 2 : Đặc điểm nghệ thuật phê bình thơ của Xuân Diệu.
11
CHƯƠNG 1: NHỮNG SUY NGHĨ VỀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC (ĐẶC BIỆT
LÀ PHÊ BÌNH THƠ) VÀ SỰ ĐỘC ĐÁO TRONG PHÊ BÌNH THƠ CỦA
XUÂN DIỆU
1.1 Những suy nghĩ về phê bình văn học:
1.1.1 Một số vấn đề về phê bình văn học:
1.1.1.1 Phê bình văn học:
Phê bình văn học là một môn khoa học viết về văn chương. Sáng tác và phê bình đều là
những hoạt động nghệ thuật mang tính sáng tạo nhưng là hai hoạt động tư duy khác nhau,
phương pháp khác nhau. Lý luận phê bình nghiên cứu văn học là một lĩnh vực hoại động vừa
mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Phê bình là một loại hoạt động nghệ thuật có
đặc điểm riêng, có tính cách riêng, yêu cầu riêng khác với hoại động sáng tác và hướng dẫn
việc sáng tác. Điều quan trọng nhất của phê bình là sự phân tích, sự lý giải để từ đó đánh giá,
khen ngợi hay phê phán nhằm thúc đẩy sự sáng tác của văn học.
Quan hệ giữa phê bình và sáng tác là mối quan hệ tương hỗ. Hai hoạt động đó dựa vào
nhau mà tồn tại, phát triển nhưng là hai hoạt động không phụ thuộc vào nhau. Không phải
sáng tác đẻ ra phê bình hay phê bình đẻ ra sáng tác mà cả hai đều là ý thức của thời đại. Điều
kiện hoạt động của phê bình là những sự kiện của thực tiễn sáng tác với những thành tựu và
những vấn đề của nó. Như Biêlinxki đã nói "Phê bình không phải tùy thuộc vào sáng tác,
trọng của mình vào việc tổng kết những quy luật thơ, các tác phẩm thơ." (59.126)
Đối tượng chủ yếu của văn học là con người, là cuộc sống của con người, là những
quan hệ xã hội của con người, là những nỗi yêu ghét, buồn, vui của con người. Nhà văn phản
ảnh cuộc sống thế nào và đề nghị cho con người những lẽ sống gì đó chính là điều mà người
phê bình phải quan tâm đến trước nhất và phải đủ trình độ đánh giá cho sâu sắc.
1.1.2.1.1 Yêu cầu về tri thức:
Phê bình là một khoa học, một nghệ thuật do đó cũng là một nghề nghiệp đòi hỏi sự
học tập và rèn luyện thường xuyên. Thực tế đòi hỏi người làm phê bình phải có sự am hiểu
sâu sắc những quy luật và đặc trưng của văn học, có bản lĩnh và tinh thông công việc "Dao có
mài mới sắc" (Xuân Diệu), người phê bình phải trang bị cho mình những tri thức về khoa học
xã hội, về văn hóa, lịch sử Người phê bình mà tri thức hạn chế thì khó có thể giúp gì thêm
cho sáng tạo và rồi cũng sẽ rơi vào công thức, vào những nhận định chủ quan, phiến diện.
13
Người làm công tác phê bình không tự tìm hiểu, nghiên cứu mà chỉ hoàn toàn dựa vào nhận
thức của người sáng tác thì sẽ dẫn tới những nhận định lệch lạc, sai lầm.
Như vậy, sự sắc sảo trong quan điểm, vốn kiến thức uyên bác, năng lực phân tích nhạy
bén và cảm thụ tinh tế là những yêu cầu tất yếu phải có ở một nhà phê bình.
1.1.2.1.2. Trách nhiệm và nhân cách của một người phê bình:
Nền phê bình chân chính là nền phê bình đấu tranh tư tưởng để tìm ra chân lý. Để có
nền phê bình tốt đòi hỏi phải có nhà phê bình tốt.
Những người làm cộng tác phê bình phải có sự tu dưỡng của bản thân. Thực tế đã cho
ta thấy rằng người nào càng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn xã hội bao nhiêu, càng có phẩm
chất tư tưởng và ý thức chính trị cao bao nhiêu, càng có khả năng và điều kiện đánh giá văn
học chính xác bấy nhiêu.
Một trong những yêu cầu trong sự tu dưỡng của người làm công tác phê bình là: Hiểu
được hiện thực của đời sống, nắm được yêu cầu của cách mạng "Muốn hiểu văn học cho
chu đáo, trước hết cần phải hiểu con người và cuộc sống, muốn đánh giá văn học cho tinh
tường, bản thân mình phải có một lý tưởng đấu tranh xã hội thật rõ ràng mới phân biệt
được nhạy bén ở một tác phẩm nhất định cái gì là lợi cái gì là hại cho sự nghiệp tiến bộ
của cuộc sống, giải phóng con người. " (52.265)
Viên là nhà thơ ưu tú đồng thời cũng là nhà phê bình thơ sắc sảo.
1.1.2.2 Suy nghĩ về chức năng của việc phê bình thơ:
Phê bình là sự kết hợp sự am hiểu văn học, lý luận và cảm thụ bằng trực giác nhằm tìm
ra cái hay mà người sáng tác có khi không tự biết "Đọc thơ và nhất là phê bình thơ, không
nên nặng về tỉa tót, như vậy sẽ đi đến tiểu xảo, mất cái chân chất, nó là một cái đích mà
những nhà thơ tài nghệ nhất cuối cùng đã đạt tới.( ) Những người có trách nhiệm,
những nhà văn, nhà phê bình văn học cần có con mắt tinh đời, tình văn, tinh thơ để nếu
chưa có đủ sức nhìn xa đăng chọn được các tác phẩm hay nhất liệt vào hạng cổ kim đông
tây, thì cũng đừng gieo rắc sự thẩm mỹ kém, đừng làm cho lan tràn một sự quá dễ đến
mức xô bồ". (21.158)
Phê bình là một công việc không đơn giản. Mục đích là khám phá, tìm hiểu tấm lòng
người sáng tác, vạch ra chỗ mạnh chỗ yếu của một đời thơ, một chặng đường thơ, từ đó xác
định được nhiệm vụ của phê bình, để có được hướngđi đúng với yêu cầu và nhiệm vụ mà
công tác phê bình đặt ra.
Nhiệm vụ của phê bình không chỉ là tuyên truyền cổ động cho các tác phẩm văn học,
phê bình không chỉ là nên làm công việc đem các tác phẩm ra thuyết minh, bình luận cho
người đọc biết cách thưởng thức, càng không phải là công việc ngồi nhận xét đủ các mặt của
một tác phẩm văn học để rồi có thể đi đến tuyên bố giá trị của các tác phẩm ấy, ca tụng hoặc
15
phủ nhận tài năng của tác giả mà nhiệm vụ phê bình là chủ động giúp cho việc phổ biến sâu
rộng một tác phẩm văn học trong quần chúng, giúp người đọc dễ lãnh hội, dễ cảm thụ một
cách tinh tế khoa học hơn những yếu tố đã làm thành giá trị của một tác phẩm văn học. Quan
trọng hơn, là giúp cho công chúng sự nhận định rõ ràng về giá trị một tác phẩm, tài năng một
tác giả.
Phê bình có tác dụng cổ vũ những cái tốt, cái hay, phát hiện những tài năng, phát huy
những nhân cách mới, đồng thời cần phân tích một cách đúng đắn, thẳng thắn với thái độ
chân thành những khuyết điểm, sai lầm của tác phẩm và tác giả: "Mỗi nhà phê bình thơ phải
tự mình khám phá ra những chân lý đặc sắc của nhà thơ mà mình muốn nói, dầu là tiếng
nói tri âm, tri kỷ, dầu là bình hay phê, dầu là ngôn hay luận, dầu là thi hay thoại rồi cuối
cùng cũng đi đến chân và lý" (7.236)
tác giả bằng tác phẩm văn học. Ở đó tác giả có thể bộc lộ sự nhận thức sâu sắc hay đơn giản,
phiến diện, có thể bày tỏ quan điểm khẳng định hoặc phủ định, ca ngợi hoặc phê phán; có thể
bộc lộ sự đánh giá công bằng hoặc không công bằng, hợp lý hoặc phi lý như Biêlinxki nói:
"Nghệ thuật không chấp nhận người ta đến với nó bằng những tư tưởng triết học trừu tượng.
Nó càng không dung nạp những tư tưởng xuất phát từ ngộ tính (entendement), nó chỉ chấp
nhận những tư tưởng nghệ thuật (idée poétique), và một tư tưởng nghệ thuật không phải là
một tam đoạn luận, một giáo điều hay một quy tắc, đó là một say mê mãnh liệt, một nhiệt
hứng Trong tâm trạng nhiệt hứng, tư tưởng xâm chiếm nhà thơ một cách đắm say như một
người tình xinh đẹp bằng xương bằng thịt mà ông ta chiêm ngưỡng, không phải bằng lý trí,
bằng ngộ tính, bằng tình cảm hay bằng một năng lực nào đó của tâm hồn, mà bằng toàn bộ
con người tinh thần của mình với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó,
vì thế, tư tưởng trong thơ không phải là một tư tưởng trừu tượng hay một hình thái chết, mà
là một sáng tạo sống động." (45.9)
Tư tưởng nghệ thuật cần được hiểu như một hình thái tinh thần rất cụ thể, nảy sinh do
sự cọ xát, va chạm một cách rất cụ thể giữa trí tuệ và tâm hồn người sáng tác với hiện thực
khách quan. Và tư tưởng đó, ngay từ khi ra đời, đã tự thể hiện ở dạng hình tượng, dù chỉ là
một thứ hình tượng phác họa còn thô sơ và chưa thật sáng sủa, rõ nét trong tâm linh nhà văn.
Nếu xác định khái niệm tư tưởng nghệ thuật của nhà văn với quan niệm như một thứ tư tưởng
trừu tượng, có tính tiên nghiệm đối với sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Tách rời nhà văn với
thế giới khách quan - Một thứ tư tưởng không bắt rễ vào đời sống, không phản ánh hiện thực
khách quan. Thật là một quan niệm sai lầm phản tư duy nghệ thuật chân chính, nếu nghĩ nhà
văn trước khi cầm bút đã có sẵn một tư tưởng và ông ta tìm cách thể hiện nó ra thành "hình
tượng" sinh động để thuyết phục người đọc mà thực ra tư tưởng tác phẩm chủ yếu được biểu
hiện bằng hình tượng, hay có thể nói đặc điểm của tư tưởng trong tác phẩm văn học là tư
tưởng - hình tượng.
17
Trong các tác phẩm thơ ca, tư tưởng thường được biểu hiện thông qua sự vận động của
cảm xúc và suy nghĩ, thông qua hệ thống hình tượng thơ và hệ thống các hình ảnh khác. Còn
trong các tác phẩm văn xuôi và tác phẩm kịch, tư tưởng tác phẩm được biểu hiện một cách
tập trung qua hệ thống nhân vật, từ những khái quát riêng biệt của từng nhân vật chính, tác
18
thời đại và quan sát nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc, mục đích hoạt động của nhà văn
là biến đổi đối tượng thẩm mỹ khách quan thành đối tượng thẩm mỹ chủ quan có khả năng
thỏa mãn và định hướng nhu cầu thẩm mỹ xã hội thì mục đích của nhà phê bình là phân tích
tác phẩm nhằm hướng dẫn việc sáng tác. "Người thẩm văn tốt thường là những người sống
sâu sắc cuộc sống của chính mình, sống sâu sắc với mọi người, với thiên nhiên, với những
gì được thấy, được nghe, được đọc, được yêu, được ghét, được nếm trải, bằng cả tâm hồn
luôn luôn hướng về cái đẹp" (45.19). Có như vậy, người phê bình mới có khả năng phản
ứng chính xác bằng tình cảm cảm xúc thẩm mỹ trước một áng văn hay, một hình tượng đẹp.
Với phản ứng toàn bộ con người tinh thần, con người văn hóa trước cái đẹp, người phê bình
(người đọc) say mê chìm đắm trong thế giới nghệ thuật của nhà văn để phát hiện ra cái chân
lý, cái không cùng không tận của văn chương. Về điểm này, Xuân Diệu, Hoài Thanh và
Nguyễn Đăng Mạnh đã gặp nhau (Hoài Thanh: Người phê bình phải say nhưng đó là cái say
tích cực chứ cái say tiêu cực thì tai hại. Vâng đó chính là cái say, như Xuân Diệu nói, đó là
cái say tỉnh, "say nhơn say nghĩa" khi đứng trước văn học nghệ thuật.)
Thực tế đã cho ta thấy, dù là sáng tác hay phê bình, người cầm bút phải luôn có khát
vọng về cái đẹp, hướng đến cái đẹp đó mới là cảm quan nghệ thuật của một nghệ sĩ chân
chính!
1.2.1.2 Quan niệm của Xuân Diệu về thơ, sáng tác thơ, phê bình thơ:
Với tài năng đa dạng, Xuân Diệu là một nhà thơ làm công tác phê bình (thơ) đã đạt
được nhiều thành tựu về lý luận phê bình, nghiên cứu văn học, để lại nhiều ấn tượng trong
đời sống văn học nước ta. Do có kiến thức về lý luận và lịch sử văn học, có sự am hiểu thấu
đáo hoạt động sáng tác, rành rọt cả những chuyện "bếp núc của văn chương" và do có cách
diễn đạt của nhà nghệ sĩ nên các tiểu luận và công trình lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học
của Xuân Diệu có chỗ mạnh và nét đặc sắc riêng. Một trong những nét đặc sắc đó là quan
niệm của ông về giá trị của thơ.
1.2.1.2.1 Xuân Diệu quan niệm thế nào là thơ hay?
Trong công việc làm thơ, Xuân Diệu quan niệm thơ hay là "thứ thơ lớn" và thơ dở là
"thứ thơ bé".
Xuân Diệu quan niệm "thứ thơ bé" là thứ thơ có tình cảm bé, suy nghĩ hẹp và có cách
muôn vẻ của thơ. Khác với thơ tự sự, thơ trữ tình lấy tình cảm làm yếu tố cơ bản. Yếu tố cảm
xúc đóng vai trò chủ đạo trong việc chuyển những tâm trạng xúc cảm, suy tư của nhà thơ
thành những rung động mãnh liệt của con tim, thành những tiếng thơ lay động hàng vạn
người. Là tiếng lòng chân thật, tiếng thơ trữ tình mang dấu ấn của cách nghĩ, cách cảm, cách
biểu hiện qua giọng thơ riêng của nhà thơ, góp phần tạo nên phong cách tác giả.
20
Trong một lần "trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ", Xuân Diệu đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của chất cảm xúc trong thơ "Cái chính yếu làm cho một bài thơ hay, trước hết là bản
thân cái chất cảm xúc. Nghĩa là nhà thơ phải cảm xúc thật mạnh mẽ, phải có lòng yêu
lớn, lòng ghét lớn, lòng say mê lớn" (21.14). Chất cảm xúc cũng là thước đo giá trị bài thơ.
Bài thơ hay là bài thơ "chân, chân, chân! thật, thật thật!" Bên cạnh khả năng diễn đạt, biểu
hiện và cố gắng đào sâu suy nghĩ để khám phá những khía cạnh đặc biệt, sáng tạo những tứ
thơ mới, người ta nếu có cảm xúc thật mới làm được thơ hay. Ông cho rằng, thiếu cảm xúc,
nhà thơ là thợ thơ chỉ quen với tiểu xảo chi li và mất đi tính chất “là điệu hồn đồng điệu đi
tìm những điệu hồn đồng điệu".
Có những thứ thơ bé, rung động nổi lên trên mặt lời và có những thứ thơ bút pháp lớn,
xoáy được sâu vào trái tim người đọc. Và Xuân Diệu, một thi sĩ hiện đại, bằng tình cảm chân
thành nhất, ngưỡng mộ nhất, đã tìm đến với những tài thơ cổ điển, cách chúng ta hàng thế kỷ
mà hiểu và chiêm ngưỡng họ.
Với tình cảm như thế, đọc thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Xuân Diệu đã không ít lần
thốt lên sung sướng "Khi thơ Nguyễn Trãi đã hay thì đúng là cái hay của thơ Nguyễn Trãi
chứ không của ai khác, bản lĩnh vô hạn, đáng kính trọng và yêu mến vô hạn! " (6.22), bởi
Nguyễn Trãi thực thụ là một tâm hồn thi sĩ "tâm trí điển hình cao cả nhất, toàn vẹn nhất về
lòng ưu ái, ưu ái quốc dân!". Tâm hồn ấy, tình cảm ấy, xúc cảm ấy được viết thành thơ. Và vì
vậy, thơ Nguyễn Trãi là thứ thơ có phong cách lớn, bút pháp lớn. Xuân Diệu khẳng định
"Đứng trong thể loại thơ tiếng Nôm, thì có bản lĩnh nhất là Hồ Xuân Hương và Nguyễn Trãi.
Trong 254 bài Quốc âm thi tập, những bài, những câu, những đoạn đã hay của Nguyễn Trãi
thì "Thì treo giải nhất chi nhường cho ai ". Khi những câu thơ của Nguyễn Trãi đã hay, nó
hay trong toàn bộ các chữ dính nhau "Hoa thơm thơm lạ thơm lùng. Thơm gốc, thơm rễ
người trồng cũng thơm " (ca dao ), ở trong thơ đây, chính người trồng thơm trước, nghĩa là
Trong tập tiểu luận "Dao có mài mới sắc", Xuân Diệu khẳng định phương pháp phê
bình văn học "Một tập thơ là một cơ thể, một sinh vật, một tập thơ là một tác giả, một con
người. Tôi thấy khen hay chê chưa bằng thông cảm, thấu hiểu. Thấu hiểu tư tưởng lập
trường đã đành, còn thấu hiểu phương pháp cấu tứ, tạo hình bút pháp, thói quen cá tính
của một nhà thơ". Cũng như nhiều thế hệ phê bình, Xuân Diệu đã rất tôn vinh Nguyễn Du
"Nguyễn Du là nghệ sĩ lớn mang trái tim của thời đại", ông tự hào vì mình là người Việt Nam
- người của dân tộc đã sản sinh ra được thi hào Nguyễn Du, một dân tộc rỡ ràng với Điện
Biên Phủ!"
Ca dao có câu:
Dò sông dò biển dễ dò
22
Có ai lấy thước mà đo lòng người!
Hiểu một con người đã khó, hiểu một nhà thơ càng không dễ nhất là nhà thơ đó cách
chúng ta hàng thế kỷ. Không cần đợi đến 300 năm, Xuân Diệu hiểu Nguyễn Du, ông cho rằng
sở dĩ Nguyễn Du có cách nhìn con người và cuộc đời như vậy là do Nguyễn Du đồng cảm -
đồng cảm với tất cả nỗi khổ đau bất hạnh của con người trong xã hội, dù Nguyễn Du thuộc
giai cấp khác "Trái tim lớn của Nguyễn Du, một tấm lòng chứa được bấy nhiêu tình thương
yêu nhân loại. Tình thương ấy có xô bồ, lẫn lộn như đối với vài loại kẻ thuộc giai cấp bên
trên, nhưng phần lớn căn bản là dành cho những người bị cực khổ, oan ức, đói rét, đau đớn
từ người bị bọn vua quan bắt lính, đến người mắc oan ở tù rạc thân, đến người hành khất
"cũng một kiếp người", từ người đẻ non đến chết yểu, từ người đứt dây rơi xuống giếng đến
người bị cọp ăn ", hoặc dành hết tình yêu thương bao la đối với con người, đặc biệt là
người phụ nữ. Những tình cảm đó bắt nguồn từ tấm lòng chân thật của Nguyễn Du. Không
phải ngẫu nhiên mà 300 năm sau Nguyễn Du đã khóc Tiểu Thanh rất chân tình. Một tiếng
khóc xé lòng, tiếng khóc vượt giai cấp, vượt không gian, thời gian. Tại sao khi Nguyễn Du
đọc truyện Tiểu Thanh lại xúc cảm như vậy? Tập thơ chữ Hán chứa đầy uất ức của Tố Như
như Xuân Diệu đã nói "Thơ trong này để lại một buổi chiều thu tê tái. Buổi chiều đó là xã hội
phong kiến ở Việt Nam, ở Trung Quốc phản ánh trong tâm hồn Nguyễn Du( ) chính cảnh
của xã hội ghê gớm đau thương tích lũy cái buồn vào tâm hồn người thành một thiên tính thứ
hai, tâm hồn đã bất mãn với xã hội", lại "buồn trong cái xã hội buồn". Chính những điều
Du cũng thật vĩ đại!
Thiết nghĩ, chúng tôi xin trở lại một chút với quan niệm về tình cảm trong thơ để minh
họa cho quan điểm coi trọng "chất" của Xuân Diệu. Trước đây khá lâu - Lê Quý Đôn là một
học giả và là một nhà thơ lớn của nước ta đã cho rằng "thơ phát khởi từ trong lòng người
ta" và Ngô Thì Nhậm cũng đã nhấn mạnh "Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần".
Ý kiến của hai ông đã khẳng định vai trò quyết định của tình cảm trong sáng tác thơ ca, yếu
tố cơ bản của thơ là tình cảm. Khác với các thể loại tự sự, thơ đi sâu tìm tòi, khai thác, phát
hiện đời sống bên trong của con người trong mối tương quan phức tạp với hiện thực xung
quanh. Muốn sáng tác thơ, nhà thơ phải thật sự rung động trước cuộc đời, trái tim nhà thơ
phải nhạy cảm trước mọi buồn vui, sướng khổ của con người, say đắm trước vẻ đẹp muôn
màu muôn sắc của thiên nhiên. Vì vậy, thiếu yếu tố cảm xúc thì thơ không phải là thơ. Tình
cảm là yếu tố cơ bản của thơ trữ tình. Thơ trữ tình thường miêu tả "những cảm xúc say đắm,
những tâm trạng đa dạng, những suy tư sâu lắng thuộc về thế giới chủ quan bí ẩn, sâu sa,
mênh mông khôn xiết của con người" (73.9). Với vai trò chủ đạo, yếu tố cảm xúc rất quan
trọng trong việc chuyển những tâm trạng, xúc cảm, suy tư của nhà thơ thành những rung
động mãnh liệt của con tim, tạo thành những tiếng thơ lay động hàng vạn lòng người. Là
tiếng lòng chân thật, tiếng thơ trữ tình mang dấu ấn của cách nghĩ, cách cảm, cách biểu hiện
qua giọng thơ riêng của nhà thơ.
Xúc cảm - Tâm trạng mang sắc thái cá thể nhưng đồng thời cũng mang ý nghĩa xã hội
sâu sắc "tác phẩm văn thơ hay, tác động đến tình cảm của con người, có một địa vị rất
quan trọng trong đời sống tình cảm của xã hội; văn học mang tư tưởng nhưng xuyên qua
tình cảm, xúc cảm, đó là đặc trưng của nó". Xuân Diệu khẳng định, bài thơ càng dạt dào
tình cảm càng hay. Tình cảm ấy được nói bằng tất cả trái tim, linh hồn của thi sĩ nên muốn
sáng tác thơ, nhà thơ phải thực sự rung động trước cuộc đời, trái tim nhà thơ phải nhạy cảm
trước mọi buồn vui, sướng khổ của con người, say đắm trước vẻ đẹp muôn màu muôn sắc của
thiên nhiên.
Nếu trước cách mạng, Xuân Diệu là nhà thơ trẻ - yêu cuộc đời, yêu tha thiết cuộc sống:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn