ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
DƯƠNG THỊ KHU
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ CỦA DƯ HOA QUA TIỂU THUYẾT
“CHUYỆN HỨA TAM QUAN BÁN MÁU”
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI – 2009
HÀ NỘI – 2009
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 9
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
5. Cấu trúc của luận văn 10
Chƣơng 1: NGƢỜI TỰ SỰ, ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ 11
1.1. Khái niệm nghệ thuật tự sự 11
1.2. Ngƣời tự sự 12
1.2.1. Người tự sự và vai trò người tự sự 12
1.2.2. Người tự sự trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu. 14
1.2.2.1. Người tự sự ngôi thứ ba 14
1.2.2.2. Sự chuyển dịch ngôi kể 18
1.3. Điểm nhìn 20
1.3.1. Khái niệm điểm nhìn 20
1.3.2. Điểm nhìn tự sự trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu. 21
1.3.2.1. Điểm nhìn Zero. 21
1.3.2.2. Điểm nhìn bên ngoài 24
1.3.2.3. Sự di động điểm nhìn 27
Chƣơng 2: NHÂN VẬT NHƢ LÀ PHƢƠNG THỨC TỰ SỰ 33
2.1. Khái niệm nhân vật 33
2.2. Các kiểu nhân vật trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu 33
2.2.1. Người bán máu 33
2.2.2. Người mua máu 40
2.2.3. Một số nhân vật khác 43
quan tâm khám phá.
Ngày nay, người dân Trung Quốc không chỉ tự hào về nền văn học cổ điển
của đất nước mình mà còn tự hào về văn học đương đại của họ. Đó là nền văn học
đã và đang thực sự phồn vinh và được thế giới quan tâm nghiên cứu. Văn học
Trung Quốc có một sức hút kỳ lạ đối với người đọc không chỉ bởi nội dung tư
tưởng mà còn bởi văn phong mới lạ. Điều đó đã làm nên những tiếng nói độc đáo
trên văn đàn thế giới.
Ở Việt Nam, nhiều tiểu thuyết của Vương Mông, Mạc Ngôn, Phùng Ký Tài,
Giả Bình Ao đã được dịch ra tiếng Việt và được bạn đọc Việt Nam đón nhận một
cách rất nồng nhiệt. Song sẽ là chưa đủ nếu như chúng ta không nhắc đến nhà văn
Dư Hoa – một nhà văn đầy cá tính và được xem là nhà văn tài hoa bậc nhất trên văn
đàn Trung Quốc đương đại. Cho nên nghiên cứu về nhà văn Dư Hoa cũng là để hiểu
một cách đầy đủ hơn về văn học Trung Quốc đương đại.
Dư Hoa là một trong những tác giả quan trọng của nền văn học đương đại
Trung Quốc. Ông không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được độc giả thế giới rất
yêu thích. Dư Hoa sinh ngày mùng 3 tháng 4 năm 1960, tại thành phố Hàng Châu,
tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc. Dư Hoa rất yêu thích các tác phẩm của Kafka,
Gabriel Garia Marquer, Jorge Luis Borges chính vì vậy các tác phẩm của ông sau
này cũng ảnh hưởng phong cách viết của họ.
Dư Hoa bắt đầu sáng tác từ năm 1983, đến nay ông đã xuất bản 4 truyện dài, 6
tập truyện vừa và ngắn, 3 tập tuỳ bút. Tác phẩm chính có: Hò hét trong mưa; Tình
yêu cổ điển; Tôi không có tên, Sống, Huynh đệ đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như:
Anh, Pháp, Đức, ý, Hà Lan, Việt Nam Đặc biệt là Chuyện Hứa Tam Quan bán máu
đã để lại một ấn tượng sâu sắc cho bạn đọc cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.
4
Trong cuộc đời sáng tác của mình, Dư Hoa luôn quan niệm “Tôi viết để gần
hơn với những gì là thật, ý tôi là hiện tại chân thật chứ không phải hiện thực cuộc
sống. Thực ra tôi cho rằng cuộc sống là không thật, nó lẫn lộn cả những điều không
thật và những điều giả dối ”( 20. trang bìa ). Những tác phẩm của Dư Hoa đều được
khơi nguồn từ mảnh đất nơi ông được sinh ra và lớn lên. Mảng đề tài Dư Hoa
Tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam quan bán máu được khơi nguồn từ hiện thực của
đất nước Trung Quốc. Đó là hiện thực diễn ra cảnh bán máu ở nhiều nơi, bán máu đã
trở thành phương thức sinh tồn của người nghèo khổ. Cuốn sách đã thể hiện niềm say
mê của tác giả đối với một hồi ức dài dằng dặc, một bài dân ca có đầu không có cuối,
một đời người. Trong lời nói đầu bản tiếng Trung, Dư Hoa viết : “Sáng tác và đọc sách
thực ra đều là gõ cửa hồi ức hay nói một cách khác đều là để sống lại một lần nữa”(
20. 6). Quả vậy, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu thể hiện tiếp niềm say mê của tác giả
Dư Hoa với mảng hiện thực của đất nước Trung Quốc - nơi ông đã đi qua, đã trải
nghiệm và từng chứng kiến những mảnh đời ở bên cạnh mình.
Chuyện Hứa Tam Quan bán máu của Dư Hoa kể về nhân vật Hứa Tam Quan
–một công nhân vận chuyển kén tằm cho nhà máy tơ trong thành phố. Trên đường
đi, Hứa Tam Quan gặp Căn Long và A Phương đi bán máu, anh được hai người bạn
này nói về chuyện bán máu, anh liền mượn bát múc nước sông uống rồi đi bán máu
cùng họ. Sau khi bán máu, Hứa Tam Quan nghĩ: Tiền xương máu này mình không
thể tiêu tuỳ tiện, mình phải dùng vào việc lớn, nhờ có tiền bán máu, anh đã cưa đổ
và lấy Hứa Ngọc Lan.
Cái lần tình cờ bán máu ấy cho anh một gia đình, nhưng cuối cùng chính gia
đình ấy khiến cuộc đời anh thành chuỗi dài của những lần bán máu chuyên nghiệp
để trả nợ, để mưu sinh. Đó là lần Hứa Tam Quan bán máu để lấy tiền đền cho con
hàng xóm bị cậu con cả anh đập vỡ đầu, lần lo cuộc sống gia đình trong cơn đói
cùng quẫn, lần lo cho các con xuống nông thôn theo lệnh của Mao Chủ Tịch, lần đãi
ông đội trưởng của cậu con thứ bữa cơm tươm tất mong ông giúp đỡ để con chóng
được điều về thành phố. Lần nữa và nhiều lần nữa, những lần bán máu cứ dài ra.
Sau mỗi lần bán máu, người bán máu phải có ba tháng cần thiết cho cơ thể
phục hồi. Nhưng vì hoàn cảnh gia đình quá quẫn bách, Hứa Tam Quan gần như đã
phải bán máu mỗi tháng một lần. Đến khi cậu con cả bị bệnh gan ở nông thôn, Hứa
Tam Quan lại đi bán máu. Người mua máu ở bệnh viện đã không dám lấy máu của
anh nữa và cuối cùng bày cho anh cách để đến những bệnh viện xa bán máu. Anh đi
bán máu liên tục để mong có tiền chữa bệnh cho con. Nhưng anh đã gục ngã sau ba
lần bán máu liên tiếp.
sẽ tạo tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu tìm hiểu tác phẩm của Dư Hoa nói chung
và nghệ thuật tự sự của Dư Hoa qua một số tác phẩm cụ thể nói riêng để cùng nhau
7
khám phá ra vẻ đẹp độc đáo của một cây bút tự sự đầy tài năng. Đó chính là những
lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Nghiên cứu ở Trung Quốc
Năm 1995, hai cuốn tiểu thuyết Sống và Chuyện Hứa Tam Quan bán máu
của Dư Hoa ra đời đã làm vang dội văn đàn. Có người cho rằng Chuyện Hứa Tam
Quan bán máu là tác phẩm đỉnh cao đã được Dư Hoa dồn tất cả tài năng của mình
vào đó. Năm 2000, cuốn sách đã được “Nhật báo trung ương” của Hàn Quốc chọn
là một trong 100 cuốn sách cần đọc. Năm 2004, sách đã được nhận giải “The
Rarmer” một giải “Nobel Mỹ”. Tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu được
một trăm nhà phê bình và biên tập viên văn học Trung Quốc bình chọn vào diện 10
tác phẩm có ảnh hưởng nhất những năm 90 của thế kỷ XX.
Trong cuốn Trung Quốc đương đại văn học sử của Vương Khánh Sinh (chủ
biên) Nxb Hoa Trung, 2000, đã đề cập đến Dư Hoa và sự chuyển hướng nghệ thuật
của nhà văn từ phái Tiên phong chủ nghĩa (viết khó hiểu, mang tính tượng trưng,
biến ảo) sang trưòng phái Tân tả thực. Sự chuyển biến đó thể hiện rõ nét trong tiểu
thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu. Bài viết của Vương Khánh Sinh đã có
những đánh giá sơ bộ về cách xây dựng nhân vật của Dư Hoa trong tác phẩm. Song
bài viết này, Vương Khánh Sinh mới chỉ đi vào nhận xét một cách chung chung về
sự chuyển hướng nghệ thuật của Dư Hoa chứ chưa đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tự sự
của Dư Hoa qua Chuyện Hứa Tam Quan bán máu.
Hồng Trị Cương trong bài tựa cuốn Từ Hoa tinh tuyển tập, Nxb Yến Sơn,
2006. Ngoài việc đề cập đến “sự cứu dỗi khổ đau” trong tiểu thuyết Chuyện Hứa
Tam Quan bán máu, ông đã có những nhận xét về nhân vật Hứa Tam Quan và sự
chuyển biến nghệ thuật quan trọng của Dư Hoa trong giai đoạn sáng tác thuần thục.
Bên cạnh đó, bài viết còn trích dẫn những lời tâm sự của Dư Hoa về sự chuyển biến
tư tưởng của mình trong tác phẩm. Những ý kiến trên của bài viết rất đáng ghi nhận,
David Barboza do Hà Linh dịch (theo nguồn IHT). Bài viết của David Barboza đã
đề cập ít nhiều đến nhà văn Dư Hoa đồng thời cũng đưa ra nhận định về tác phẩm
Sống và Chuyện Hứa Tam Quan bán máu: Năm 1996, tiếp theo Phải Sống là
Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, hai tiểu thuyết ấn tượng đã quyết định vị trí chiếu
trên của Dư Hoa trong lòng văn học Trung Quốc ngồi chung với Mạc Ngôn và
Vương An ức. Nhưng bài viết chủ yếu bàn đến tác phẩm Huynh đệ chứ chưa đi sâu
tìm hiểu tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu.
9
Hiện nay, trên báo, tạp chí và internet có Phạm Tú Châu, Hải Yên, Thu
Thuỷ, Thanh Huyền, Cát Yên, Vũ Công Hoan… viết về Dư Hoa và tác phẩm của
ông, nhưng những bài viết đó chỉ mang tính chất sơ bộ về Dư Hoa và tác phẩm.
Bài viết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, chuyện người bán tổ tông của
Toàn Nguyễn trên internet đã có những cảm nhận sâu sắc về những trang sách của
Dư Hoa “Đọc những trang sách của Dư Hoa, có sự thống nhất chung trong phong
cách, giọng điệu và nhân tính con người bị thử thách đến tận cùng trong Cách
mạng văn hoá. Đó là điểm nhấn làm nên cái tên Dư Hoa với bạn đọc không chỉ tại
Trung Hoa với series tác phẩm Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Huynh
đệ”(29). Trong bài viết, Toàn Nguyễn đã đi vào tóm tắt tác phẩm Chuyện Hứa Tam
Quan bán máu và cũng đưa ra nhận xét khái quát về tác phẩm nhưng do khuôn khổ
của một bài giới thiệu ngắn gọn nên nghệ thuật tự sự trong tác phẩm này mới chỉ
được điểm qua về nghệ thuật của tác phẩm song cũng là những gợi ý quan trọng để
chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
Gần đây có Nguyễn Thị Hưởng trường đại học Sư Phạm Hà Nội làm luận
văn về Nghệ thuật tự sự của Dư Hoa qua tiểu thuyết “Huynh đệ”. Trong luận
văn, người viết đi vào khám phá nghệ thuật tự sự của tác phẩm Huynh đệ và đã đưa
ra được những nhận xét về nghệ thuật tự sự của Dư Hoa. Đây là những gợi mở quan
trọng để chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tự sự của Dư Hoa trong tiểu thuyết
Chuyện Hứa Tam Quan bán máu.
Nhìn chung những bài viết về Dư Hoa và tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan
bán máu ở Việt Nam cho đến nay, chúng tôi chưa thấy có tài liệu nào trực tiếp
của các nhà nghiên cứu phê bình văn học. Khi bàn đến “Các phương tiện cơ bản
của miêu tả tự sự” G. N. Pospelov trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học xác
định: “Đóng vai trò quyết định trong loại văn học tự sự ( ) là sự trần thuật, tức là
một câu chuyện về các sự kiện xẩy ra được kể từ phía người khác”(33. 66). Bên
cạnh đó ông còn chỉ ra các thành phần cơ bản của nghệ thuật kể chuyện: “ Với sự
trợ giúp của trần thuật, miêu tả, bình luận, lời nói nhân vật trong các tác phẩm tự
sự, cuộc sống được nắm bắt một cách tự do và sâu rộng”(33. 68).
Đến nay, ở Việt Nam cũng có khá nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những cách
hiểu khác nhau về nghệ thuật tự sự: có ý kiến đồng nhất tự sự với trần thuật, nhưng
có ý kiến phân giới giữa hai thuật ngữ tự sự và trần thuật. Trần Đình Sử cho rằng:
“Ngày nay tự sự học không còn giản đơn là việc kể chuyện mà là một phương pháp
không thể thiếu để giải thích, lý giải quá khứ có nguyên lý riêng”(36. 12).
Còn Đặng Anh Đào lại nói “Tự sự là một khái niệm rất rộng và có thể xét ở
hai bình diện. Bình diện thứ nhất: Tự sự như sự đồng nghĩa với “câu chuyện kể”
đối lập với miêu tả. Bình diện thứ hai: Tự sự được xem xét theo hành động kể
chuyện” (36. 170).
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tự sự là một phương thức tái hiện đời
sống trong toàn bộ tính khách quan của nó…tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt
truyện, gắn với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc hoạ đầy đủ, nhiều
mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình, kịch”(12. 385).
Điểm qua một số ý kiến về nghệ thuật tự sự chúng tôi nhận thấy: thuật ngữ
Narratology là tự sự học hay trần thuật học, kể chuyện thì cũng là phương thức tái
hiện đời sống. Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu
cũng là để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một số phương thức tái hiện đời sống hiện
thực trong tác phẩm, đồng thời qua đó thấy được nội dung tư tưởng tác phẩm được
mã hoá trong đó.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ Nghệ thuật tự sự không
phân biệt với nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật trần thuật. Bởi chúng đều là cách
12
dịch khác nhau của Narratology (tiếng Anh) Narratologie(tiếng Pháp)- tức là lý
hoá, mà đằng sau là tác giả. Những người trần thuật cũng hoàn toàn là tác giả,
13
cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái “Tôi” nào
đó. Những người trần thuật được nhân vật hoá như vậy kể câu chuyện từ ngôi một
của chính mình có thể gọi một cách tự nhiên là người kể chuyện”(33.92,93).
G.Genette-nhà nghiên cứu Pháp thì hiểu người trần thuật có chức năng của
tác giả, vừa kể chuyện, vừa chỉ huy cách kể, vừa truyền đạt thông tin vừa thuyết
phục người đọc.
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đưa ra quan niệm về người tự sự.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả cho rằng “Người trần thuật là một
nhân vật hư cấu hoặc có thật, có thể là hình tượng của tác giả, dĩ nhiên không nên
đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác
giả sáng tạo ra, có thể là một người biết một câu chuyện nào đó” (12. 221)
Trong tiểu thuyết Trung Quốc cổ đại, người tự sự xuất hiện với tư cách
người dẫn chuyện (thuyết thư), đây là hình thức người đứng ngoài kể chuyện, khiến
cho độc giả như đang đi đến sân nghe kể chuyện để người ta kể lại câu chuyện. Như
thế, người đọc rất dễ dàng bị lôi cuốn nhưng khó mà có thể hoà vào trong đó. Ngày
nay “Trên các trang sách không còn lồ lộ bóng hình người đứng ra kể chuyện như
xưa mà lúc này vai trò của tác giả là dựng lên khung cảnh để người đọc như nhập
ngay vào không khí trong truyện”(36.163).
Trong tiểu thuyết hiện đại, người kể chuyện giữ một vị trí hết sức quan trọng
trong việc kiến tạo nên tác phẩm. Bởi nếu như không có người kể chuyện thì những
“cái được kể” sẽ không thể thành chuyện được. Người kể chuyện đóng vai trò trung
gian giữa chủ thể sáng tạo và tác phẩm, đồng thời vừa là đại diện của tác giả hay nói
khác đi người kể chuyện là cầu nối để tạo nên mối quan hệ khăng khít: Nhân vật-
người kể chuyện- độc giả.
Người trần thuật tuy không được tự do, nhưng vẫn có thể can thiệp vào việc
kể chuyện, kể nhanh, chậm, phát biểu, nghị luận, phân tích, miêu tả, mách bảo, chỉ
điểm cho người đọc hoặc biểu hiện cảm thán, cảm xúc.
Thông qua ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tạm thời đưa ra một cách
của con người trong hai thời đại mình từng bắt gặp. Song trong tác phẩm Chuyện Hứa
Tam Quan bán máu có điểm khác với Huynh Đệ ở chỗ lịch sử chỉ là điểm xuyết không
phải là điểm nhấn mà qua cuộc sống của các nhân vật người đọc hiểu được thời đại.
Toàn bộ câu chuyện là người kể chuyện ngôi thứ ba kể về cuộc đời của Hứa Tam Quan
- một người trụ cột của gia đình. Vì cuộc sống gia đình vì tương lai của các con…anh
đã phải bán máu tới 12 lần. Có lúc vì bán máu nhiều lần cơ thể anh đã bị suy sụp song
anh vẫn quyết hy sinh bản thân mình để lo cho gia đình.
15
Mở đầu chương một, người tự sự giới thiệu về Hứa Tam Quan và chuyến về
thăm quê của anh bằng cách kể hết sức khách quan “Hứa Tam Quan là công nhân
vận chuyển kén tằm của nhà máy tơ thành phố, hôm nay ông về quê thăm ông nội
…Hứa Tam Quan cầm tay ông chạm vào mặt mình,”(20. 25). Cách kể chuyện này
khiến cho câu chuyện trở nên cụ thể, chân thật. Những chuyện người kể chuyện kể
ra là những gì anh ta tận mắt nhìn thấy, nghe thấy. Chính vì vậy nhiều chỗ trong
tiểu thuyết người tự sự vừa quan sát vừa kể như một người dẫn chuyện hết sức tài
ba có sức lôi cuốn kỳ lạ đối với người đọc. Lời dẫn chuyện của người kể chuyện hết
sức tự nhiên. Anh ta đóng vai trò là một người kể chuyện “biết tuốt”. Nên những sự
việc, nhân vật được kể ra rất chi tiết và đầy đủ. Chúng ta hãy lắng nghe đoạn văn
người kể chuyện kể về Hứa Ngọc Lan và Hà Tiểu Dũng: “Trong trái tim Hứa Ngọc
Lan không thể bỏ người đàn ông có tên Hà Tiểu Dũng. Người đàn ông ấy khi nói
chuyện hai tay thích cầm cổ tay mình, gần như ngày nào anh cũng mỉm cười đến
nhà cô. Cách vài hôm lại xách đến một chai rượu nếp cái. Ngồi với bố cô, vừa uống
rượu vừa nói chuyện, thỉnh thoảng cười hì hì…” (20.60). Ở đây, người kể chuyện
không xuất hiện trực tiếp mà anh ta có vị trí quan sát ở bên ngoài thế giới nhân vật.
Người đọc không thể biết người kể ấy là ai, có mối quan hệ như thế nào với các
nhân vật trong truyện khiến cho chuyện kể được khách quan, thu hút sự chú ý đối
với người đọc. Vì thế lời kể mang giọng khách quan của một người đứng bên ngoài
câu chuyện chứ không mang giọng chủ quan của nhân vật.
Như chúng ta đã biết, truyền thống tự sự tiêu biểu của Trung Quốc là biện
pháp “bạch miêu”. Tức kể mộc không tô vẽ. Trong Chuyện Hứa Tam Quan bán
gian. Những tác phẩm Dư Hoa viết theo phong cách phái Tiên phong xưa kia,
chủ thể người kể chuyện - tác giả đứng ra phê phán nên bộc lộ rất rõ cảm xúc
của họ còn ở đây người kể chuyện hình như biến mất tác giả thủ tiêu thân phận
của mình và dường như trở thành độc giả để lắng nghe, nhiều lúc người kể
không hề bộc lộ trưc tiếp những cảm xúc của mình và cũng không hề định hướng
cảm xúc cho người đọc, khiến cho sự việc cứ tự nó được bộc lộ như nó vốn có
tạo nên một cảm giác sinh động cho câu chuyện.
Đoạn văn người dẫn chuyện kể về cảnh ông Phương đến bắt nợ nhà Hứa
Tam Quan và những diễn biến tâm trạng của Hứa Tam Quan đã thể hiện khá rõ điều
này. “ Hứa Tam Quan nhìn ngôi nhà hai vợ chồng tích luỹ trong mười năm bị chất
gần hết trên hai xe bò, chòng chà chòng chành, va vào nhau xủng xoảng. Đi ra đầu
ngõ, khi hai xe bò rời khỏi ngõ và đi khuất, nước mắt Hứa Tam Quan cũng tự dưng
tuôn trào, anh cúi xuống, ngồi cùng với vợ trên ngưỡng cửa khóc hu hu”(20.128).
17
Cách tự sự này, Dư Hoa cũng đã tự nhận trong lời nói đầu bản tiếng Trung Văn:“Ở
đây có khi tác giả chỉ ngồi chơi. Bởi vì ngay từ lúc bắt đầu anh đã phát hiện nhân
vật hư cấu cũng có tiếng nói như mình, anh nhận thấy nên tôn trọng tiếng nói ấy để
nó tự đi tìm câu trả lời trong gió. Thế là tác giả cứ việc ngồi chễm chệ rung đùi,
không còn là kẻ xâm lược trong kể chuyện mà là một người lắng nghe, một người
lắng nghe bền bỉ, kỹ càng, hiểu đời và thông cảm. Anh cố gắng làm như thế, khi kể
chuyện, anh muốn bỏ thân phận tác giả của mình, anh cảm thấy mình nên làm một
người đọc”(20.5). Trong tác phẩm nhiều lúc người kể chuyện đã ẩn đi đứng đằng
sau nhân vật và các sự kiện để kể, bằng cách đẩy nhân vật ra trước độc giả vì thế
trước mắt độc giả không thấy người nói chỉ thấy hiện thực được trình bày: “Sau khi
ngủ một đêm trong căn nhà trống không của mình, Hứa Tam Quan cảm thấy không
tiếp tục sống như thế này được nữa…Thế là anh nghĩ đến bán máu…. Chỉ cần anh
đi bán máu, anh có thể lấy tiền, xin ông Phương cho chuộc lại bàn của anh, hòm
của anh và tất cả những cái ghế ”(20.131).
Trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu người tự sự đã được Dư Hoa lựa
chọn trở thành phương tiện đắc lực biểu hiện phẩm chất của nhân vật. Nhà văn rất
dùng thủ pháp hư hoá người kể chuyện, gần như không có người kể chuyện, nhân
vật tự nói, tác giả đứng ngoài nghe và nhìn việc giao đãi. Có người đã nói Chuyện
Hứa Tam Quan bán máu như một vở kịch, đối thoại chi phối tất cả kết cấu, không
gian, thời gian tâm lý Đó là đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại giữa người tự sự
và các nhân vật khác, người tự sự với người đọc hàm ẩn… Thông thường vận dụng
quá nhiều đối thoại là một điều cấm kỵ trong tiểu thuyết, bởi nếu không xử lý tốt sẽ
gây nên sự cách biệt giữa cốt truyện và tự thuật. Nhưng Dư Hoa đã có sự khéo léo
trong việc sử dụng nhiều đối thoại và ông đã tạo nên một sự gắn kết giữa cốt truyện
và tự thuật. Lời trần thuật của người kể chuyện trong tiểu thuyết này được triển khai
xen vào những lời đối thoại của nhân vật, nó có chức năng dàn dựng câu chuyện,
đồng thời góp phần quan trọng trong việc tường thuật hành động và biến cố của
cuộc đời nhân vật, cũng như miêu tả sự việc, sự vật trong môi trường hoạt động của
nhân vật. Đối thoại là đặc điểm tự sự của Dư Hoa.
Nếu như người kể chuyện trong tiểu thuyết truyền thống thường đứng ở góc
nhìn biết tất cả, tầm nhìn không hạn chế thì người kể chuyện theo ngôi thứ ba của
Dư Hoa trong tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu nhiều khi có sự hiểu biết
ít hơn nhân vật nên “nhân vật trong sách thường xuyên tự mở mồm nói chuyện có
lúc khiến tác giả giật mình, khi những lời hết sức xác đáng và rất hay buột ra khỏi
mồm nhân vật hư cấu” (20. 6 ). Điều đó đã tạo nên tính chủ quan cho tự sự: “ Mẹ
19
của thằng Nhất Lạc xem ra đúng là Hứa Ngọc Lan, còn bố của thằng bé có phải
Hứa Tam Quan hay không?Kẻ nào đã gieo giống thằng bé trên người Hứa Ngọc
Lan ?Liệu có phải là Hà Tiểu Dũng ?”( 20. 67 ). Rõ ràng người tự sự nhỏ hơn nhân
vật chứ không phải là thượng đế “biết tuốt”. Ở đây, Dư Hoa đã cố tình “cất giữ”
một số bí mật nhằm gợi chí tò mò của độc giả, tạo điều kiện cho người đọc tham gia
vào quá trình đồng sáng tạo và xoá được khoảng cách giữa tác giả - nhân vật - độc
giả và thu hút được sự chú ý khám phá của độc giả. Lối kể chuyện này, cũng được
Mạc Ngôn sử dụng rất thành công.
Trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Dư Hoa không kể chuyện theo cách
tự sự truyền thống mà tác giả nhập vai vào nhân vật để dẫn dắt câu chuyện và soi
sống, sự thay đổi từ nghệ thuật bắt đầu từ sự thay đổi điểm nhìn”(12. 113).
Bàn về khái niệm điểm nhìn đã có rất nhiều ý kiến đưa ra. Pospelov cho
rằng: “Trong tác phẩm tự sự điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với
chủ thể trần thuật, hay nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những
gì mà anh ta miêu tả” (33. 90 ).
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Điểm nhìn là vị trí từ đó người trần thuật
nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm ( ). Điểm nhìn nghệ thuật có thể hiểu là
điểm rơi của cái nhìn khách thể. Điểm nhìn nghệ thuật biểu hiện qua các phương
tiện nghệ thuật, ngôi kể, cách xưng gọi sự vật, cách dùng từ ngữ, kiểu câu Điểm
nhìn cung cấp một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và
nhận ra đặc điểm phong cách ở trong đó ” (12. 113).
Còn Trần Đình Sử quan niệm :“Điểm nhìn là vị trí của chủ thể trong không
gian, thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của
khách thể nhìn” (37.150 ) và “nó không chỉ là điểm nhìn thuần tuý quang học mà
còn mang nội dung quan điểm, lập trường tư tưởng” ( 37.149). Biêlinxki đã từng
nói: khi đứng trước một phong cảnh đẹp thì chỉ có một điểm nhìn làm cho ta thấy
toàn cảnh và chiều sâu của nó. Nếu đứng gần hoặc xa quá lệch về phía bên phải hay
phía bên trái quá cũng sẽ làm cho phong cảnh mất đi vẻ toàn thiện, toàn mỹ .
Theo quan điểm của nhà tự sự học Pháp G.Genette thì điểm nhìn tự sự là tiêu
cự, từ đó G.Genette chia ra làm ba loại hình tự sự: Tự sự với tiêu cự bằng không; tự
sự với tiêu cự bên trong; tự sự với tiêu cự bên ngoài.
Như vậy, qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu về điểm nhìn, chúng ta
thấy điểm nhìn giữ một vị trí quan trọng trong tác phẩm văn học. Nó thể hiện vị trí
21
của chủ thể khi quan sát, kể chuyện và quan điểm của họ khi miêu tả thế giới và đôi
khi có cả không gian, thời gian để quan sát và kể lại cho độc giả nghe.
Trong tác phẩm văn học cổ trung đại hầu hết chỉ có một người kể với một
điểm nhìn duy nhất. Nhưng trong văn học hiện đại khuynh hướng tự sự nổi bật nhất
là tự sự “di động điểm nhìn” tạo nên một sự biến chuyển linh hoạt trong truyện kể
và góc nhìn đa diện, tăng độ tin cậy đối với người đọc về câu chuyện được kể.
Quan bụng bảo dạ: mọi người bảo Nhất Lạc không giống mình, nhưng Nhất Lạc,
Nhị Lạc, Tam Lạc giống y hệt con trai không giống bố nhưng con trai giống anh
em cũng là giống Nhất Lạc không giống mình có sao đâu, Nhất Lạc giống em trai
là được rồi ”( 20. 69, 70 ). Người kể ở đây với cái nhìn của người “biết tuốt” đã đi
sâu vào lý giải tất cả những băn khoăn, thắc mắc của Hứa Tam Quan về Nhất Lạc.
Tất cả những uẩn ức, những diễn biến tình cảm của nhân vật này đã được người kể
chuyện kể lại một cách khá đầy đủ. Nhờ vậy các sự kiện diễn ra trong tác phẩm đã
được dẫn dắt khá hấp dẫn, tạo được sự chú ý đối với người đọc.
Dõi theo gần bốn trăm trang sách Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, chúng
tôi nhận thấy tiểu thuyết dày đặc những lời đối thoại của các nhân vật. Điểm nhìn
Zero xuất hiện có ý nghĩa dẫn dắt các tình tiết trong tác phẩm. Mở đầu tiểu thuyết
người kể chuyện kể dưới diểm nhìn Zero, giới thiệu một cách khách quan về Hứa
Tam Quan “ Hứa Tam Quan là công nhân vận chuyển kén tằm cho nhà máy tơ
trong thành phố, hôm nay ông về quê thăm ông nội ” hay có những đoạn người kể
“biết tuốt” kể rõ về những suy nghĩ, ý định, tính cách của nhân vật: “ Nếu anh chọn
một cô trong số đó làm vợ, một cô đồng tâm hiệp lực với anh cuốn chăn xoắn xuýt
với nhau khi mùa đông mưa tuyết, thì anh sẽ chọn Lâm Phân Phương, …”( 20. 51).
Điểm nhìn Zero ở đây không chỉ mang tính dẫn dắt tác phẩm mà còn có ý nghĩa nói
rõ hơn về nhân vật và phân tích rõ nguyên cớ, biến chuyển trong tâm lý nhân vật.
Phải là người “biết tuốt”, là người từng chứng kiến các sự việc xẩy ra thì người kể
chuyện mới biết được hành động: Ngày nào, Hứa Tam Quan cũng đấm đấm, đẩy
đẩy, cười hì hì ha hả với đám gái trẻ, mới biết các cô thường hay thò tay cốc lên đầu
anh mới biết rõ về đặc điểm tính cách con người Lâm Phân Phương và Hứa Ngọc
Lan, đặc biệt là biết cả ý định, suy nghĩ của Hứa Tam Quan. Như vậy ở đây, người
tự sự đứng ở mọi nơi, mọi lúc để quan sát nắm bắt và thấu hiểu nhân vật và là người
biết trước, biết hết không bị một hạn chế nào, không có khoảng cách nào với sự
việc được kể, thậm chí có lúc người kể chuyện bước cả vào thế giới nội tâm của
nhân vật tạo nên tính sinh động và khách quan cho truyện kể.
23
Trong tác phẩm, người kể chuyện chẳng những toàn tri mà điểm nhìn còn di
bán máu không gợi cho người đọc cảm giác đang có người dẫn giải và biết trước