Nghiên cứu hát ru người Việt dưới góc độ văn hóa và văn học dân gian - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

DƢƠNG THÙY NGA

NGHIÊN CỨU HÁT RU NGƢỜI VIỆT
DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN
Chuyên ngành: Văn học dân gianMã số: 60220125

L
L
U
U


V
Ă
Ă
N
NH
H


C
C Ngƣời hƣớng dẫn: PGS. TS Nguyễn Thị Huế

Hà Nội - 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

4. Phương pháp nghiên cứu 12
5. Đóng góp của luận văn 12
6. Cấu trúc luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG 14
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÁT RU VÀ HÁT RU NGƢỜI
VIỆT 14
1.1.Khái niệm về hát ru và dạng thức của hát ru 14
1.1.1. Khái niệm về hát ru 14
1.1.2. Dạng thức của hát ru và hát ru người Việt 16
1.2. Đặc điểm của hát ru 16
1.2.1. Hát ru là một loại hình sinh hoạt dân ca vừa có tính phổ biến vừa
có tính địa phương 16
1.2.2. Hát ru là loại hinh sinh hoạt văn hóa có tính điển hình 19
1.3. Môi trƣờng diễn xƣớng, đối tƣợng đƣợc ru và ngƣời thực hành hát ru 25
1.3.1. Môi trường diễn xướng của hát ru 25
1.3.2. Người thực hành hát ru 32
1.3.3. Đối tượng được ru 36
Tiểu kết chƣơng 1 39
Chƣơng 2: HÁT RU TRONG ĐỜI SỐNG, NỘI DUNG VÀ NGHỆ
THUẬT PHẢN ÁNH CỦA HÁT RU NGƢỜI VIỆT 40
2.1. Hát ru trong đời sống dân gian 40
2.2. Nội dung của hát ru ngƣời Việt 41
2.2.1. Hát ru người Việt với nội dung về thiên nhiên, vũ trụ 42 2
2.2.2. Hát ru người Việt với nội dung về đời sống văn hóa, phong tục tập
quán, lịch sử đất nước 49
2.3. Nghệ thuật của hát ru ngƣời Việt 54
2.3.1.Ngôn ngữ, giai điệu và yếu tố âm nhạc của hát ru 54

VHNT: Văn học nghệ thuật 4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài nghiên cứu
Văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa phong phú văn hóa của 54 dân tộc
anh em. Trong sự đa dạng và phong phú đó có những làn điệu hát ru đang dần
đi vào quên lãng từ người Kinh đến các dân tộc thiểu số ở nước ta. Hát ru là
những lời hát có chức năng giáo dục, thẩm mỹ cao góp phần hình thành và
phát huy nuôi dưỡng tâm hồn trẻ nhỏ. Với người Kinh hát ru như một ký ức
tuổi thơ mà không ai có thể quên trong ký ức của mình, qua lời ru của bà, của
mẹ hình ảnh vầng trăng, cánh cò, dòng sông, cánh đồng, lũy tre làng nó đã
được in sâu vào tâm hồn trẻ thơ. Bằng những lời ru êm ả tha thiết của bà, của
mẹ đã gieo vào tâm thức tuổi thơ những ký ức và hình ảnh tốt lành về lòng
nhân ái, đạo lý làm người, tình yêu quê hương, đất nước.
Nghệ thuật hát ru và những bài hát ru không chỉ mang tính di sản văn
hóa mà còn là nguồn mạch quan trọng, có ý nghĩa nhân văn tiêu biểu của gia
đình Việt Nam, là mạch nguồn của sự sống nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, giáo
dưỡng nhân cách hồn nhiên, trong sáng, trọng lẽ phải, trọng đạo hiếu nghĩa
cho trẻ từ khi lọt lòng.
Hát ru là một bộ phận nằm trong kho tàng văn học dân gian truyền
thống quý giá của dân tộc với rất nhiều ý nghĩa nội dung và giá trị trong đời
sống thực tiễn xưa. Hát ru là loại hình văn hóa dân gian phi vật thể có từ lâu
đời, được lưu truyền phổ biến trong các dân tộc Việt Nam và thế giới. Với
mỗi con người, kí ức sâu đậm về thời thơ ấu chính là lời ru của bà, của mẹ,
của chị gắn với những hình ảnh gần gũi và quen thuộc như cái nôi, cái võng,
chiếc địu êm trên lưng mẹ. Lời ru ấy như đưa tâm hồn ta đến một chân trời
mới, vừa xa lại vừa gần gũi, vừa nhẹ nhàng mà lại đằm thắm thiết tha ấm áp
tình người.

6
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hát ru là bộ phận trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam - một trong
những thể loại phong phú và hấp dẫn nhất của văn học dân gian do dân
chúng sáng tác, thưởng thức, lưu truyền từ xa xưa đến nay. Trong nhiều cuốn
sách trước đây viết về văn học dân gian, thường có quan niệm: “Văn học dân
gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động” hay “Văn học
dân gian là một hình thái ý thức xã hội”. Nhiều tác giả cho rằng, văn học dân
gian ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu
dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày
nay. Vì thế nên ta rất khó có thể khẳng định rằng, hát ru ra đời khi nào, mà ta
chỉ có thể nói hát ru ra đời khi có hình thái ý thức xã hội.
Đã có nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu về hát ru ở các góc độ khác nhau.
2.1. Các sách sưu tầm, biên soạn về hát ru
Năm 1991, cuốn Những bài hát ru (Nxb Văn nghệ TPHCM) của Lê
Giang và Lê Anh Trung biên soạn được công bố. Nội dung sách có ba phần:
Phần I – Hát ru, được chia theo các nội dung như: Lời của ông bà cha mẹ; Lời
ru của chị; Ru cho tình yêu; Lời ru chồng vợ; Ru cho tình đời, tình người. Đi
kèm là những làn điệu hát ru ba miền Bắc, Trung, Nam được ký âm trên bản
nhạc. Phần II – Nói thơ được chia theo bài: Mẹ dạy con bài 1, Mẹ dạy con bài
2. Phần III – Phụ lục các bài vè… Ngoài ra, cuốn sách còn có hai bài viết về
vai trò hát ru của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Lư Nhất Vũ.
Năm 2001, cuốn Ru em, Em ngủ (Nxb Kim Đồng), nhiều tác giả sưu tầm
và dịch, bao gồm lời các bải hát ru của các dân tộc như Dao, Lô Lô, Mông,
Tày, Thái (Nghệ An, Thanh Hóa, Tây Bắc), Mường, Chăm, Cơ Ho, Cơtu,
Êđê, Giarai, Hrê, Khơme (Nam Bộ) và dân tộc Kinh…
Năm 2004, cuốn Lòng mẹ lời ru (Nxb Âm Nhạc) do tác giả Đào Ngọc
Dung sưu tầm tuyển chọn, là nhũng bài hát ru có bản nhạc được chia làm ba
8
Năm 2012, cuốn 999 bài hát ru ba miền (Nxb Văn hóa thông tin) của tác
giả Cao Hoàng Long sưu tầm biên soạn, cuốn sách giới thiệu 999 lời hát ru
đặc sắc ba miền Nam – Trung – Bắc.
Năm 2012, cuốn Hát ru Việt sử thi ( Nxb Tổng hợp TPHCM) của tác gải
Phạm Thiên Thư. Cuốn sách gồm 3.277 câu lục bát thuần Việt. Từng sự kiện
lịch sử tiêu biểu, từng chiến công hào hùng được chuyển tải đến người đọc
bằng những câu thơ giàu hình tượng, nhiều so sánh ẩn dụ, với lối kể chuyện
mộc mạc, có duyên, làm đọc giả dễ thuộc, dễ nhớ như: Hát ru Trưng Vương,
Hát ru Thăng Long…
Các công trình trên là những tư liệu quý, chứa đựng số lượng phong phú
các lời ru truyền thống của các dân tộc và các bài hát ru mới sáng tác của các
nhạc sĩ trong và ngoài nước.
2.2. Các công trình, bài viết nghiên cứu về hát ru
Năm 1986 cuốn Lời ru của mẹ (Nxb TPHCM) của nhà văn Mai Văn
Tạo được công bố, gồm những nghiên cứu và ý kiến đánh giá của tác giả,
thông qua lời tự bạch của tác giả bằng những câu chuyện kể súc tích và sinh
động, những kỷ niệm tuổi thơ và bằng những so sánh, phân tích, nhà văn đã
giúp người đọc hiểu được vai trò, giá trị to lớn của tiếng hát ru đối với cuộc
đời mỗi con người.
Năm 1987, cuốn Mẹ hát ru con của tác giả Nguyễn Hữu Thu (Nxb Phụ
nữ) được chia làm hai phần: Phần I của cuốn sách cho ta thấy đặc trưng thể
loại và chức năng của hát ru, trong đó nêu rõ vị trí, ý nghĩa xã hội của hát ru,
vai trò của hát ru đối với giáo dục trẻ thơ. Phần II của cuốn sách là phần sưu
tầm lời hát ru được tập hợp theo từng chủ đề: Những câu hát về nuôi dạy con;
những câu hát công cha nghĩa mẹ; những câu hát về thiên nhiên…
Năm 1992, cuốn Kỷ yếu hội thảo hát ru toàn quốc lần thứ nhất tại Huế
do Viện Âm nhạc và múa, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam xuất bản,
10
xã hội, thực trạng hát ru hiện nay, những biện pháp cho việc bảo tồn hát ru,
v.v và v.v…
Năm 2010, tác giả Bùi Trọng Hiền với bài viết Hát ru, đồng dao in
trong tuyển tập 1000 năm âm nhạc Thăng Long Hà Nội (quyển II, Nxb Âm
nhạc). Bài viết cho người đọc thấy được cái nhìn tổng thể về hát ru của người
Kinh ba miền Bắc – Trung – Nam với các cấu trúc ba làn điệu khác nhau, phù
hợp với thanh điệu và thẩm mỹ âm điệu từng nơi. Nhưng cả ba làn điệu đều
có cấu trúc đồng dạng với ba phần của một bài hát ru, lời ca, nhịp điệu tiết
tấu, cách hát, nội dung các bài hát ru, tính thực hành xã hội… Bài viết là
những phân tích đầy đủ và dễ hiểu về hát ru của người Kinh, thêm vào đó là
những minh họa một số lời ru thông dụng.
Năm 2011, luận văn Văn hóa học về đề tài Hát ru trong đời sống
nông thôn Bắc Bộ hiện nay do Thạc sĩ Phạm Thị Thu Hiền thực hiện (Học
viện Khoa học xã hội), đã chỉ ra đặc điểm, mối quan hệ của các thành tố của
hát ru Bắc Bộ, vai trò, vị trí và ý nghĩa của hát ru trong đời sống nông thôn
Bắc Bộ hiện nay (qua khảo sát ở xã Trường Yên – Hoa Lư – Ninh Bình), từ
đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn hát ru.
Ngoài ra ở một số sưu tập như cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
của Vũ Ngọc Phan (NXB Văn học, tái bản nhiều lần), cuốn Tục ngữ câu đố
ca dao dân ca Việt Nam của Mã Giang Lân, Lê Chí Quế (Nxb. Đại học tổng
hợp), cuốn Ca dao trữ tình Việt Nam của Vũ Dung, (Nxb. GD, 1994), cuốn
Văn học dân gian những công trình nghiên cứu của Bùi Mạnh Nhị (Nxb.
GD)…cũng giới thiệu một số đơn vị lời hát ru.
Hát ru là vốn quý ngàn đời của dân tộc Việt Nam nhưng số lượng các
cuốn sách sưu tập, nghiên cứu về hát ru còn chưa nhiều, nội dung chủ yếu
dừng lại ở khía cạnh giới thiệu đôi nét khái quát mà chưa đi sâu nghiên cứu
một cách chuyên biệt.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở phương diện ca từ, tức là
trên góc độ văn học, ngôn ngữ học là chủ yếu còn tìm hiểu hát ru ở các
phương diện nhạc lí là rất ít. Đồng thời phạm vi nghiên cứu cũng chỉ áp dụng
với các đối tượng các làn điệu hát ru truyền thống của người Việt ở một số
vùng miền chứ không áp dụng với các bài hát ru thời hiện đại.
- Phạm vi tư liệu nghiên cứu
+ Các công trình sưu tập về hát ru đã công bố, các bài báo, các tài liệu,
thông tin trên internet, kế thừa và phát huy kết quả nghiên cứu của các tác giả
đi trước liên quan đến hát ru.
+ Tham khảo thêm các bộ sưu tập ca dao của người Việt, cụ thể là tập
Ca dao (tập 15 và 16) trong bộ Kho tàng văn học dân gian người Việt do
Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003)
+ Một số câu hát ru, bài ca dao dùng để hát ru khá phổ biến và quen
thuộc do tác giả luận văn sưu tầm trong quá trình thực hiện đề tài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu văn bản văn học đối với
các tác phẩm hát ru. Từ cách tiếp cận những lời hát ru của một số vùng miền
sẽ chỉ ra hình thức, nội dung cũng như sự tác động, ảnh hưởng của hát ru đối
với đời sống tâm hồn con người.
- Bên cạnh đó là các phương pháp văn hóa học, phương pháp thống kê, đối
chiếu, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh
trong nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian.
5. Đóng góp của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cho ta hiểu rõ về khái niệm, chức
năng, mục đích và đối tượng phục vụ của hát ru. 13
- Chỉ ra nội dung thể hiện của hát ru người Việt gắn với môi trường
sinh hoạt ở ba miền Bắc – Trung – Nam dưới góc độ văn hóa mang đậm bản

một phiến đất sét nhỏ vừa vặn lòng bàn tay. Bài hát được viết dưới dạng chữ
hình nêm, bút viết làm bằng cây sậy. Ở Việt Nam, hát ru cũng được nghiên
cứu từ nhiều năm trước, song để có một mốc son cụ thể để đánh dấu sự ra đời
của hát ru thì chưa một nhà nghiên cứu nào dám khẳng định. Tồn tại song
song với lịch sử ra đời của hát ru là khái niệm về thể loại này.
Một khái niệm rất ngắn gọn: “Hát ru là điệu hát dân gian dùng để ru trẻ
ngủ, âm điệu êm ái, thiết tha, đồng thời biểu lộ tình cảm, tâm sự một cách nhẹ
nhàng” [14, tr.405]. Trích: “Từ điển Tiếng Việt’’, NXB Thanh Niên, (Lê Thị
Huyền – Minh Trí).
Một khái niệm khác của nhạc sĩ Tô Vũ thể hiện rất rõ về chức năng
của hát ru: “Hát ru, như tên gọi, đã có nguồn gốc nguyên sơ một chức năng
hết sức rõ ràng: hát (để) ru (con ngủ)”. [ 54, tr.42]
Nhận thức về đặc trưng của hát ru, Lê Văn Chưởng trong cuốn Dân ca
Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp đã viết: “ Ru là lối diễn
xướng phổ nhạc vào những bài thơ theo âm ngũ cung, chủ yếu là thơ dân gian 15
với những thể lục bát, lục bát biến thể… để đưa trẻ vào giấc ngủ. Ru là một
lối hát dân gian, miền Bắc gọi là hát ru, ở Bình Trị Thiên gọi là hò ru, bởi vì
nơi đây ru theo làn điệu hò. Thông thường thì mẹ ru con nhưng có khi bà ru
cháu, chị ru em… chủ yếu là mẹ ru con, nhưng ru cũng là cách để mẹ giãi bày
tâm sự, ru cảnh ngộ của mình.” [4, tr.34]
Trong Hát ru Việt Nam, Vũ Ngọc Phan viết: “Hát ru được phổ biến
khắp trong nước, mỗi miền hát ru một cách khác nhau, nhưng có chung một
phong thái là đều ngân nga, êm dịu. Nội dung của những bài hát ru rất phong
phú, có thể là những cảnh vật xinh xinh, những ý nghĩ thơ ngây phù hợp với
tuổi nhỏ, nó cũng có thể là tình cảm thắm thiết của người phụ nữ biểu lộ trong
bài ca phù hợp với tâm tình người hát, nó cũng có thể là tư tưởng đả kích giai
cấp phong kiến. Hát ru em đều là những bài ca dao sẵn có, người hát tự thêm

gần gũi với cuộc sống của người nông dân như con cò, con vạc, con tôm, con
kiến, con mèo…
- Loại thứ hai mang tính chất ca xướng (ca khúc dân gian) xuất hiện
muộn hơn. Nội dung của những bài hát ru loại này thường diễn đạt trực tiếp
tâm tình của người hát. Về âm nhạc, đôi khi là sự cải biên từ các làn điệu dân ca.
1.2. Đặc điểm của hát ru
1.2.1. Hát ru là một loại hình sinh hoạt dân ca vừa có tính phổ biến
vừa có tính địa phương
Hát ru nằm trong dân ca sinh hoạt, nội dung cũng gần gũi với đồng dao,
nhưng hát ru mang âm điệu buồn hơn. Đã từ lâu, những người nuôi trẻ nhỏ
khắp trên thế giới đã biết dỗ chúng ngủ bằng cách hát ru con. Hát ru là
những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong
bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân
gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, 17
những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia
đình có một cách hát riêng biệt.
Nhịp điệu của bài hát ru thường đem lại cảm giác "an toàn" cho tr ẻ có
thể là vì đã làm nhớ lại nhịp điệu tim đập mà trẻ nghe được từ những ngày
tháng còn nằm trong lòng mẹ. Giọng nói, tiếng ru của mẹ bên tai cho trẻ biết
đang được người bảo bọc, chở che.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy ru bằng những nguyên âm không
thành câu dễ làm trẻ ngủ hơn là hát thành bài có câu cú rõ rệt. Dưới góc
độ khoa học thì hát ru là những kích thích rất có lợi không những với sự phát
triển ngôn ngữ, tâm lí, sinh lí mà còn cả phát triển thể chất nữa. Đó là sự kích
thích tiền đình và nhiều người đã xác nhận rằng những trẻ hằng ngày được
kích thích bằng hát ru (khoảng 10 phút) thì phản xạ vận động tốt hơn nhiều so
với trẻ không được nghe hát ru.

Hát ru Trung Bộ ta thấy những bài như Cái quán giữa đàng
À …ơi …ơi
Bạn hàng trước ngõ
Cây hương bên tàu
nhỏ nhụy thơm xa
(Chớ) anh có đi mô lâu
Cũng nhớ ghé vô thăm chén ngọc ve ngà
Dù gần cũng nghĩa
Dù xa cũng tình
Hay như bài Bạn chào ta có ân có ái
À …ơi …ơi
Ta chào lại bạn có nghĩa có nhơn
May mô may quyển lại gặp đờn 19
Quyển kêu thánh thót còn tiếng đờn thì ngâm nga
Nhắn em về nói với mẹ cha
Dọn đàng quét ngõ tháng ba dâu về
Dâu về không lẽ về không?
Ngựa Ô đi trước ngựa Hồng theo sau
Ngựa Ô đi tới vạt cau
Ngựa Hồng thủng thỉnh đi sau vạt chè
Hay như bài hát ru Nam Bộ
Ầu ơ
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu treo lắc lẻo
Gập ghềnh khó qua

Ầu ơ

À …ơi …à… à… ơi!
Đêm khuya trăng tà, mẹ ru con ngủ
Ngoan ngoan con nhoẻn miệng cười
Trông con mẹ tưởng như đời nở hoa
Chinh chiến miền xa, cha con, chinh chiến miền xa
Mong sao con trẻ quê nhà được vui
Ngoan ngoan con nhoẻn miệng cười
Thương con mẹ những tơi bời ruột gan
Giông tố lầm than, con ơi, nơi kia giông tố lầm than
Gây nên bao cảnh điêu tàn tang thương
Mấy đời bánh đúc có xương 21
Mấy đời giặc Pháp có thương dân mình
Trách ai uốn lưỡi cầu vinh
Bán quê hương nỡ quên tình nước non…
Những câu hát mẹ ru con sẽ ăn sâu mãi mãi vào tâm thức, ý nghĩ của
con trẻ. Những lời mẹ ru sẽ là những gì êm ái nhất, nhân văn nhất trong hành
trang khi con bước vào đời:
À …ơi …à… à… ơi!
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hình ảnh vầng trăng, cánh cò, luỹ tre làng, dòng sông thơ ấu qua lời ru
ngọt ngào với giai điệu êm ái, nhẹ nhàng sẽ đưa bé dần dần đi vào giấc ngủ
bình yên. Đặc biệt, lời ru ấy còn chứa đựng biết bao tình cảm yêu thương, trìu
mến của bà, của mẹ gửi gắm, cứ thẩm thấu bồi đắp tâm hồn con qua từng câu
hò, điệu hát thấm đượm tình người, nó nuôi dưỡng tâm hồn bé, làm cho sợi

đạo đức của người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là tinh thần đoàn kết, đùm bọc,
yêu thương, chia sẻ trong mỗi mái ấm gia đình Việt Nam.
Như vậy, có thể nói, người mẹ Việt Nam nuôi dưỡng con không chỉ
bằng dòng sữa ngọt ngào, mà còn bằng những lời ru. Thế nhưng, thật đáng
tiếc, loại hình nghệ thuật dân gian từng góp phần nuôi dưỡng bao thế hệ khôn
lớn, trưởng thành đang có nguy cơ mai một. Bởi cuộc sống đã khác đi, khi
những bà mẹ có rất ít thời gian, khi tiếng nhạc hoà tấu ru trong đĩa hát cũng
có thể đưa con vào giấc ngủ.

Trích đoạn Nội dung của hát ru ngƣời Việt Nghệ thuật của hát ru ngƣời Việt Các biện pháp nghệ thuật (thể thơ, ngôn ngữ, gieo vần, so sánh, Giá trị về văn hóa, nghệ thuật của hát ru
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status