ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XA HỘI VÀ NHÂN VĂN PARK YEON KWAN NGHIÊN CỨU SO SÁNH MỘT SỐ TÍP TRUYỆN
CỔ TÍCH VIỆTNAM VÀ HÀN QUỐC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2002
Đại học quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Park yeon kwan
Nghiên cứu so sánh một số típ
truyện cổ tích Việt Nam và Hàn Quốc
Trg
- Mở đầu
3
1. Tính cấp thiết của đề tài
3
2. Giới thuyết đề tài và phạm vi nghiên cứu
4
3. Phương pháp nghiên cứu
4
4. Mục đích của đề tài
5
5. Lịch sử vấn đề
5
6. Đóng góp của luận án
19
7. Bố cục của luận án
20
- Nội dung
2.2.1. Các típ truyện về các loài vật
46
2.2.2. Các típ truyện về món quà của quỉ
72
2.2.3. Các típ truyện về người mang lốt vật
74
2.2.4. Các típ truyện về người lấy vợ (hoặc chồng) tiên
2.2.5. Các típ truyện về người mồ côi, người anh người
em
2.2.6. Các típ truyện về người thông minh và người
ngốc nghếch
84
88
99
Chương 3: Lý giải về những tương đồng và dị biệt giữa
truyện cổ tích Việt Nam và Hàn Quốc
113
3.1. Những tương đồng giữa truyện cổ tích Việt Nam và
Hàn Quốc
113
2
3.1.1. Với típ truyện về con hổ
3.2.2. Những dị biệt trong típ truyện về nguồn gốc loài
vật
132
3.2.3. Những dị biệt trong típ truyện những món quà
của quỉ
133
3.2.4. Những dị biệt trong típ truyện người mang lốt vật
133
3.2.5. Những dị biệt trong típ truyện về người lấy vợ
(hoặc chồng) tiên
134
3.2.6. Những dị biệt trong típ truyện về người con mồ
côi - dì ghẻ
134
3.2.7. Những dị biệt trong típ truyện về người anh và
người em
135
3.2.8. Những dị biệt trong típ truyện về sự thông
minh và sự ngu ngốc
135
3.3. So sánh sự tương đồng và dị biệt của truyện cổ tích
Việt Nam và Hàn Quốc với truyện cổ tích Trung Quốc và
Nhật Bản
+ Phụ lục 1: Một số truyện cổ tích dân gian Việt Nam -
Hàn Quốc được sử dụng trong luận án này
+ Phụ lục 2: Các típ truyện dân gian Hàn Quốc theo sự
phân loại của giáo sư In Hak Choi
162
234
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Việt Nam và Hàn quốc là hai quốc gia “không những gần gũi về
mặt địa lý, mà còn có rất nhiều điểm tương đồng về tập tục sinh hoạt, phong
cách tư duy tôn giáo, tình cảm dân tộc, di sản văn hoá. Mẫu số chung đó có
đặc điểm rất khác thường”. Kho tàng văn học dân gian của cả hai nước nói
chung, truyện cổ tích nói riêng có những nét tương đồng, bên cạnh những nét
dị biệt. Nghiên cứu và so sánh giữa truyện cổ tích Việt Nam và Hàn quốc là
công việc không chỉ có ý nghĩa tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước ở
phương diện văn hoá mà còn có điều kiện để làm sáng rõ hơn những vấn đề
của việc nghiên cứu thi pháp truyện cổ tích.
1.2. Vận dụng các Bảng mục lục tra cứu típ và mô típ truyện cổ dân
gian của Antti Aarnaer và Stith Thompson, cũng như vận dụng phương pháp
nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử trong chừng mực nào đó sẽ giải quyết
được vấn đề nguồn gốc của truyện cổ tích, sự giống nhau và khác nhau giữa
truyện cổ tích của các dân tộc trên thế giới. Ở Hàn quốc cũng như ở Việt
Nam, công việc này đã được nhiều học giả tiến hành. Kết quả mà các nhà
của mình, có quan hệ mật thiết về lịch sử văn hoá với các nước trong khu vực
như Trung Quốc, Nhật Bản, luận án xin được đặt truyện cổ tích Việt Nam,
Hàn Quốc trong khu vực này, nhưng trong những trường hợp thật cần thiết
mới đặt vấn đề so sánh, còn lại, luận án sẽ không đi sâu vào việc so sánh giữa
truyện cổ tích của Việt Nam và Hàn Quốc và truyện cổ tích của các nước
trong khu vực. Bởi lẽ, đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ
tương đồng và dị biệt giữa một số típ và mô típ của truyện cổ tích Việt Nam
và Hàn Quốc.
5
3. Phương pháp nghiên cứu.
3.1. Ngoài việc vận dụng những phương pháp chung của khoa học
folklore, về cơ bản luận án vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh loại
hình- lịch sử.
3.2. Ngoài ra, khi cần thiết, chúng tôi có vận dụng phương pháp nghiên
cứu liên ngành : ngữ văn học, văn hoá học.v.v
4. Mục đích của đề tài
4.1. Luận án nhằm tìm ra những tương đồng, dị biệt giữa truyện cổ tích
Việt Nam và truyện cổ tích Hàn Quốc, lý giải nguyên nhân của sự tương đồng
và dị biệt ấy, trên cơ sở nghiên cứu so sánh một số kiểu truyện (type) của
truyện cổ tích Việt Nam và truyện cổ tích Hàn Quốc.
4.2. Bước đầu trình bày những nét bản sắc dân tộc của hai dân tộc trong
truyện cổ tích, trên cơ sở nghiên cứu, so sánh một số kiểu truyện (type)
truyện cổ tích của hai quốc gia Việt Nam, Hàn Quốc.
5. Lịch sử vấn đề
5.1. Từ đầu thế kỷ XIX. vấn đề nguồn gốc truyện cổ tích đã được đặt ra,
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học folklore trên thế giới. Vấn đề
giống nhau giữa truyện cổ tích các dân tộc và liên quan đến chủ đề này là vấn
đề nguồn gốc của truyện cổ tích trở thành vấn đề trung tâm của khoa học về
truyện cổ tích. Trường phái Ấn Âu với các đại biểu như Jacốp Grim ở Đức,
việc lý giải vấn đề nguồn gốc của truyện cổ tích và sự giống nhau giữa các
truyện cổ tích của các dân tộc.
Đóng góp quyết định cho sự hình thành phương pháp nghiên cứu so sánh
loại hình lịch sử V.Ia Prôp. Là người đặt nền móng cho những tư tưởng và
nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử V.Ia. Prôp
với các công trình Hình thái học truyện cổ tích, Những căn rễ lịch sử của
truyện cổ tích thần kỳ, đã có nhiều đóng góp cho việc lý giải nguồn gốc của
7
truyện cổ tích cũng như sự giống nhau giữa truyện cổ tích của các dân tộc.
Cùng với V.Ia Prôp, một số nhà khoa học folklore khác của Liên Xô (cũ) như
V.M. Girmunxki, I.I. Tônxtôi, I.M. Trônxki, Phrancơ Kamenhetxki, nhất là
E.M. Mêlêtinxki đã có nhiều đóng góp cho sự hoàn thiện của phương pháp
nghiên cứu so sánh loại hình - lịch sử .
5.2. ở Việt Nam phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử trong
giới nghiên cứu folklore đã được chú ý từ những năm 70 của thế kỷ này.
Trước hết, các học giả Việt Nam đã dịch, giới thiệu về phương pháp
nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử như tạp chí Dân tộc học (số 1/1976) giới
thiệu bài của P.N.Puchilốp: Những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu so
sánh lịch sử văn học dân gian, Đỗ Nam Liên trình bày Vài nét về phương
pháp so sánh loại hình lịch sử trong khoa nghiên cứu Phônclo ở Liên Xô [39],
Gs. TS Lê Chí Quế với bài V.Ia. Prôp và phương pháp nghiên cứu Phonclo
theo so sánh loại hình lịch sử [61].
Việc giới thiệu ấy rõ ràng có nhiều tác dụng cho việc vận dụng phương
pháp nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử, vào việc nghiên cứu truyện cổ tích
ở Việt Nam. Sau đó, hai công trình của V.Ia Prôp: Hình thái học của truyện
cổ tích và Những căn rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ đã được dịch ra
tiếng Việt, cuốn thứ nhất được dịch trọn vẹn, cuốn thứ hai được dịch 3 trong
tổng số 10 chương của cuốn sách.
Người có ý thức vận đụng và vận dụng có kết quả phương pháp này ở
vận dụng lý thuyết của V.I.Prôp để nghiên cứu truyện cổ tích thần kỳ. Đầu
tiên phải kể đến Trần Đức Ngôn với tiểu luận sau đại học Nghiên cứu kết cấu
truyện cổ tích thần kỳ viết theo lý thuyết hình thái học của Vlađimia
Iacôplêvich Prốp. Công trình dày 64 trang lưu ở Thư viện trường Đại học sư
phạm Hà Nội I và Viện nghiên cứu văn hoá dân gian, tuy chưa xuất bản rộng
rãi, nhưng quả đúng như tác giả Tăng Kim Ngân đã khẳng định : “Đây là một
công trình nghiên cứu có giá trị và đáng trân trọng” [44:10]. Sau này tác giả
9
đã công bố tinh thần của luận văn này trên bài báo cùng tên ở Tạp chí văn hoá
dân gian số 3/1991 [47].
Trong việc nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt nam,
PGS.TS Võ Quang Nhơn, PGS.TSKH Phan Đăng Nhật cũng đã vận dụng có
hiệu quả phương pháp loại hình – lịch sử.
Cùng hướng nghiên cứu với tác giả Trần Đức Ngôn, trong luận văn PTS,
(nay là TS) của mình, tác giả Tăng Kim Ngân đã nghiên cứu Cổ tích thần kỳ
người Việt, đặc điểm cấu tạo cốt truyện. Luận án bảo vệ thành công, tác giả
đã xuất bản thành sách với nhan đề trên [44]. Sau khi trình bày về lý thuyết
hình học truyện cổ tích thần kỳ của V.I Prôp (từ trang 16 đến trang 40), tác
giả đã dành chương 2 dể khảo sát cấu tạo cốt truyện thần kỳ của người Việt
trên cơ sở vận dụng lý thuyết hình thái học truyện cổ tích thần kỳ của V.I.a.
Prôp (từ trang 52 đến trang 142). Mặt khác, tác giả còn dành chương 3 để suy
nghĩ về những hiện tượng truyện cổ tích thần kỳ người Việt vượt ra ngoài sơ
đồ lý thuyết của V.Ia.Prôp (từ trang 143 đến trang 181). Có thể nói, trong việc
vận dụng lý thuyết hình thái học truyện cổ tích thần kỳ, công trình của Tăng
Kim Ngân là một công trình nghiên cứu rất có giá trị về truyện cổ tích Việt
Nam.
Năm 1991, tạp chí Văn hoá dân gian đã dành một số chuyên đề để bàn
về các vấn đề thi pháp. Ngoài bài tổng quan Thi pháp học và việc nghiên cứu
thi pháp văn học nghệ thuật dân gian của PGS,TS. Nguyễn Xuân Kính, các
được hai tác giả quan tâm. Người thứ nhất là Nguyễn Thị Hiền. Trên tạp chí
văn hoá dân gian số 2/1996, chị đã công bố bài báo Nghiên cứu truyện cổ dân
gian Việt Nam theo bảng mục lục tra cứu típ và mô típ truyện cổ dân gian của
Antti Aarne và Stith Thompson [20:13-24]. Người thứ hai là Nguyễn Thị
Nguyệt sau khi giới thiệu về bảng mục lục tra cứu type và môtip truyện cổ
dân gian Nhật Bản của Keikoseiki và Hiroco Ikeda [49:61-63] chị đã công bố
11
bài báo khoa học của mình về việc ứng dụng hệ thống Aarne Thompson vào
truyện kể dân gian Việt Nam [50:29-31].
Việc vận dụng lý thuyết này trước đó đã được một số nhà nghiên cứu
văn học dân gian thực hiện. Có thể kể đến giáo sư Đinh Gia Khánh với tham
luận đề dẫn hội thảo khoa học Mối quan hệ giữa văn học dân gian Việt Nam
và văn hoá các nước Đông Nam Á: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối
cánh văn hóa Đông Nam Á. Khi chỉ ra các vấn đề chủ yếu khi nghiên cứu văn
học dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á, giáo sư có chỉ
ra vấn đề các mô típ của văn học dân gian: “cần và có thể tiếp cận các vấn đề
so sánh mô típ của truyện dân gian ở Việt Nam với môtip của truyện dân gian
các nước Đông Nam Á” [28:17]. Cũng nằm trong hướng nghiên cứu này, tác
giả Nguyễn Thị Huế đã đề cập đến một vài môtip trong hệ thống truyện kể về
cội nguồn dân tộc Việt Nam là Đông Nam Á [21:32-37].
- Kiều Thu Hoạch có bài tìm hiểu kiểu (type) truyện Tấm Cám ở Trung
Quốc, đã cho biết bản kể cổ nhất thế giới về típ truyện này chính là truyện
nàng Diệp Hạn ở người Choang, miền Nam Trung Quốc xuất hiện khoảng thế
kỷ IX. Tác giả đồng thời cũng giới thiệu một dị bản truyện Tấm Cám của
người Kinh/Việt di cư sang Trung Quốc từ thế kỷ XVI, hiện là một trong số
55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc [23].
Kiều Thu Hoạch đã so sánh típ truyện Trầu Cau ở Trung Quốc với típ
truyện ở Việt Nam, Cămpuchia, trên cơ sở đó bàn về tục ăn trầu và văn hóa
quyển trầu cau Đông Nam Á [25].
trình đáng được đánh giá cao, và vì đó là sách nghiên cứu truyện cổ tích theo
hướng so sánh loại hình đầu tiên nên nó có ý nghĩa trong lịch sử nghiên cứu
truyện cổ tích Hàn Quốc.
13
Tiếp theo ông Son Jin Tae, vào thập niên 30, ông Choi Nam Son đã
nghiên cứu truyện cổ tích theo môtíp, ông đã công bố công trình nghiên cứu
của mình ở trên báo Tân báo hàng ngày qua 72 lần từ tháng 6 năm 1938 đến
tháng 3 năm 1939. Năm 1983 những bài báo này được tập hợp và in thành
sách. Trong khi đó, ông In Kwon Hak nghiên cứu quá trình giao lưu và ảnh
hưởng truyện cổ tích Ấn Độ sang truyện cổ tích Hàn Quốc.
Ông In Hak Choi thì có nhiều công trình nghiên cứu so sánh truyện cổ
tích Hàn Quốc với Nhật Bản và đã công bố như sau:
Nghiên cứu so sánh truyện cổ tích Hàn - Nhật ở tạp chí Giáo dục mới
vào tháng 9 năm 1976 Nghiên cứu so sánh những yếu tố cơ bản của truyện
cổ tích Hàn - Nhật ở tạp chí Sinh hoạt đọc sách vào tháng 9 năm 1976, và
xuất bản sách So sánh truyện cổ tích Hàn - Nhật (Nxb Samsung 1980).
Ông In Hak Choi cũng công bố công trình nghiên cứu so sánh giữa
truyện cổ tích Hàn Quốc và Trung Quốc (Hàn Quốc thuyết thoại luận, 1982).
ở công trình này tác giả đã phân tích cụ thể sự cần thiết nghiên cứu so sánh
truyện cổ tích Hàn - Trung.
Và ông Sung Ki Yeal vào năm 1979 đã công bố công trình nghiên cứu
của mình là Nghiên cứu so sánh truyện cổ tích Hàn - Nhật. Ở luận văn trên
ông đã chọn 17 loại truyện cổ tích của Hàn - Nhật như Con hổ và quả hồng
khô, Gan của con thỏ, Bất hiếu của con ếch xanh v.v Khi phân tích tác giả
cũng so sánh với một số truyện cổ tích Trung Quốc và châu Âu.
Ngoài những công trình nêu trên từ thập niên 80 ở Hàn Quốc có rất
nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu so sánh giữa truyện cổ tích Hàn
Quốc với truyện cổ tích các nước khác như Đức, Ấn Độ, I Ran lần lượt
được công bố.
hệ thống mà chỉ liệt kê ra theo mục lục. Ông Jang Suk Soon cũng công bố
15
cách phân loại truyện cổ tích vào năm 1970, nhưng ông này không theo cách
phân loại của Thomson mà chia ra 9 mục 52 hạng phù hợp với đặc trưng của
cổ tích trong nước như sau:
1. Truyện có nội dung thần thoại
a. Nguồn gốc thần nhân; b. truyện thần; c. vũ trụ; d. địa hình; e. con
người; f. thực vật; g. động vật;
2. Truyện động vật
a. Nguồn gốc; b. với con người; c. với động vật; d. động vật ảo tượng
3. Truyện đời sống
a. Báo mộng; b. quái thai; c. xuất sinh; d. học tập, thử thách; e. đỗ thi
và lập thân, f. kết hôn, g. bệnh lão; h. chết; i. hoàn sinh.
4. Truyện con người
a. Anh em và tình nghĩa anh em; b. bố con và hiếu thảo; c. vợ chồng
và chung thuỷ; d. mụ dì ghẻ và vợ lẽ; e. tình dục; f. xã hội; g. bạn và tình bạn;
h. cá độ
5. Truyện tín ngưỡng
a. Phong thuỷ; b. xem bói; c. cầm kỳ; d. mộng; e. số mệnh; f. hạnh
phúc; g. thưởng phạt; h. Phật giáo.
6. Truyện anh hùng
a. Thắng lợi quái vật; b. dũng sĩ bé con; c. vũ trang.
7. Truyện kỳ quái
a. Du lịch thế giới sao; b. Đô Kê bi (loại ma quỷ); c. ma quỷ; d, thành
tinh; e. phép lạ; f. dị nhân.
8. Truyện cười
a. Truyện cười; b. thông minh;
16
sánh văn học dân gian Việt Nam và văn học dân gian Hàn Quốc ở phạm vi
hẹp.
5.4.1. Do những tương đồng về văn hoá, do vị thế địa văn hoá và địa
chính trị của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, do sự phát triển của quan hệ
ngoại giao hợp tác thân thiện giữa hai nước, cũng như nhiều nguyên nhân
khác nữa mà việc nghiên cứu, so sánh giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá Hàn
Quốc những năm qua được chú trọng. Giới nghiên cứu văn hoá ở cả hai nước
đã có những công trình về những vấn đề này.
Ở Việt Nam ngày 19/12/1994, một hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề
Những vấn đề văn hoá Việt Nam - Hàn Quốc đã được tổ chức tại Hà Nội, do
khoa ngữ văn, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia
Hà Nội tổ chức. Năm 1996, cuốn Tương đồng văn hoá Hàn Quốc - Việt
Nam[58] được ra mắt bạn đọc, với đa số bài viết được lấy từ hội thảo khoa
học kể trên. Các nhà khoa học Việt Nam đã đề cập những vấn đề chung như
Một số vấn đề chung của Hàn Quốc và Việt Nam nhìn từ góc độ Nho giáo
(GS Trần Đình Hượu), Vùng văn hoá Đông Á và sự tương đồng văn hoá Việt
Nam - Hàn Quốc, (TS Trần Ngọc Vương), Về mối quan hệ loại hình giữa văn
hoá Việt Nam và Hàn Quốc (GS.TS Lê Chí Quế) v.v , đồng thời, các nhà
khoa học cũng đã bước đầu so sánh văn chương Hàn Quốc với văn chương
Việt Nam như so sánh thể loại truyện truyền kỳ chữ Hán ở Việt Nam và Hàn
Quốc (PGS Phạm Tú Châu), so sánh giữa truyện Kiều của Việt Nam và
truyện Xuân Hương của Hàn Quốc v.v Mặt khác, các nhà khoa học đã sơ bộ
đối chiếu ngôn ngữ Hàn Quốc và Việt Nam như các công trình của TS Hoàng
Trọng Phiến: Đối chiếu các âm tiết Hán - Việt, Hán - Hàn với các âm tiết
Hán, của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết và KimYoung Soo: mấy nhận xét về từ
18
xưng hô trong tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc v.v lĩnh vực cuối cùng mà các
nhà khoa học quan tâm là những vấn đề về văn hoá xã hội Hàn Quốc.
Như vậy, sự tương đồng giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá Hàn Quốc
nét chung của lịch sử hai dân tộc; hai nước đều chung trong một khu vực văn
hoá; thế giới quan trung cổ giữ vai trò to lớn trong thể loại này. Sau đó, trong
phần IV, tác giả đề cập đến Tính biểu trưng hay là biện pháp sáng tác và phần
V: Thông qua môi giới hay là ảnh hưởng tiếp nhận. Tác giả đã hoàn toàn
chính xác khi khẳng định rằng: “Khi so sánh Truyện cổ hai dân tộc Việt - Hàn
chính là để thấy nó trong biểu hiện dễ cảm nhận của các ảnh hưởng ấy: từ Vô
thức đến ý thức cùng các sức mạnh bản năng và sức nặng trí tuệ xung đột lẫn
nhau hoặc đang trong tiến trình hài hoa bên trong xác thịt con người và cả bên
trong “xác thân” của mỗi đất nước” [84:523].
Có lẽ do điều kiện của một tiểu luận đi kèm với một tuyển tập giới thiệu
các truyện cổ Hàn Quốc mà PGS.TS Đặng Văn Lung chưa đi sâu vào các vấn
đề về sự tương đồng giữa tip và môtip của truyện cổ tích giữa nước Hàn
Quốc, Việt Nam.
Ở Hàn Quốc việc nghiên cứu so sánh truyện cổ tích Việt Nam và Hàn
Quốc mới chỉ có một luận văn Th.s của Jeon Hye Kyung. Luận văn gồm các
phần:
- Phần mở đầu.
+ Sự gặp nhau giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá Hàn Quốc.
+ So sánh loại hình truyện cổ tích có nội dung nguồn gốc loài vật:
truyện loài chim, truyện loài côn trùng, truyện loài gia súc, truyện loài động
vật khác.
- Phần kết luận.
Như vậy là, cho đến hiện nay, việc nghiên cứu so sánh giữa truyện cổ
tích Việt Nam và Hàn Quốc ở các tip và mô tip tiêu biểu vẫn chưa được giới
20
nghiên cứu văn hoá nói chung, văn học dân gian nói riêng quan tâm. Nói cách
khác, vận dụng lý thuyết của trường phái Phần Lan vào việc nghiên cứu tip và
môtip truyện cổ tích Việt Nam và Hàn Quốc, so sánh tương đồng, dị biệt giữa
chúng, lý giải sự nguyên nhân tạo ra tương đồng dị biệt ấy vẫn là câu hỏi của
1.1. Theo các nhà nghiên cứu folklore Việt Nam, thì kho tàng truyện cổ
tích cũng như truyện kể dân gian Việt Nam nói chung, chắc chắn đã được lưu
truyền bằng miệng từ thời xa xưa, trước khi có chữ viết. Nhưng lịch sử sưu
tầm, ghi chép truyện dân gian thì chỉ được bắt đầu từ thời Lý khi nhà nước
Đại Việt chủ trương khôi phục và phát triển nền văn hóa dân tộc. Đó là những
công trình sưu tập truyện kể dân gian, trong đó có thể loại truyện cổ tích,
được ghi chép bằng chữ Hán. Vào thời Lý - Trần, sách sưu tập truyện kể dân
gian tiêu biểu là hai tác phẩm Việt điện u linh và Lĩnh Nam chính quái. Đặc
biệt, sách Lính Nam chích quái tiếp tục được bổ sung và mãi đến cuối thế kỷ
XV mới được công bố, nên đã ghi được một số truyện cổ tích có giá trị như
các truyện sự tích Trầu Cau, sự tích Bánh Chưng Bánh Dày, sự tích Dưa Hấu,
Sự tích Núi Vọng Phu v.v Đó đều là những truyện cổ tích rất phổ biến ở
Việt Nam mà trẻ già trai gái ai ai cũng biết. Tiếp tục truyền thống của các nhà
sưu tập văn học dân gian thời Lý - Trần, các nhà sưu tập từ thời Lê cho đến
đầu thời Nguyễn cũng sưu tập được khá nhiều truyện kể dân gian, trong đó có
những cổ tích hay như các truyện Tinh chuột, Lấy chồng dê (Trong sách
Thánh Tông di thảo), truyện Từ Thức lấy vợ tiên, truyện Người con gái Nam
Xương (trong sách Truyền kỳ mạn lục), truyện Đế Thích, tức Hồn Trương Ba
da Hàng Thịt, truyện Cường Bạo đại vương, truyện Đinh Tinh Hoàng, truyện
Hổ Ông ở Tống Sơn (trong sách Công dư tiệp ký), truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở
Bích Câu, tức truyện Tú Uyên - Giáng Kiều (trong sách Tục truyền kỳ), hoặc
như các truyện Chuyện tình ở Thanh Trì, tức dị bản Truyện Trương Chi rất
22
quen thuộc với người Việt Nam trước đây, truyện Rồng, truyện Con hổ có
nghĩa, Gấu hổ chọi nhau (trong sách Lan từ kiến văn lục). Trong số những
sách sưu tập ở thời kỳ này chú ý là cuốn Sử Nam chí dị của Trần Gia Du được
ghi bằng chữ Nôm, hoàn thành vào năm Tự Đức thứ 30 (1877) đã ghi được
hầu hết các truyện cổ tích quen thuộc ở Việt Nam, v.v
Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, truyện kể dân gian