Nghiên cứu khoa học
Văn hóa
Nghiên cứu so sánh tôn giáo việt nam và hàn quốc:
Những nhận xét b-ớc đầu
Phạm hồng thái*
Túm tt: Bi vit nờu nhng nhn xột bc u t nhng nghiờn cu so sỏnh tụn giỏo
Vit Nam v Hn Quc trong thi gian va qua. Din mo cỏc tụn giỏo chớnh, c im
giao lu v tip thu vn húa truyn thng, hon cnh sinh tn v ngun gc chng tc ca
c dõn mi nc l nhng khớa cnh c chỳ ý trong vic phõn tớch lớ gii nhng im
tng ng v khỏc bit trong tụn giỏo mi nc. Bi vit cng nờu nhng vn trc
mt trong nghiờn cu thuc mng ti ny nhm gúp phn tng cng s hiu bit vn
húa ln nhau gia Vit Nam v Hn Quc.
T khúa: Tụn giỏo Vit Nam, Tụn giỏo Hn Quc, Tng ng, D bit
rong nghiờn cu so sỏnh vn húa Vit
Nam v Hn Quc hin nay, nghiờn
cu tụn giỏo l mt lnh vc cú ý ngha rt
quan trng. T xa xa, tụn giỏo ó tr thnh
mt b phn khụng th thiu trong i sng
vn húa tinh thn ca hai dõn tc. Tụn giỏo
l lnh vc ca nim tin, tõm linh nhng
cng l ni th hin khỏt vng nhn thc th
gii, khỏt vng v s hon thin i sng cỏ
nhõn v xó hi, l ni kt t nhng giỏ tr
o c v nhõn sinh trong lch s lao ng
v u tranh ca mi cng ng.* Ngy nay,
tụn giỏo cng l lnh vc ang t nhiu vn
phc tp v nhy cm khụng ch gii hn
trong phm vi vn húa m cũn liờn quan mt
thit i sng chớnh tr, an ninh ca mi
TS, Vin Nghiờn cu ụng Bc
Nghiên cứu đông bắc á, số 12(142) 12-2012
53
Nghiªn cøu khoa häc
Trong quá trình nghiên cứu, cùng với việc
tuân thủ những nguyên tắc tiếp cận truyền
thống, chúng tôi đặc biệt chú ý tới bốn khía
cạnh được cho là quan trọng trong phân tích
so sánh văn hóa nói chung và so sánh tôn
giáo của Việt Nam và Hàn Quốc nói riêng.
Thứ nhất là phân tích đối tượng từ góc độ
địa văn hóa. Cụ thể, chúng tôi lưu ý tới sự
giống và khác nhau về điều kiện địa lý, khí
hậu và điều kiện sống truyền thống mà quan
trọng nhất là nền tảng sản suất vật chất của
người Hàn và người Việt trong tiến trình lịch
sử phát triển.
Thứ hai là phân tích nguồn gốc chủng tộc.
Đây là một yếu tố không thể bỏ qua trong
quá trình nghiên cứu, vì thực tế tại khu vực
Đông Bắc Á và nhất là tại Hàn Quốc, cộng
đồng dân cư ở đây là kết quả di cư của
những cộng đồng có nguồn gốc khác nhau
trong lịch sử tạo nên. Điều mà chúng tôi
quan tâm chính là cội nguồn chủng tộc đó sẽ
đến đời sống sinh hoạt xã hội ở mỗi một giai
đoạn lịch sử với những mức độ khác nhau.
Hơn nữa, sự phát triển hay lụi tàn của một
tôn giáo nào đó, đôi khi có liên quan ít nhiều
đến một hoàn cảnh chính trị - xã hội đặc thù
nhất định.
Về kết quả nghiên cứu, chúng tôi có được
một số nhận xét sơ bộ về sự tương đồng và
dị biệt của tôn giáo ở Việt Nam và Hàn
Quốc cũng như những cơ sở văn hóa, xã hội
của chúng như sau:
1) Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm
tương đồng về cơ sở kinh tế xã hội truyền
thống với tư cách là nền tảng văn hóa nói
chung và đời sống tín ngưỡng nói riêng.
Tuy không gần kề về địa lý, nhưng các
giá trị văn hóa truyền thống của hai nước,
trong đó có văn hóa tín ngưỡng, đều có quá
trình hình thành lâu dài trong trong những
điều kiện kinh tế, xã hội có nhiều đặc điểm
tương đối giống nhau. Đó là văn hóa của
những xã hội trải qua hàng nghìn năm với cơ
sở kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp canh
tác lúa nước. Nghề nông nghiệp xuất hiện
đầu tiên ở Bán đảo Choson vào khoảng 3000
năm trước công nguyên ở phần phía bắc,
phần phía nam xuất hiện muộn hơn1. Tại
Việt Nam, cách đây khoảng 6000 năm đến
5000 năm, các bộ lạc đã bắt đầu đi vào giai
đoạn nông nghiệp trồng lúa nước2. Ngày
2) Mặc dù thực tiễn lịch sử của mỗi nước
có những khác biệt đặc thù, nhưng điểm
chung của hai dân tộc Việt và Hàn là đều
được hình thành trong quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước rất gian khổ, lâu dài;
luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm để
bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đặc điểm này
ghi dấu ấn và hình thành những đặc trưng
trong các tín ngưỡng, điển hình là sự tôn thờ
tổ tiên, sùng bái các vị anh hùng dân tộc có
công dựng nước và giữ nước.
3) Trong đời sống tín ngưỡng dân gian, cả
người Việt và người Hàn đều có những tín
ngưỡng bản địa mang tính đa thần, phản ánh
khát vọng và tư duy của những cư dân trồng
lúa nước và đánh cá. Shaman giáo Hàn
Quốc, có nhiều nét độc đáo, phản ánh sự tích
hợp nhuần nhuyễn của văn hóa tín ngưỡng
các dân tộc Bắc Á với tín ngưỡng của những
cư dân nông nghiệp Nam Á. Shaman giáo
Hàn Quốc ngày nay là một ví điển hình về
loại hình tín ngưỡng Shaman còn tồn tại trên
thế giới, song điểm độc đáo là Shaman giáo
đã trở thành một nét văn hóa độc đáo của
Hàn Quốc và được các nhà nghiên cứu lưu ý,
bảo tồn để làm phong phú đời sống văn hóa
tinh thần của người Hàn Quốc. Tín ngưỡng
dân gian Việt Nam cũng mang đậm tính đa
Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 12(142) 12-2012
4) Việt Nam và Hàn Quốc đều có hoặc
từng có những tôn giáo mang tính thế giới
hoặc khu vực giống nhau, đó là Phật giáo,
Đạo giáo, Khổng giáo, Kitô giáo. Đây là kết
quả của quá trình tiếp thu và cải biến một
cách sáng tạo văn hóa tín ngưỡng từ Ấn Độ,
Trung Hoa và phương Tây.
Cũng giống như ở Hàn Quốc, Phật giáo
đã và đang tồn tại ở Việt Nam chủ yếu là
Phật giáo Bắc tông hay Phật giáo Đại thừa
(Mahāyāna). Điều này phản ánh sức lan tỏa
mạnh mẽ của Phật giáo Trung Quốc, song
cũng cần thấy rằng, Phật giáo ảnh hưởng vào
Việt Nam và Hàn Quốc không chỉ có một
55
Nghiên cứu khoa học
con ng duy nht t Trung Quc. Vic
Pht giỏo i tha tn ti v phỏt trin ph
bin ti hai quc gia ny cũn th hin mt
nột vn húa chung l th gii quan hin th
nghiờng v nhng mi quan tõm cú tớnh th
tc ca cỏc c dõn nụng nghip ụng.
o giỏo vn khi ngun t Trung Quc,
mc dự l c v tớn ngng v t tng u
cú nh hng sõu sc trong vn húa ca Vit
Nam v Hn Quc. Nhng cng ging nh
Hn Quc, tớn ngng o giỏo Vit Nam
tớn iu Nho giỏo na. Trong iu kin ú,
nhng nghi l Nho giỏo vi t cỏch l tụn
giỏo gn lin vi h t tng phong kin
cng mt dn c s xó hi ca mỡnh. Mc dự
vy, ti Hn Quc, Nho giỏo vi t cỏch l
tụn giỏo vn ớt nhiu tn ti cho n tn ngy
nay5. Cũn ti Vit Nam, Nho giỏo vi ý
ngha tụn giỏo ch cũn c tỡm thy thp
thoỏng trong nhng nghi l th cỳng T tiờn
v tc th Tri, v thc cht, nú ch cũn tn
ti ch yu trờn bỡnh din t tng.
C Vit Nam v Hn Quc u tip nhn
Kitụ giỏo t thi k cn i6. Kitụ giỏo nh
hng vo Vit Nam v Hn Quc cú nhng
nột ging nhau vo thi k u. Nú u gp
phi s ng vi h t tng v tớn
ngng truyn thng c hu v u tng b
bi xớch rt khc lit. Thỏi khụng chp
nhn Kitụ giỏo trong lch s Vit Nam v
Hn Quc mt phn do s xung t v vn
húa cú tớnh cht khu vc, gia vn húa
phng ụng v phng Tõy. Tuy nhiờn,
im to nờn s xung t trong thi k ny
cũn do Kitụ giỏo c coi nh tớn ngng
gn vi nhng õm mu thụn tớnh cỏc dõn tc
Chõu ca cỏc th lc ngoi xõm n t
phng Tõy.
Mc dự vy, Kitụ giỏo vn tng bc to
ra c s nh hng vo vn húa ca hai
dõn tc, song trong lch s truyn giỏo ca
Nghiªn cøu khoa häc
phương Tây và thực tế, ít nhiều đã bị các thế
lực ngoại xâm lợi dụng. Chính vì vậy khi đó,
Kitô giáo, đặc biệt là Công giáo, bị xem như
tín ngưỡng của ngoại bang, của những người
đi ngược đường đi của cộng đồng dân tộc.
Tại Hàn Quốc tình hình có nhiều khác biệt.
Kitô giáo, ngay từ đầu, được chính những
người Hàn có tư tưởng cấp tiến tiếp thu và
truyền bá7. Trong quá trình phát triển, Kitô
giáo tại bán đảo này đã từng được người dân
sử dụng như chỗ dựa tinh thần để tập hợp
lực lượng chống lại thế lực ngoại xâm.
Chính vì thế, nhà thờ Thiên chúa giáo và các
hội Tin Lành đã trở thành những tổ chức của
những người có tư tưởng dân tộc yêu nước.
Phải chăng cũng từ cơ sở như vậy mà trong
thời kỳ hiện đại, Kitô giáo ở Hàn Quốc đã có
điều kiện để tạo ra một sức mạnh phát triển
tự thân mạnh mẽ và dần trở thành một tôn
giáo có số lượng tín đồ đông đảo nhất. Ngày
nay, ở Hàn Quốc, Kitô giáo nói chung và
đạo Tin Lành nói riêng đang có một vị trí
quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh
của người dân Hàn Quốc. Cũng cần thấy
rằng, do vị trí đặc biệt của nó mà Kitô giáo
Hàn Quốc, nhất là các hệ phái Tin Lành
đang có xu hướng mở rộng ảnh hưởng ra
nước ngoài, trước hết là đáp ứng nhu cầu
tâm linh của những công dân Hàn Quốc
vấn đề nan giải. Vừa phát huy được sức
mạnh của tôn giáo trong đời sống văn hóa
tinh thần, trong giáo dưỡng đạo đức lành
mạnh của cộng đồng, vừa đảm bảo được an
ninh xã hội là những vấn đề mà các nhà
hoạch định chính sách ở mỗi nước vẫn tiếp
tục quan tâm.
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu so sánh
tôn giáo ở Việt Nam và Hàn Quốc cho đến
nay vẫn còn là một mảng trống, những
nghiên cứu hiện có chỉ là nét chấm phá ban
đầu. Trong hàng loạt các vấn đề đang được
đặt ra cho nghiên cứu, chúng tôi đang hướng
tới một số chủ đề chính sau:
Thứ nhất, nghiên cứu so sánh sự phát
triển của đạo Tin Lành tại Việt Nam và Hàn
Quốc trong thời kỳ hiện đại, nhất là sự ảnh
hưởng của các giáo hội Tin Lành Hàn Quốc
tại khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt
Nam. Theo những kết quả nghiên cứu về sự
truyền bá của đạo Tin Lành tại Hàn Quốc
gần đây cho thấy, bắt đầu từ những năm
1970, các hội thánh Tin Lành ở Hàn Quốc có
sự phát triển rất nhanh chóng, mặc dù có
chững lại trong thập niên đầu thế kỷ XXI
này. Theo số liệu thống kê điều tra dân số
của Hàn Quốc năm 2005, tín đồ Tin Lành
chiếm 18,4% tổng dân số và 11,0% dân số
Hàn Quốc là tín đồ Thiên Chúa giáo, trong
khi đó Phật giáo, một tôn giáo truyền thống
Nam hiện nay chắc chắn sẽ giúp chúng ra rút
ra những kinh nghiệm quý báu trong quá
trình lí giải và thái độ ứng xử đúng đắn.
Thứ ba, trong nghiên cứu so sánh tín
ngưỡng dân gian Việt Nam và Hàn Quốc,
chúng tôi rất quan tâm tới những tương đồng
và khác biệt của tín ngưỡng Shaman giáo
Hàn Quốc và Đạo Mẫu ở Việt Nam. Mặc dù
đã có một số nghiên cứu sơ bộ chỉ ra những
biểu hiện giống và khác nhau của các tín
ngưỡng mang đậm sắc thái dân tộc đó, song
việc lí giải nó từ cơ sở văn hóa, xã hội, nhất
là những liên hệ trong lịch sử của chúng vẫn
còn là một đề tài có nhiều khoảng trống.
Điểm khó khăn trong nghiên cứu hiện nay
của chúng tôi là sự hạn chế về điều kiện
nghiên cứu thực địa tại Hàn Quốc, những tài
liệu, văn bản tiếp cận được cũng không tránh
khỏi những bất cập. Mặc dù vậy, chúng tôi
vẫn mạnh dạn trình bày những nhận xét
bước đầu, hy vọng sẽ được sự góp sức của
58
các nhà nghiên cứu để việc nghiên cứu so
sánh tôn giáo Việt Nam và Hàn Quốc có
được những kết quả ngày một tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lý Xuân Chung, “Tìm hiểu vấn đề Nho