BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
HỒ LÝ MINH TIÊN NGHIÊN CỨU SO SÁNH 2 THANG ĐIỂM PRAM VÀ PASS
TRONG ĐÁNH GIÁ CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP Ở TRẺ
TỪ 18 THÁNG ĐẾN 7 TUỔI TẠI TRUNG TÂM NHI KHOA
BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ CỦA BÁC SỸ NỘI TRÚ
HUẾ - 2014BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
Dược Huế
- Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Hồ sơ y lý - Bệnh
viện Trung Ương Huế
- Ban chủ nhiệm và quý Thầy Cô Bộ môn Nhi - Trường Đại học Y
Dược Huế
- Ban chủ nhiệm và tập thể cán bộ Trung tâm Nhi khoa - Bệnh viện Trung
Ương Huế
- Tập thể cán bộ Phòng Nhi hô hấp và Nhi cấp cứu – Trung tâm Nhi
khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế
- Tập thể cán bộ thư viện trường Đại học Y Dược Huế
Đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Từ đáy lòng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô Bộ
môn Nhi Trường Đại hoc Y Dược Huế đã tận tình giảng dạy, truyền thụ kiến
thức, quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cám ơn tất cả các bệnh nhi và gia đình bệnh nhi đã nhiệt
tình hợp tác, giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ phòng Nhi hô hấp và Nhi cấp cứu
đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGS. TS. Bùi Bỉnh Bảo Sơn, người Thầy đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn Quý bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, sẻ chia.
Cuối cùng, với những tình cảm thân thương nhất, tôi xin kính cám ơn Ba
Mẹ đã luôn hy sinh, thương yêu, che chở và động viên tôi trong cuộc sống. Xin
cám ơn chị, em và gia đình nhỏ thân yêu đã luôn chia sẻ, sát cánh bên tôi, giúp tôi
thêm nghị lực hoàn thành luận văn này.
Tôi sẽ không bao giờ quên.
Huế, ngày 27 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Hồ Lý Minh Tiên
IMCI : Integrated Management of Childhood Illness MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về hen phế quản 3
1.2. Giới thiệu thang điểm PRAM và PASS 16
1.3. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.2. Phương pháp nghiên cứu 25
2.3. Xử lý số liệu 37
2.4. Đạo đức nghiên cứu 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1. Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 39
3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cơn hen phế quản cấp 42
3.3. Đặc điểm thang điểm PRAM và PASS trong đánh giá cơn hen phế quản cấp . 49
3.4. Mức độ phù hợp giữa PRAM và PASS với gina trong đánh giá mức độ
nặng cơn hen phế quản cấp 53
Chương 4: BÀN LUẬN 57
4.1. Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 57
4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cơn hen phế quản cấp 58
4.3. Đặc điểm thang điểm PRAM và PASS trong đánh giá CHPQC 62
4.4. Mức độ phù hợp giữa PRAM và PASS với GINA trong đánh giá mức
độ nặng cơn hen phế quản cấp 66
cần có một thang điểm lâm sàng để quản lý bệnh nhi cũng như để phục vụ
trong nghiên cứu lâm sàng [39], [40]. Với sự thiếu vắng một tiêu chuẩn khách
2
quan và được chuẩn hoá, trên thế giới đã có nhiều thang điểm khác nhau được
triển khai để đánh giá mức độ nặng cơn hen phế quản cấp. Trong các thang
điểm đó, chúng tôi tìm thấy hai thang điểm được công nhận có hiệu lực, có
thể áp dụng trong đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ nhỏ, là: thang điểm
đánh giá hô hấp trẻ trước tuổi đi học (Preschool Respiratory Assessment
Measure - PRAM) và thang điểm đánh giá mức độ nặng hen phế quản trẻ em
(Pediatric Asthma Severity Score - PASS). Đã có nhiều công trình trong nước
nghiên cứu về các mặt khác nhau của bệnh hen phế quản nói chung cũng như
về cơn hen phế quản cấp nói riêng. Trong đó, hướng dẫn của Chương trình
hành động toàn cầu về hen phế quản – GINA (Global Initiative for Asthma)
được sử dụng như cẩm nang đầu tay bởi hầu hết các tác giả. Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu về áp dụng thang điểm trong đánh giá mức độ
nặng cơn hen phế quản cấp ở trẻ, đặc biệt ở nhóm trẻ nhỏ. Vì vậy, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Nghiên cứu so sánh 2 thang điểm PRAM và PASS trong
đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ từ 18 tháng đến 7 tuổi tại Trung tâm Nhi
Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế”, nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thang điểm PRAM,
thang điểm PASS trong cơn hen phế quản cấp ở trẻ 18 tháng - 7 tuổi vào điều
trị tại Trung tâm Nhi Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế.
2. So sánh và đối chiếu mức độ phù hợp của 2 thang điểm PRAM và PASS
với cách phân loại của GINA trong đánh giá cơn hen phế quản cấp ở trẻ 18
tháng - 7 tuổi vào điều trị tại Trung tâm Nhi Khoa - Bệnh viện Trung Ương Huế. 3
nhiều hơn bé gái (11%) [42]. Dù CHPQC xảy ra quanh năm, nhưng đỉnh vào
chớm thu (tháng 9), liên quan với việc trở lại trường của trẻ cũng như sự trỗi
dậy nhiễm khuẩn hô hấp do virus [52].
1.1.2.1. Tình hình bệnh trên thế giới
GINA định khu những vùng đang phát triển trên thế giới và có độ lưu
hành bệnh HPQ ở đó cũng đang gia tăng, là Châu Phi, Trung và Nam Mỹ,
Châu Á, và lòng chảo Thái Bình Dương. Theo thống kê năm 2011, có khoảng
40 triệu người mắc HPQ ở Trung và Nam Mỹ, những con số mới được báo
cáo là Peru (13%), Costa Rica (11,9%), Brazil (11,4%), và Ecuador (8,2%).
Khoảng hơn 50 triệu người được cho là mắc HPQ ở Châu Phi, trong đó Nam
Phi chiếm nhiều nhất. Tại Anh, HPQ là một trong những nguyên nhân hàng
đầu khiến trẻ nhập viện, với hơn 75000 trường hợp phải vào cấp cứu được
báo cáo hàng năm. Ở Bắc Mỹ, số liệu thống kê về HPQ cũng đang ở mức báo
động. Canada và Mỹ nằm trong số những nước có độ lưu hành triệu chứng và
chẩn đoán HPQ cao nhất trên thế giới. Cứ trong 10 người Bắc Mỹ thì có 1
người mắc HPQ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, theo thống kê của
AIRIAP (Asthma Insights and Reality in Asia - Pacific) tỷ lệ mắc HPQ ở trẻ
trong 10 năm (1984 - 1994) tăng lên đáng kể: Philippin từ 6% lên 18,8%,
Nhật Bản từ 0,7% lên 8%, Thái Lan từ 3,1% lên 12%,
Chi phí cho bệnh HPQ vượt quá của lao và HIV cộng lại, bởi chi phí
trực tiếp cho thuốc men, chữa trị và gián tiếp do giảm tính sản xuất vì phải
nghỉ học, nghỉ làm; mà nguyên nhân phần nhiều là do kiểm soát bệnh chưa
tốt. Theo báo cáo của WHO năm 2009, khoảng 180.000 trường hợp tử vong
mỗi năm trên toàn thế giới được quy do HPQ. Hầu hết những trường hợp tử
vong này xảy ra ở các quốc gia có thu nhập trung bình - thấp [13], [42].
1.1.2.2. Tình hình bệnh trong nước
Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu dịch tễ học toàn quốc: “Thực
5
trạng hen phế quản Việt Nam năm 2010” của Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Văn
- Gắng sức, hoạt động thể lực mạnh [15], [37]
- Bệnh lý:
Viêm xoang tăng sản mạn tính thường được tìm thấy có mối liên quan
với bệnh HPQ. Qua theo dõi cũng ghi nhận được có mối tương quan đáng kể
giữa triệu chứng HPQ về đêm với bệnh lý trào ngược dạ dày - thực quản [34].
Những trẻ có tiền sử bệnh loạn sản phế quản – phổi (Bronchopulmonary
Dysplasia - BPD) hay những tổn thương phổi cấp tính khác (hít khói thuốc,
uống hydrocarbon, suýt chết đuối) có nguy cơ cao đáp ứng đường thở quá mức
hay HPQ [33].
- Sinh non và cân nặng lúc sinh thấp là những yếu tố nguy cơ gây khò khè
tái diễn ở trẻ dưới 2 tuổi [27]. Theo Tổ chức đồng thuận quốc tế (ICON) về HPQ
trẻ em, những nhũ nhi có khò khè tái diễn thì có nguy cơ phát triển thành HPQ
dai dẳng cao hơn so với khi chúng đến tuổi vị thành niên và những trẻ có cơ địa
dị ứng nói riêng thì có khả năng tiếp tục khò khè hơn [50].
b. Môi trường, kinh tế - tâm lý xã hội
Bảng 1.1. Yếu tố môi trường, kinh tế - tâm lý xã hội gây mắc hen phế quản
Môi trường
Kinh tế, tâm lý - xã hội
- Dị nguyên
- Nhiễm khuẩn hô hấp
- Chất gây mẫn cảm từ nghề
nghiệp
- Khói thuốc
- Ô nhiễm không khí trong /ngoài
nhà
- Chế độ ăn
- Thay đổi thời tiết
- Thuốc (Aspirin, chẹn beta, )
- Nghèo đói
- Đông đúc
khác lần lượt là nhiễm virus đường hô hấp (80,8%) trong đó đáng lưu ý là
Rhinovirus, hoạt động gắng sức (41%), tiếp xúc dị nguyên (24%), và thấp
nhất là khói thuốc lá (8,9%) [19]. Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự qua nghiên
cứu ảnh hưởng của nhiễm virus đường hô hấp, mà trong đó hay gặp là RSV,
virus cúm và Adenovirus, tới độ nặng và thời gian điều trị CHPQC ở trẻ dưới
5 tuổi, rút ra: nhiễm virus cúm A và RSV làm tăng độ nặng CHPQC, còn
nhiễm Adenovirus đơn thuần thì không làm tăng độ nặng CHPQC [8].
1.1.4.3. Yếu tố nguy cơ tử vong cao do HPQ
- Có tiền sử CHPQC nguy kịch, phải đặt NKQ và thông khí cơ học
8
- Trong năm qua từng nhập viện hoặc vào cấp cứu vì CHPQC
- Đang sử dụng hoặc mới ngưng sử dụng corticoids uống
- Hiện đang không sử dụng Corticoids hít
- Phụ thuộc quá mức đồng vận β
2
tác dụng nhanh, đặc biệt những bệnh
nhân sử dụng hơn 1 bình salbutamol (hoặc tương đương) / tháng
- Có tiền sử bệnh tâm thần hoặc có vấn đề tâm lý xã hội, bao gồm cả sử
dụng thuốc an thần
- Tiền sử không tuân thủ thuốc dự phòng HPQ
- Nguy cơ tử vong cũng cao ở những trẻ có tiền sử suy hô hấp hay co
giật do thiếu oxy, điều trị kém (tại nhà hay sau khi đi khám), hoặc trì hoãn tìm
kiếm sự chăm sóc y tế [33], [37].
1.1.5. Lâm sàng cơn hen phế quản cấp
1.1.5.1. Giai đoạn khởi phát
Bắt đầu bằng triệu chứng báo trước: hắt hơi, ngứa mũi, ngứa họng,
chảy nước mắt, đổ mồ hôi, ho. Cơ trơn phế quản co thắt gây khó thở thì thở
ra, lúc đầu nhẹ, có tiếng khò khè, có thể nghe được bằng tai hay ống nghe.
Nhịp thở trong giai đoạn này tăng ít và bệnh nhân ho chưa có đàm. Khó thở
Phương pháp này giúp đánh giá độ nặng, khả năng sửa chữa và biến đổi
sự hạn chế khí lưu thông và giúp chẩn đoán xác định HPQ. Đo FEV
1
hay đo
LLĐ có thể nỗ lực đạt được ở trẻ > 5 tuổi với CHPQC nhẹ đến vừa [27], [32].
a. Phế dung kế
Là phương pháp được ưu tiên chọn lựa trong việc đo mức độ hạn chế
khí lưu thông. Theo Tổ chức đồng thuận quốc tế về HPQ trẻ em (ICON) thì
tuổi nhỏ nhất để thực hiện được nằm giữa 5 - 7 tuổi [50]. Việc ghi nhận tắc
nghẽn đường thở có hồi phục sau hít thuốc giãn phế quản là một chỉ điểm giúp
chẩn đoán xác định HPQ. Các trị số FEV
1
(Forced Expiratory Volume during 1
st
second: Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu), FVC (Forced Vital Capicity:
Dung tích sống gắng sức), và FEF
25 - 75
(Forced expiratory flow during the
middle half of FVC: lưu lượng thở ra khoảng giữa của dung tích sống gắng sức)
rất giá trị để phát hiện tắc nghẽn đường thở tiềm tàng. Trị số FEV
1
cải thiện ít
10
nhất 12% hoặc 200ml là phù hợp với chẩn đoán HPQ [15].
b. Lưu lượng đỉnh kế
Một công cụ khách quan khác và có thể không được tận dụng trong
đánh giá CHPQC là đo LLĐ thở ra (Peak Expiratory Flow - PEF). Phương
pháp này chỉ giúp phát hiện tắc nghẽn ở đường thở lớn và phụ thuộc rất nhiều
- Thâm nhiễm, xẹp phổi, viêm phổi, hoặc cả 3
- Tràn khí trung thất, thường kèm theo thâm nhiễm
11
- Hiếm gặp tràn khí màng phổi [15], [52]
d. Khí máu
- Đo khí máu động mạch không cần thiết phải làm thường xuyên cho các
trường hợp HPQ nhẹ và vừa. Tuy nhiên, trong trường hợp cơn hen nặng, đặc
biệt khi PEF chỉ từ 30 - 50% so với lý thuyết, thì đo khí máu động mạch rất có
giá trị để đánh giá đúng mức độ nặng của bệnh và có hướng xử trí kịp thời [7].
- Các thông số:
SaO
2
bình thường 95 - 100%. Gọi là hạ oxy máu khi PaO
2
< 70 mmHg
(SaO
2
< 90%) [36]. PaO
2
< 60 mmHg và PaCO
2
bình thường hoặc tăng (> 45
mmHg), cho biết là suy hô hấp [55].
1.1.6.3. Các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán khác
- Những bệnh nhân có triệu chứng phù hợp với HPQ mà chức năng hô
hấp bình thường thì việc đánh giá đáp ứng của đường thở với methacholine và
histamine, hoặc làm test thử thách gián tiếp như hít manitol, hay thử thách
gắng sức, có thể giúp thiết lập chẩn đoán HPQ.
- Test da với dị nguyên, đo nồng độ IgE đặc hiệu trong huyết thanh: giúp
phụ (tăng bạch cầu ưa axit, khò khè không liên quan cảm lạnh, viêm mũi dị ứng)
[15], [50].
b. Trẻ trên 5 tuổi
Cần nghĩ đến HPQ nếu trẻ có bất kì dấu hiệu hoặc triệu chứng nào sau:
- Khò khè có âm sắc cao khi thở ra (khám phổi không có triệu chứng gì
cũng không thể loại trừ HPQ)
- Tiền sử có một trong các tình trạng sau:
+ Ho, thường nặng lên về đêm
+ Khò khè tái diễn
+ Các đợt khó thở tái diễn
+ Các đợt tức ngực tái diễn
- Các triệu chứng xảy ra hoặc nặng lên về đêm làm trẻ thức giấc
13
- Các triệu chứng xảy ra hoặc nặng lên trong một mùa nào đó
- Trẻ có thể có chàm, viêm mũi dị ứng, hoặc tiền sử gia đình có bị hen
hay bệnh lý dị ứng
- Các triệu chứng xảy ra hoặc nặng lên khi tiếp xúc với: thú có lông, hóa
chất dạng phun sương, thay đổi nhiệt độ, mạt bụi nhà, thuốc (aspirin, chẹn
beta), hoạt động thể lực, phấn hoa, nhiễm virus hô hấp, khói, cảm xúc mạnh,
- Triệu chứng cải thiện với liệu pháp điều trị HPQ
- Cảm lạnh kèm tức ngực lặp đi lặp lại hoặc trên 10 ngày mới khỏi [15]
1.1.7.2. Chẩn đoán phân biệt
a.Trẻ dưới 5 tuổi
Đối với nhóm tuổi này có nhiều trở ngại. Việc chẩn đoán “hen phế
quản” sẽ đưa đến nhiều hệ lụy. Theo tác giả Bùi Bỉnh Bảo Sơn, có rất nhiều
nguyên nhân làm trẻ thở khò khè và bệnh nguyên có thể thay đổi từ nhẹ đến
nặng, do đó chỉ khi nào có khò khè tái diễn nhiều lần thì mới cân nhắc chẩn
đoán HPQ [14]. Do đó, cần phân biệt triệu chứng khò khè tái diễn trong HPQ
với các nguyên nhân khác sau:
nhanh và /hoặc khó thở. Sử dụng những tiêu chuẩn khắt khe dựa trên tiền sử,
thăm khám lâm sàng, xét nghiệm (số lượng bạch cầu, CRP, cấy máu, X quang
ngực), và mức độ đáp ứng với điều trị, để xác định các trẻ mắc HPQ hay viêm
phổi. Kết quả cho thấy: viêm phổi do vi khuẩn chiếm 27,2%, viêm phổi do
virus chiếm 26,5%; còn lại là “hội chứng HPQ” (có triệu chứng của
HPQ/VTPQC) (41,2%), phần lớn là các trẻ dưới 24 tháng tuổi (80,2%), với
61,6% là VTPQC và 38,4% là HPQ, trong đó chỉ có 9,5% là đã được chẩn
đoán HPQ trước đó [54].
b.Trẻ trên 5 tuổi
Cần chẩn đoán phân biệt với:
- Hội chứng tăng thông khí và những cơn sợ hãi
- Tắc nghẽn hô hấp trên và dị vật đường thở
- Rối loạn chức năng dây thanh âm
15
- Các dạng bệnh phổi tắc nghẽn khác
- Bệnh phổi không tắc nghẽn (ví dụ bệnh lý nhu mô phổi lan tỏa)
- Nguyên nhân không phải hô hấp (ví dụ suy tim trái) [15]
1.1.8. Điều trị cơn hen phế quản cấp Đánh giá ban đầu
Bệnh sử, khám thực thể (nghe phổi, sử dụng cơ hô hấp phụ, tần số tim, tần số thở),
PEF hoặc FEV
1
, độ bão hòa oxy, khí máu động mạch nếu nặng.
Xử trí ban đầu
• Cho thở oxy để giữ độ bão hòa oxy ≥ 95%.
và kháng Cholinergic.
• Glucocorticosteroid đường toàn thân.
• MgSO
4
truyền TM.
Đánh giá lại sau 1 - 2 giờ
Đáp ứng tốt trong 1 – 2 giờ:
• Đáp ứng kéo dài 60 phút sau
lần điều trị cuối.
• Khám: bình thường, không
khó thở.
• PEF > 70%.
• SO
2
> 95%.
Đáp ứng không hoàn toàn
trong 1 – 2 giờ:
• Nguy cơ bị hen nguy kịch.
• Khám: triệu chứng nhẹ đến
trung bình.
• PEF < 60%.
• SO
2
không cải thiện.
• Thở oxy.
• Hít β
2
± kháng Cholinergic.
• Glucocorticosteroid TM.
• Cân nhắc chủ vận β
2
TM.
• Cân nhắc Theophyllin TM.
• Có thể đặt NKQ, thở máy.
Cải thiện: tiêu chuẩn ra viện:
• PEF > 60% trị số bình thường.
• Ổn định với thuốc uống/ hít.
Điều trị tại nhà:
• Tiếp tục hít chủ vận β
2
.
• Cân nhắc cho uống Glucocorticosteroid.
• Cân nhắc thêm thuốc dạng hít phối hợp
(ICS + LABA).
• Giáo dục bệnh nhân: dùng thuốc đúng
và kiểm tra kế hoạch điều trị.
Thường xuyên đánh giá
Đáp ứng kém (xem trên):
nặng của bệnh hoặc do không quen với kỹ thuật. Vì thế, điều quan trọng là tìm
giải pháp thay thế trong việc đánh giá độ nặng bệnh cũng như đánh giá đáp ứng
với điều trị mà áp dụng được cho tất cả trẻ. Briden và cộng sự đã chỉ ra những
điểm yếu của các thang điểm đánh giá độ nặng HPQ dành cho trẻ trước tuổi đi
học về độ tin cậy, tính hiệu lực cũng như tính đáp ứng. Theo đó, thang điểm
PRAM được xem có tính hiệu quả trong đánh giá CHPQC, nhưng nhược điểm
là mới chỉ nghiên cứu ở nhóm trẻ 3 - 6 tuổi. Xuất phát từ những lý do trên, vào
năm 2003, Ducharme và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thuần tập, áp dụng
thang điểm PRAM cho tất cả 782 trẻ từ 2 đến 17 tuổi vào cấp cứu vì CHPQC.
17
Kết quả cho thấy, PRAM không những đánh giá tốt tình trạng CHPQC ở nhóm
trẻ trước tuổi đi học (1 - 6 tuổi), mà còn có thể đánh giá tốt ở cả nhóm trẻ lớn (7
- 17 tuổi). Do đó, PRAM là công cụ đáng tin cậy trong việc quyết định độ nặng
CHPQC, áp dụng được cho mọi lứa tuổi. Thang điểm tương quan mạnh mẽ với
tỷ lệ nhập viện, cho thấy khả năng tiên lượng nhập viện cao của nó. Theo đó,
nhóm tác giả đề nghị phân loại điểm PRAM như sau:
0 - 3 điểm: tương ứng với nguy cơ nhập viện thấp (trong nghiên cứu là < 10%)
4 - 7 điểm: tương ứng với nguy cơ nhập viện vừa (10 – 50%)
8 - 12 điểm: tương ứng với nguy cơ nhập viện cao (>50%)
Và “Preschool Respiratory Assessment Measure” bây giờ nên được đổi
lại là “Pediatric Respiratory Assessment Measure” [35].
1.2.1.2. Giới thiệu các yếu tố trong PRAM
Co kéo hõm trên ức
Co kéo nặng hõm trên ức, chứng tỏ tình trạng suy hô hấp mức độ
nặng [45].
Co kéo cơ thang
Thở vào là một quá trình chủ động, liên quan đến các cơ:
- Cơ hô hấp chính, gồm: cơ hoành (góp 75% thể tích khí trong lồng
ngực) và cơ gian sườn ngoài (góp 25% thể tích khí còn lại).
và nhũ nhi là yếu tố tiên lượng hữu ích khả năng bệnh có thể nặng, do đó cần
được điều trị hơn nữa [58 ]. SpO
2
< 92% được gọi là hạ oxy máu và cần điều
trị ngay với thở oxy qua mặt nạ hoặc canule mũi, với mục tiêu SpO
2
cần đạt
được là ≥ 95% [28].
1.2.2. PASS (Pediatric Asthma Severity Score)
1.2.2.1. Sự ra đời của thang điểm PASS
Nhằm phát triển một thang điểm mới sử dụng trong đánh giá lâm sàng
CHPQC, có hiệu lực trên một quần thể bệnh nhân rộng lớn và đa dạng, vào năm
2002, Gorelick và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cohort trên tổng số 852
bệnh nhi từ 1 đến 18 tuổi vào cấp cứu vì CHPQC. Mục tiêu của nghiên cứu là
phác thảo chi tiết một thang điểm sử dụng bộ công cụ ít yếu tố nhất, bao gồm
những phát hiện lâm sàng được lộ ra thường gặp, có thể đạt được chắc chắn, cũng
như đáp ứng với những thay đổi của tình trạng bệnh trong quá trình điều trị
CHPQC. Sự ưu tiên chọn lựa các yếu tố dựa vào mức độ phù hợp bao hàm của
chúng trong các thang điểm lâm sàng HPQ đã được công bố, trong hướng dẫn
quốc gia của Mỹ, cũng như tính hiệu lực rõ ràng đã được các nhà lâm sàng tại các
19
Viện nghiên cứu thành viên công nhận. Gồm 6 dấu hiệu: khò khè, thông khí phổi,
sử dụng cơ hô hấp phụ, thì thở ra kéo dài, thở nhanh, và tình trạng thần kinh. Các
thang điểm gồm 5,4,3 yếu tố lần lượt được so sánh về độ tin cậy, giá trị cấu trúc,
giá trị phán đoán và tiên lượng, cũng như tính đáp ứng. Kết quả, thang điểm PASS
với 3 yếu tố: khò khè, dấu gắng sức và thì thở ra kéo dài cho thấy tốt nhất. Giá trị
quan sát bên trong của PASS từ tốt đến xuất sắc (kappa = 0,72 - 0,83). Thang
điểm tương quan có ý nghĩa với đo lưu lượng đỉnh thở ra (PEFR) và với đo độ bão
hoà oxy qua mạch nảy, ở các thời điểm khác nhau. PASS có thể phân biệt giữa