Người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp - Pdf 25

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ ĐỨC THIỆN
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN
NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Hà Nội - 2012 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ ĐỨC THIỆN
4
MỤC LỤC
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………… 3
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………… 4
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu………………………… 8
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… 9
5. Cấu trúc luận văn…………………………………………………….10
Nội dung
Chương 1: Khái lược về người kể chuyện và truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp…………………………………………………………………………11
1.1 Người kể chuyện và một số vấn đề xung quang người kể chuyện 11
1.1.1. Người kể chuyện……………………………… …………… 11
1.1.2. Một số vấn đề xoay quanh người kể chuyện……………….….12
1.2 Hành trình truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp…………………… 15
Chương 2: Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn của


6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học đương đại Việt Nam nổi lên một số hiện tượng văn học thu hút
được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như độc giả, trong số đó
phải kể đến Nguyễn Huy Thiệp. Vương Trí Nhàn nhận định: “Nếu có một thứ
quả bóng vàng hay là cây bút vàng” dành để tặng cho các cây bút xuất sắc
hàng năm, thì trong năm vừa qua và cả đầu năm nay nữa - Người xứng đáng
được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp”[32, tr.405]; Đỗ Đức
Hiểu đánh giá cao tài năng của Nguyễn Huy Thiệp với tư cách người tái tạo
truyện ngắn Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX: “tôi thấy một giọt vàng rơi
vào lòng mình, giọt vàng ròng ngời sáng. Đó là truyện ngắn của anh. Anh tái
tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XX này và nâng nó
lên một tầm cao mới: thơ ca và triết lý, nó truyền thống và hiện đại, phương
Đông và toàn nhân loại.”[32, tr.472] Phạm Xuân Nguyên trong lời giới thiệu
cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp đã thấy sự xuất hiện của Nguyễn Huy
Thiệp với tư cách là một hiện tượng tiêu biểu: “Nguyễn Huy Thiệp hai lần lạ:
nội dung lạ, nghệ thuật lạ. Trên hết anh là nhà văn đúng nghĩa từ này–sử dụng
tối đa các khả năng ngôn ngữ để đạt đuợc cao nhất điều mình muốn biểu đạt.
Tức khắc sáng tác của anh trở thành một thứ hóa chất gây phản ứng, và sau

dẫn công chúng và giới phê bình nghiên cứu. Phạm Xuân Nguyên trong lời
giới thiệu cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng định “Thật hiếm
trong văn chương Việt Nam xưa nay, tôi dám chắc là chưa có, một nhà văn
nào vừa xuất hiện đã gây được dư luận, càng viết dư luận càng mạnh, truyện
chưa ra thì người ta đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì người ta đã tranh nhau
tìm đọc, đọc rồi thì gặp nhau bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văn cũng như
8
chốn vỉa hè đâu đâu cũng kháo chuyện văn đàn thời đổi mới đã khởi sắc,
bỗng khởi sắc hẳn, đã náo động, càng thêm náo động, bởi những cuộc tranh
luận, cả tranh cãi, quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”[32, tr.6].
Trước hết chúng tôi nghiên cứu hầu hết các bài viết về Nguyễn Huy
Thiệp trong khoảng mười lăm năm từ khi Nguyễn Huy Thiệp trình làng và
được tập hợp trong tuyển tập có tựa đề Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp của tác giả
Phạm Xuân Nguyên sưu tầm và biên soạn. Chúng tôi nhận thấy rằng, trong
phạm vi đề tài của các bài viết được lựa chọn tuy không nghiên cứu sâu về
người kể chuyện nhưng các tác giả cũng đã đề cập ít nhiều về người kể
chuyện trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp.
Trong bài Khi ông tướng về hưu xuất hiện, tác giả Đặng Anh Đào đã chỉ
ra cái nhìn dân chủ hóa của người kể chuyện: “Cái nhìn dân chủ hóa của
người kể chuyện ở đây chính là chỗ: tin rằng mình không phải mách nước cho
ai, lên lớp cho ai, thậm chí, ở nhiều chỗ, đứng thấp hơn nhân vật và bạn
đọc”[32, tr.23]. Tiếp tục nghiên cứu về truyện ngắn Con gái thủy thần trong
bài viết Biển không có thủy thần, Đặng Anh Đào chỉ ra sự khác biệt về người
kể chuyện truyền thống trong truyện cổ tích với người kể chuyện trong chùm
truyện ngắn cổ tích của Nguyễn Huy Thiệp.
Tác giả Đào Duy Hiệp trong bài viết Đọc chút thoáng Xuân Hương đã
chỉ ra các kiểu dạng người kể chuyện và sự dịch chuyển điểm nhìn của người
kể chuyện mà Nguyễn Huy Thiệp sử dụng để làm nổi bật chân dung của nữ
thi sĩ Xuân Hương: Ở truyện thứ nhất “Người kể chuyện tuy ở ngôi thứ ba,
nhưng do từ vựng là của nhân vật nên tuy không xưng “tôi” mà người đọc

“ Vàng lửa”
10
Nguyễn Mai Xuân và Trương Hồng Quang trong: Vàng lửa của Nguyễn
Huy Thiệp“triết học lịch sử”hay là“văn xuôi nghệ thuật” bên cạnh thừa nhận
vai trò căn bản của kiểu người kể chuyện không đáng tin cậy có đề cập kiểu
người kể chuyện ở ngôi thứ nhất…
Nhìn chung, những nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp trong thời kỳ đầu
ông mới xuất hiện tuy chưa có bài viết nghiên cứu hệ thống về người kể
chuyện nhưng những phát hiện về người kể chuyện trong một số truyện ngắn
tiêu biểu bước đầu cho ta hình dung về kiểu người kể chuyện trong truyện
ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
Về sau, các nhà nghiên cứu trên cơ sở khảo sát hàng loạt các truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp cũng đã có những nhận định mang tính chất hệ thống
hơn về người kể chuyện. Trong bài Hình thức đa thanh mới trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả Châu Minh Hùng đã khái quát về người kể
chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp với cái nhìn dân chủ hóa. Ở
phương diện này tác giả nhận thấy: “Nguyễn Huy Thiệp với tư cách nhà văn
đã hoàn toàn mất thực quyền trong tác phẩm. Anh ta chỉ có quyền tổ chức tác
phẩm mà không có quyền lấy phát ngôn của mình định giá cho các phát ngôn
khác. Thiệp không trân trọng, cũng không nhại, không mỉa mai ai. Lời kể bao
giờ cũng nghiêm túc, nghiêm túc đến dửng dưng. Lời kể trong văn ông lược
bỏ mọi thứ trang hoàng của giọng điệu, giảm thiểu đến mức tối đa những
trạng từ, tính từ tô điểm cho đối tượng.”[20]
Nhà nghiên cứu La Khắc Hòa trong bài “Những dấu hiệu của chủ nghĩa
Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và
Phạm Thị Hoài” nhận thấy giọng điệu riêng và thái độ khách quan của người
kể chuyện trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Bùi Việt Thắng trong bài viết “Vấn đề kể chuyện trong truyện ngắn
đương đại ( Một khía cạnh thi pháp thể loại )” đã đúc rút những đặc điểm cơ
11

gian, và đây cũng là cuốn sách tập hợp phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp được xuất bản gần đây nhất.
- Mục đích nghiên cứu:
Lựa chọn đề tài về người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp, chúng tôi mong muốn đem đến cái nhìn có tính khái quát, khoa học và
khách quan về hình tượng người kể chuyện trong hệ thống truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp. Đồng qua đó góp phần khẳng định tài năng, cá tính sáng
tạo độc đáo cũng như những đóng góp của ông trong truyện ngắn Việt Nam
đương đại.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu cơ bản sau:
Phương pháp loại hình: khảo sát các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
trên cơ sở của loại hình tự sự.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: chúng tôi áp dụng phương pháp này
trong việc phân tích các phương diện tiêu biểu của tác phẩm để làm rõ những
luận điểm, đồng thời khái quát những đặc trưng cơ bản các nội dung cơ bản
về người kể chuyện.
Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp so sánh trong mối tương
quan với các nhà văn trước hoặc cùng thời với Nguyễn Huy Thiệp để thấy
được sự kế thừa, cách tân cũng như cá tính sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp ở
phương diện người kể chuyện.
Phương pháp thống kê: chúng tôi áp dụng phương pháp thống kê trong
việc phân loại các dạng thức người kể chuyện và điểm nhìn làm cơ sở cho
13
việc phân tích các đặc điểm của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp.
5. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo cấu
trúc luận văn bao gồm 03 chương:

xem là khái niệm trung tâm nhất trong phân tích trần thuật. Tuy nhiên xung
quanh khái niệm này còn có rất nhiều quan điểm khác nhau. Khi tiếp cận về
vấn đề người kể chuyện, chúng tôi cho rằng người kể chuyện chính là chủ thể
của những lời kể về câu chuyện nào đó trong tác phẩm văn học. Chủ thể đó là
một nhân vật đặc biệt do nhà văn sáng tạo ra để dẫn dắt, gợi mở hay sắp đặt
câu chuyện được kể. Người kể chuyện có thể là đàn ông hoặc đàn bà, là con
người của quá khứ, hiện tại hoặc tương lại, nhưng là người kể lại câu chuyện
trong tác phẩm bằng một chỗ đứng, một điểm nhìn phù hợp với ý đồ sáng tạo
của nhà văn. Đó là “kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể”[36, tr.17]. Vì vậy
trong tác phẩm tự sự “không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện. Người
kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện”
( Todozov )[36, tr.116]
Những quan niệm khác nhau trong giới nghiên cứu về người kể chuyện
đưa đến những cách phân loại khác nhau về hình tượng này. Có thể phân chia
các dạng thức người kể chuyện trên tiêu chí của điểm nhìn, dựa vào mối quan
hệ của người kể chuyện với câu chuyện, hay dựa vào quyền năng của người
kể chuyện…Chúng tôi cho rằng dù được phân chia theo tiêu chí nào thì cái
đích đạt tới cũng là chỉ ra vai trò của người kể chuyện trong câu chuyện. Do
đó người kể chuyện cũng có thể khoác lên mình nhiều vai trò khác nhau trong
15
mỗi câu chuyện. Và tùy thuộc vào ý đồ sáng tạo của nhà văn mà người kể
chuyện sẽ xuất hiện ở những mức độ khác nhau trong tác phẩm. Người kể
chuyện có thể can thiệp một cách trực tiếp vào văn bản với vai trò của người
tổ chức cấu trúc câu chuyện kể, người kể chuyện có thể chỉ đảm nhiệm những
chức năng đơn thuần là kể chuyện hoặc có thể đảm nhiệm bất cứ chức năng
nào mà người kể chuyện có thể đảm nhiệm, kể cả khi nó chỉ xuất hiện một
cách hàm ẩn.
Khi tìm hiểu về người kể chuyện, ngoài việc xem xét người kể chuyện
như một hình thức nghệ thuật nhằm mang lại hiệu quả cho tác phẩm, chúng
tôi cho rằng, cần xem xét nó trong mối quan hệ với tác giả văn bản. Bởi suy

hứng nghiên cứu lớp ngôn từ của người trần thuật lại cho rằng có hai hình
thức cơ bản của người kể chuyện: người kể chuyện ngoại sự tức là người kể
chuyện với tư cách là nhân vật vắng trong câu chuyện mà anh ta kể lại, anh ta
ở ngoài câu chuyện đó; hoặc anh ta người kể chuyện nội sự tức người kể
chuyện hiện diện với tư cách là một nhân vật trong câu chuyện mà anh ta kể
lại. Cũng theo G.Genette người kể chuyện ngoại sự sử dụng hình thức kể là
chủ đạo tương đương với ngôi thứ ba trong kể chuyện. Còn người kể chuyện
nội sự hiện diện sử dụng hình thức kể chủ đạo là hình thức diễn ngôn với ngôi
kể thứ nhất mà mang ấn tượng chủ quan rõ nét. Tuy nhiên trong các tác phẩm
tự sự hai hình thức cơ bản này của người kể chuyện vẫn thường có sự trộn lẫn
ở một mức độ nào đó.
Như vậy, xu hướng nghiên cứu về người kể chuyện có thể dựa trên
những xuất phát điểm khác nhau, nhưng đều đưa ra những chỉ dẫn về mức độ
ẩn giấu cũng như hình thức tồn tại của hình tượng này trong tác phẩm tự sự.
Chúng tôi trên cơ sở tiếp thu những quan điểm tiếp cận của các nhà nghiên
cứu tự sự học đã lựa chọn khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ở ngôi
kể với tư cách là hình thức cơ bản của người kể chuyện.
17
1.1.2.2 Điểm nhìn trần thuật
Nhìn nhận sự việc hiện tượng hay một sự kiện nào đó bao giờ cũng gắn
với việc lựa chọn một điểm nhìn xác định. Điểm nhìn là một khái niệm

đặc
thù của trần thuật học trong thế kỉ XX và được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Điểm nhìn cùng với người trần thuật là hai yếu tố cơ bản tạo nên cái gọi
là “trần thuật”. Xung quanh vấn đề điểm nhìn đã có rất nhiều quan niệm khác
nhau. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng điểm nhìn là “cái vị trí dùng để
quan sát, cảm nhận, đánh giá, bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách
thể, cả phương diện vật lý, tâm lý, văn hóa”[39, tr.149]. Còn theo Nguyễn
Thái Hòa điểm nhìn là “điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn thế

“giọng điệu là âm thanh được xét ở góc độ tâm lý biểu hiện các thái độ buồn,
vui, giận, hờ hững ….”[9. tr.337]. Như vậy giọng điệu chính là những sắc thái
tình cảm được bộc lộ qua việc lựa chọn và tổ chức ngôn ngữ. Các yếu tố như
cái nhìn hiện thực, cảm hứng sáng tác, tư tưởng của tác giả… với hiện thực
khách quan là những yếu tố rất quan trọng chi phối đến giọng điệu trong tác
phẩm.

Trong quá trình sáng tác, vấn đề tạo ra dấu ấn trong giọng điệu rất quan
trọng. M.Khrapchencô đã khẳng định: “cái quan trọng trong tài năng văn học
( ) là tiếng nói của mình ( ), là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể
tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác”[24, tr.190]. Trong
khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xem xét về giọng điệu của người kể
chuyện với tư cách như là một yếu tố tạo nên phong cách của nhà văn.
1.2 Hành trình truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp sáng tác không chỉ truyện ngắn mà còn viết tiểu
thuyết và kịch. Tuy nhiên giới nghiên cứu cũng như độc giả đánh giá cao các
19
sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ở thể loại truyện ngắn. Vì vậy, có thể khẳng
định sở trường của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn. Các truyện ngắn của
ông có thể tạm phân loại theo những đề tài sau:
Các truyện ngắn viết về đề tài lịch sử và văn học: Kiếm sắc, Vàng lửa,
Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, Chút thoáng Xuân Hương….Khai
thác đề tài này Nguyễn Huy Thiệp không lấy cái nhìn của nhà sử quan để
khám phá quá khứ mà đưa ra cách nhìn nhận mới đối với những vấn đề của
lịch sử. “Lịch sử trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp bề bộn các dữ kiện ở
nhiều chiều kích, mức độ. Tuy nhiên, nhà văn không hướng người đọc đến
một chủ đích mà buộc người thưởng thức phải tự chọn lựa, sắp xếp các cứ
liệu có sẵn theo “tầm đón đợi” của chính mình”[26]. Do đó lịch sử trong
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là “lịch sử không thuần nhất, cố định và
minh bạch trong tâm thế ngợi ca hay phê phán”[26]. Việc tiếp cận lịch sử

Trong cổ tích mọi mâu thuẫn, xung đột được giải quyết bằng phép nhiệm màu,
còn trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mọi thứ vẫn được tuân theo quy
luật vận hành của vũ trụ, của đời sống xã hội hiện đại”[36, tr.415]. Vì vậy thế
giới mà Nguyễn Huy Thiệp tạo ra trong truyện ngắn của mình có thể bao phủ
bới mầu sắc cổ tích nhưng luôn tồn tồn tại song song những yếu tố khả giải -
bất khả giải, duy lý - phi lý, tất nhiên - ngẫu nhiên. Đó cũng là cách thức để
Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm quan niệm, những trăn trở suy tư về cuộc sống.
Như Hoàng Ngọc Hiến đã nhận xét: “Dẫu là kể chuyện cổ tích, Nguyễn Huy
Thiệp trước sau viết về cuộc sống hôm nay” (Hoàng Ngọc Hiến – lời giới
thiệu tập Tướng về hưu).
Các truyện ngắn lấy đề tài từ thực tế cuộc sống xã hội: Không có vua,
Tướng về hưu, Cún, Sang sông, Tội ác và trừng phạt Trong những tác
phẩm này Nguyễn Huy Thiệp tập trung vào ngõ ngách của cuộc sống bằng
21
những ghi chép hết sức sinh động và chân thật. Không phải là những sự kiện
đình đám, không phải là những con người lý tưởng “toàn thiện toàn mỹ” như
văn học trước đó, mà là cuộc sống sinh hoạt thường nhật với những con người
giản dị chân chất của đời sống. Dường như Nguyễn Huy Thiệp viết những tác
phẩm này không phải để cắt nghĩa, lý giải cuộc sống với những mệnh đề tốt,
xấu, mà phản ánh cuộc sống với tinh thần không né tránh hiện thực. Đó là
hình ảnh của cuộc sống gấp gáp hối hả, con người chạy theo những tham
vọng về tiền tài, địa vị và danh vọng. Cho nên cũng dễ hiểu vì sao Nguyễn
Huy Thiệp nói nhiều về tội ác, về cái xấu, về sự cô đơn. Viết về cuộc sống đời
thường những năm sau đổi mới không phải chỉ riêng Nguyễn Huy Thiệp mà
là xu hướng chung của giới văn nghệ sỹ với tinh thần đối diện với hiện thực.
Tuy nhiên hiện thực trong trang viết của Nguyễn Huy Thiệp được khai thác
với giọng điệu rất riêng của nhà văn, vừa lạnh lùng đôi lúc tàn nhẫn nhưng
cũng không kém dư vị xót xa và quan trọng hơn thứ hiện thực ấy luôn khiến
cho người đọc phải trăn trở suy tư.
Các truyện ngắn về đề tài đồng quê và những người dân lao động:

thức cho đến những người dân lao động, dù sống ở thành thị hay nông thôn,
trong cuộc sống đầy đủ về vật chất hay nghèo khổ, hầu hết họ là những con
người cô đơn trong cuộc sống. Các nhân vật cô đơn ngay trong chính đời sống
xung quanh mình cũng mang nhiều diện mạo rất khác nhau. Nó là cái cô đơn
mang tính đa dạng và phải chăng nó nhuốm cái tâm thế cô đơn của con người
trong cuộc sống hiện đại: sống giữa cuộc sống của mình “sao cứ như lạc loài”.
Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không xây dựng
theo xu hướng phản diện hay chính diện. Họ là những con người tồn tại chân
thực với tất cả sự phức tạp của nó. Ở họ, cái xấu xa đốn mạt đan cài với
23
những điều tốt đẹp, ranh giới giữa cái thiện và cái ác rất mong manh trong
mỗi con người. Kiểu con người như vậy được Nguyễn Huy Thiệp khắc họa
rất thành công ở những nhân vật đàn ông. Phần lớn các nhân vật đàn ông
trong truyện hiện lên với vẻ nhếch nhác, đốn mạt, bất đắc chí và vô tích sự,
duy có phần lớn nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông mang nhiều vẻ đẹp.
Đó là nàng Bua, Sinh, Chị Thắm, cô Thục, Xuân Hương, bé Thu…Những con
người luôn biết giúp đỡ những người xung quanh, biết hy sinh. Họ như những
mạch nước ngầm làm dịu mát những thớ đất khô cằn cỗi, làm mềm đi cái
cuộc sống khô cằn gân guốc trong trang viết của Nguyễn Huy Thiệp.
Ở phương diện nghệ thuật, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ghi nhận
nhiều sáng tạo mang cá tính trong việc xây dựng tình huống. Các truyện ngắn
của ông hầu hết đều khai thác những tình huống trong đời sống thường nhật
song khá đa dạng và giàu kịch tính (Không có vua, Giọt máu, Sang sông,
Huyền thoại phố phường…).
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp góp phần làm phong phú diện mạo
cho truyện ngắn hiện đại với các kiểu truyện ngắn “giả lịch sử”(Vàng lửa,
Kiếm Sắc, Phẩm tiết…); truyện ngắn mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích
(Những ngọn gió Hua Tát); truyện ngắn trong truyện ngắn (Chút thoáng Xuân
Hương, Con gái thủy thần, Những ngọn gió Hua Tát, Thương nhớ đồng quê),
truyện ngắn mang dáng dấp phóng sự (Tội ác và trừng phạt); truyện ngắn

Mặc dù vẫn còn những hạn chế song những đóng góp của Nguyễn Huy
Thiệp cho diện mạo truyện ngắn Việt Nam những năm sau đổi mới là điều
không thể phủ nhận. Đỗ Đức Hiểu trong bài nghiên cứu Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp đã nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khuấy động tâm can
chúng ta, về nhiều phương diện, đời sống, suy tư, văn học nghệ thuật, triết lý,
25
thân phận con người. Từ một thế giới văn chương ổn định, mang nhiều tính
chất hồn nhiên của Conte, lạc quan và lòng tin, chúng ta bước vào một thế
giới bất ổn của đời sống thật, hàng ngày, đau khổ, và của những day dứt bất
tận của nhân loại, đầy bi kịch:”
[32, tr.478]
. Và ông khẳng định đã tìm thấy
Nguyễn Huy Thiệp “người tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam này, ở nửa sau thế
kỷ XX. Cái Tôi ấy đứng dậy, đau khổ, cô đơn, đầy khát vọng. Cái Tôi ấy gieo
bão táp trong văn chương Việt Nam, lúc ấy”[32, tr.486]. Tất cả những điều đó
đã khẳng định cho vị trí cũng như những đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp
trong làng truyện ngắn Việt Nam đương đại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status