Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hóa - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ SAO

THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM DƯỚI GÓC NHÌN
VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam


Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Văn Lân
Hà Nội - 2010
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

1
MỤC LỤC

Phần Mở đầu………………………………………………………………… 3
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………….……… 3
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………… …….… …… 4
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.………………………………………………… 6

3.2.2. Thể thơ…… ………………………….……………………… … 85
3.2.3. Giọng điệu…………………………………….………………………….….88
Kết luận……………………………………………………………………… 95
Tài liệu tham khảo……………………………………………… ………….… 97

Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

3


Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

4
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc
nhìn văn hoá với hi vọng sẽ đóng góp thêm một vài ý kiến để tiến tới có một cái
nhìn tổng thể, toàn diện về tác phẩm thơ Nguyễn Khoa Điềm.
2. Lịch sử vấn đề
Về Nguyễn Khoa Điềm, các bài viết, công trình nghiên cứu về ông không
nhiều nhưng đều có những đánh giá khá nhất quán về phong cách thơ ông. Tôn
Phương Lan trong bài viết khá công phu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều
triển vọng (1976) đã đề cập ngay đến phong cách riêng ấy, đó là “những liên tưởng
độc đáo, kết quả của một sự am hiểu cuộc sống và một cảm quan văn chương nhạy
bén… Điều đó đã tạo nên những tứ thơ mênh mông, đậm đà mà bay bổng, thật thà
mà xao xuyến”[26, tr.326]. Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng khẳng định thành công
của Nguyễn Khoa Điềm ở thể loại trường ca: “Trường ca Mặt đường khát vọng là
một thể nghiệm mới trong vấn đề tìm tòi phương pháp thể hiện và một thành công
mới của anh”. Về cấu trúc trường ca này, Tôn Phương Lan nhận xét rất xác đáng:
“không coi việc kể chuyện là chính. Lấy suy nghĩ, cảm xúc làm chỗ dựa cho kết cấu
để rồi từ đó triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu”[26, tr.331].
Nguyễn Xuân Nam trong Thơ tìm hiểu và thưởng thức (1985) cũng nhấn mạnh
đến sức mạnh của trường liên tưởng và chiều sâu văn hóa quá khứ: “Thơ Nguyễn
Khoa Điềm không đặc sắc về tạo hình, về màu sắc nhưng anh có sức liên tưởng
mạnh. Anh thường dẫn người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từ khổ đau đến hạnh
phúc, từ sách vở đến đời sống”.
Trong bài Gương mặt quê hương, gương mặt nhà thơ (1998), Võ Văn Trực
chú tâm đi tìm và phân tích chất văn hóa Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và
khẳng định, chính điều đó đã làm nên phong cách thơ ông, “tâm hồn Huế vẫn dịu
dàng ở phía sau mỗi dòng thơ”.
Trong Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường của Nguyễn Trọng Hoàn, Ngô

Tại luận văn thạc sỹ Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Thị Lập sau khi
nêu lên những đóng góp của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong phong trào thơ chống
Mỹ đã đưa ra và phân tích những cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (về
đất nước, con người trong và sau chiến tranh), tập trung phân tích những hình ảnh
thơ, ngôn ngữ thơ và màu sắc văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Gần đây, sau khi từ giã quan trường, Nguyễn Khoa Điềm đã trở lại với thơ và
công bố nhiều bài thơ cùng tập Cõi lặng cho một giai đoạn sáng tác mới. Đã có khá
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

6
nhiều bài viết giới thiệu, đánh giá về thơ Nguyễn Khoa Điềm giai đoạn này, nhưng
nhìn chung đa số đều còn ở dạng riêng lẻ, mang tính chất cảm nhận, bình luận một
số bài thơ tiêu biểu và tập trung vào chuyện trở về “vườn chuối” của ông, do đó,
chưa có những kết luận đáng chú ý.
Tựu trung, các công trình, bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp đều thừa nhận tài
năng của Nguyễn Khoa Điềm nhưng chưa thực sự có nhiều công trình khoa học
khảo sát một cách có hệ thống và quy mô cả về chiều rộng và chiều sâu thơ Nguyễn
Khoa Điềm. Dù sao, đó cũng thực sự là những bước đi đầu tiên cho việc khám phá
trọn vẹn, đầy đủ toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ ca Nguyễn Khoa Điềm.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm văn hoá, các thành tố văn hoá và mối quan hệ
giữa văn hoá và văn học, luận văn đi sâu vào nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ
góc nhìn văn hoá. Từ vấn đề trung tâm, chúng tôi mở rộng các mặt biểu hiện cơ bản
của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong tính thống nhất giữa nội dung và hình thức.
Do khuôn khổ của luận văn có hạn, chúng tôi chỉ tập trung tiến hành khảo sát
thơ Nguyễn Khoa Điềm qua các tập thơ chính: Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một cách tiếp cận mới mẻ giúp
ta hiểu thêm về những giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Kết quả nghiên cứu của
Luận văn góp phần khẳng định một hướng nghiên cứu văn học mới nhiều triển vọng
đó là từ góc độ văn hoá - văn học, sự giao lưu, giao thoa và ảnh hưởng qua lại để
nhìn cho thấu đáo từ nhiều chiều kích, phương diện
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ Nguyễn Khoa Điềm trong mạch nguồn văn hoá Huế
Chương 2: Cảm thức văn hoá trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Chương 3: Hình thức thể hiện và các biểu trưng văn hoá

Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

8
Chương 1: THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM TRONG MẠCH NGUỒN
VĂN HOÁ HUẾ
1.1. Vài nét về văn hoá Huế
Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển
khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong khoảng thời gian khá dài, Huế đã
tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền

“Khẩu ngữ Hà Nội lịch sự và tế nhị, văn hoa nhưng không khỏi kiểu cách. Khẩu
ngữ Huế ở ngôn ngữ hoàng phái mang sắc thái đài các, nhưng thiếu tính chân thực,
còn ở khẩu ngữ nhân dân thì đậm đà, duyên dáng nhưng không khỏi mộc mạc.
Khẩu ngữ Nam Bộ thì bốp chát, nhưng chí tình, khỏe mạnh và mang một đặc điểm
rất mới mà các khẩu ngữ khác không có, đó là ý thức về giá trị cá nhân”[9, tr.76].
Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh
nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống
"hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang
âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán.
Bài bản ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu
dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác
học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế
với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống
Huế, sanh loan, sanh tiền. Kỹ thuật đàn và hát ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng ca Huế
lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế
nên gần gũi với hò Huế, lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc
dân gian.
Lễ nhạc cung đình Huế: Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao
nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc,
thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc
cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiểu
nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn. Cùng với nhã nhạc, vũ khúc cung đình nổi
bật với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc,
múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên
đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

11
Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân
gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc
hiện đại Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần thể di tích
Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế. Đó là những di tích lịch sử - văn hóa do triều
Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu
thế kỷ XX trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một
vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Kiến trúc đô thị Huế có truyền
thống trên nền kiến trúc "tạo cảnh": Với phong cách riêng và cái nhìn phong thủy,
quần thể kiến trúc kinh thành, đền đài, lăng tẩm, nhà cửa nơi đây đã hoà quyện cùng
ngoại cảnh thiên nhiên thơ mộng của sông suối, núi rừng, bãi đồi xứ Huế, thể hiện
sự hoà hợp âm dương, tạo nên một không gian kiến trúc "tạo cảnh" mang nhiều triết
lý sâu xa, huyền bí.
Cũng nằm trong không gian kiến trúc "tạo cảnh", nhà vườn Huế được coi là
một nét văn hoá vật thể truyền thống đặc trưng. Nhà vườn Huế thể hiện triết lý sâu
xa của con người xứ Huế: hướng nội, suy tư, hoà quyện vào thiên nhiên, gửi gắm
lòng mình vào cỏ cây, hoa lá. Loại kiến trúc này lấy ngôi nhà làm trung tâm, trong
đó người ta đặc biệt chú ý đến cả kết cấu kiến trúc (chạm khắc, tạo dáng tỷ mỉ, tinh
vi, khéo léo đến mức ngôi nhà trở thành tác phẩm của nghệ thuật điêu khắc gỗ),
không gian kiến trúc (địa thế, phương vị, tiền án và vườn cây tạo cảnh xung quanh
nhà), không gian xã hội (nhà nhất thiết phải gian lẻ, gian giữa là bàn thờ, hương án,
hoành phi, câu đối; gian trên, chái trên dành cho đàn ông; gian dưới, chái dưới dành
cho phụ nữ ).
Đặc trưng tiếp theo của văn hoá vật thể là sự có mặt với mật độ dày đặc các
chùa chiền, nhà thờ và các cơ sở thờ họ khác, như điện thờ, thánh thất, đền miếu

bản và mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng); văn hóa tinh thần (bao
gồm các tri thức khoa học, phong tục tập quán, tôn giáo, xã hội, văn học, nghệ thuật
dân gian…). Phan Ngọc đã thống kê được gần 400 định nghĩa khác nhau về văn
hóa. Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống các
giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực
tiễn thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội” [45, 27]. Theo Unesco:
“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất,
trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội, văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những

1
Tham khảo theo bài viết của Đỗ Lai Thúy Quan hệ văn hóa và văn học từ cái nhìn hệ thống, có chỉnh sửa, bổ
sung
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

13
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín
ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn
hóa làm cho chúng ta trở thành những sự vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê
phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự
ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem
xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và
sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [45, tr.24].
Chính từ đặc trưng văn hóa, các thuộc tính của văn hóa, văn học, có thể xem
xét mối quan hệ giữa chúng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau như thế nào.
Văn học là một bộ phận của văn hóa, nằm trong văn hóa, vì thế chịu sự chi phối của

nho tài tử và văn học Việt Nam cụ thể hóa bằng một cái nhìn loại hình học. Đỗ Lai
Thúy trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực đã lí giải những biểu tượng lấp
lửng hai mặt trong thơ bà bằng tín ngưỡng phồn thực, còn Trần Nho Thìn trong Văn
học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hoá thì cho rằng nghiên cứu văn học
trung đại từ những phạm trù cơ bản của văn hóa trung đại để tránh hiện đại hóa văn
học dân tộc. Nhưng, có lẽ, Phan Ngọc là người có ý thức trong hướng nghiên cứu
này hơn cả. Là một nhà văn hóa học, ông đã sớm lấy yếu tố văn hóa xã hội để Tìm
hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, rồi lại thử giải thích văn học bằng
ngôn ngữ. Và khi một số công trình của M.Bakhtin, (Những vấn đề thi pháp
Đôxtoiephi (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục,
2003); Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu, Nxb Hội
Nhà văn, 2003)) được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng thuyết
phục, được các nhà nghiên cứu quan tâm và sử dụng, đồng thời đối tượng nghiên
cứu cũng phong phú thêm lên.
Những thành tựu của văn hóa học ngày nay cho phép chúng ta có thể nhìn
nhận văn hóa như một tổng thể, một hệ thống bao gồm những yếu tố như ngôn ngữ,
phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật
biểu diễn, văn học… Trong hệ thống văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam, yếu tố chủ
đạo thường là văn học. Yếu tố chủ đạo này không phải là bất biến mà nó thường
xuyên thay đổi qua những thời đại văn hóa, tức một hệ thống văn hóa. Là một yếu
tố mạnh, văn học luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống để phát triển. Tiếp thu
những cái ngoài hệ thống đến một mức độ nào đó, yếu tố văn học sẽ không còn phù
hợp với hệ thống văn hóa nữa, nó chống lại hệ thống, làm cho hệ thống phải thay
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

15
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

16
lý giải một cách thấu đáo. Ví như: theo hệ quy chiếu này thì văn học ở hình thái cao
hơn phải hay hơn, hoặc ít nhất cũng phát triển hơn, nhưng văn học Việt Nam sau
1945 có lẽ không hay hoặc phát triển bằng văn học 1932 - 1945; hoặc trong cùng
một hình thái thì văn học ở giai đoạn xã hội thịnh trị phải phát triển hơn lúc xã hội
suy tàn (nhưng văn học Việt Nam thời Hồng Đức dường như không sánh được với
thời Nguyễn Du?)… Nhưng chúng ta có thể thử tiếp cận từ góc độ văn hóa để lý
giải các hiện tượng trên. Thực tế là, cùng ở vào một thời đại quân chủ nông nghiệp
Nho giáo, nhưng thời Hồng Đức là văn hóa thuần nông nghiệp, còn thời Nguyễn Du
thì đã chớm văn hóa đô thị, dẫu rằng đô thị phương Đông trung đại. Văn học đô thị
phát triển nhờ nhu cầu hưởng thụ thẩm mỹ của thị dân, nhờ ý thức cá nhân thức tỉnh
và, cuối cùng, nhờ sự xuất hiện của một lớp tác giả mới: nhà nho tài tử. Còn giai
đoạn 1932 - 1945 thì đã là văn hóa đô thị hiện đại. Sản phẩm văn hóa không còn là
quà tặng nữa mà đã là hàng hóa. Ý thức cá nhân phát triển. Chủ thể của văn hóa này
là những trí thức Tây học. Văn học 1932 - 1945 là tiếng nói mới, tưng bừng của văn
hóa đô thị hiện đại. Sau 1945, do nhu cầu của hai cuộc kháng chiến nên phải đề cao
dân tộc, đề cao truyền thống, đề cao nông thôn, nông dân (là quân chủ lực) Văn
hóa đô thị, vì thế, chùng xuống hơn; văn hóa nông thôn phục hưng và phát triển.
Như vậy, đọc một tác phẩm văn học theo quan điểm văn hóa học là vận dụng
những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm.
Một cách tổng quát, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa ưu
tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời,
xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật
pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con người cũng như sự chi phối của các phương diện
khác nhau trong đời sống sinh hoạt xã hội sống động hiện thực… từng tồn tại trong
một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật,

như trường hợp của Trương Hán Siêu với Hoá Châu tác, Lê Thánh Tông với Tư
dung hải môn lữ thứ, Đào Duy Từ với Tư dung vãn, rồi sau này là Nguyễn Biểu,
Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phạm Đình Hổ, Phạm Nguyên Du,
Ngô Thời Nhậm, Phạm Phú Thứ, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hàm Ninh, Lê Ngọc
Hân, Trần Bích San, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Xuân
Ôn, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Huy Trứ, Trần Cao Vân, Miên Trinh,
Miên Thẩm, Đào Tấn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thông, Ông Ích Khiêm, Tản Đà,
Mai Am, Huệ Phố, Huỳnh Thúc Kháng
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

18
Và nối tiếp từ năm 1930 với Phong trào Thơ mới cho đến ngày nay, nếu làm
phép thống kê như trên thì phải lên đến con số vài ba trăm nhà thơ. Trong đó, phải
kể đến các thi sĩ tài danh (thời 1930-1945): Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư,
Thế Lữ, Tố Hữu, Nguyễn Xuân Sanh, Văn Cao, Vũ Đình Liên, Chế Lan Viên, Hàn
Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Nam Trân, Phạm Hầu, Thái
Can, Tế Hanh, Đinh Hùng, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Phan Văn Dật, Hoàng Diệp
Kế đến là các nhà thơ thời kháng chiến (1945-1975) như Hải Bằng, Nguyễn Khoa
Điềm, Thanh Hải, Lương An, Trần Vàng Sao, Hoàng Phủ Ngọc Tường
Thời kỳ hoà bình lập lại từ 1975 đến nay, Huế là nơi trung chuyển, dừng chân
trên đường lữ thứ Bắc - Nam của biết bao tao nhân mặc khách. Các thi sĩ cả nước đã
đến Huế, neo hồn mình cùng thiên nhiên, cảnh vật và đã có hàng nghìn bài thơ hay
viết về Huế. Đó là tài sản vô giá cho kho tàng thơ Huế. Rồi đây, chúng sẽ biến
thành những giá trị mới, bổ sung những phẩm chất văn hoá - thi ca cho Huế.
Như bất kỳ các trung tâm văn hoá lớn của cả nước như Thăng Long - Hà Nội,
Sài Gòn , Huế hiển minh một khả năng, một quy luật thi ca có tính độc đáo riêng.

năm 1943. Cái tên Ưu Điềm không ngờ lại ứng với bản tính Nguyễn Khoa Điềm -
một người hay ưu tư, suy nghĩ, điềm đạm và trầm lặng. Lên mười một tuổi, Nguyễn
Khoa Điềm đã mồ côi cha. Thời thơ ấu ông lại sống trong ''khu phố buồn đau'', hàng
ngày chứng kiến cái cảnh: Những người dân nghèo ''như vỏ hến chiều chiều tấp lên
các bến '', với những đôi chân đất đội áo nối vai / le te chợ Hôm, chợ Mai / đầu tắt
mặt tối. Hình ảnh người mẹ ngồi bán hàng ''nước mắt thương chồng lạnh như hạt
mưa đọng qua cửa thùng gương” cứ ám ảnh Nguyễn Khoa Điềm. Năm mười hai
tuổi, ông lại phải sống xa mẹ (khi được một người bà con đưa ra miền Bắc). Có lẽ
vì thế mà ông hay suy tư về cuộc sống của những người dân lao động nghèo khổ.
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm Tiến
Duật, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Nguyễn Khoa Điềm được trở về quê hương, hoạt
động ở chiến trường Thừa Thiên - Huế. Trong một trận càn, ông bị địch bắt giam tại
nhà lao Thừa Phủ suốt mấy tháng trời. Mãi đến chiến dịch Mậu Thân (1968), ông
mới được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động. Chính thời điểm này, Nguyễn Khoa
Điềm bắt đầu làm thơ.
Sau Giải phóng miền Nam (1975), Nguyễn Khoa Điềm tham gia công tác
Đoàn Thanh niên Cộng sản; rồi đảm nhận các chức vụ như: Chủ tịch Hội Văn nghệ
Bình Trị Thiên, Phó bí thư thường trực tỉnh uỷ Thửa Thiên - Huế. Năm 1994,
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

20
Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin. Năm
1995, được bầu làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa 5. Năm 1996, được
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đại
biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá X), Bộ trưởng Bộ
Văn hóa Thông tin. Năm 2001, giữ chức Trưởng ban Văn hoá, tư tưởng Trung

và buồn… Huế cũng đã một lần “tiêu thổ kháng chiến” và Huế Mậu Thân bị bom
đạn tàn phá ghê gớm. Thân phận hoài nhớ vàng son của người Huế đã khiến cho xứ
này trầm xuống. Người ta luôn sống với chiều sâu tâm linh. Có lẽ vì thế mà nhiều
nhà thơ gặp Huế đã để lại những bài thơ hay, ảo diệu và sâu sắc… Huế đẹp và gian
khổ luôn ám ảnh tôi”[11, tr.5].
Hầu hết đề tài trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đều được rút ra từ mảnh đất Huế,
ngoại ô Huế và “ngoại ô mở rộng” của chiến trường Trị Thiên. Nguyễn Khoa Điềm
có ý thức về điều đó, và ngược lại, điều đó đến với ông một cách tự nhiên. Nguyễn
Khoa Điềm sinh ra ở đấy, lớn lên ở đấy, chiến đấu ở đấy và trở về sinh sống cũng
tại đấy. Lịch sử Huế, nền văn hóa Huế, hơi thở đời sống hàng ngày của cố đô thấm
vào máu thịt ông và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ ca. Chính điều này đã góp
một phần quan trọng tạo nên bản lĩnh riêng cho thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Ngay từ tập thơ đầu tiên Đất ngoại ô, Nguyễn Khoa Điềm đã gây tượng ở một
giọng điệu thơ khá mới mẻ. Các câu thơ được kéo dài một cách tự do phóng
khoáng, không quá câu nệ vào vần điệu. Lời thơ tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói
hàng ngày. Những câu thơ, những đoạn thơ trong Đất ngoại ô chứa đầy suy tư. Từ
quá khứ, nhà thơ đối chiếu với hiện tại: Vườn thơ xưa không có gã áo trắng đi về /
Ngơ ngẩn đọc thơ buồn trong tiếng guốc cạo râu / Chỉ còn người phu xe cũ /
Nghiêng cốc rượu chiều nhòe những mái tôn Nhà thơ nhìn thấy trong cái nắng
tháng năm "run rẩy những oan hồn", và tự hỏi: "Ôi mùa phượng hay lòng tôi cháy
đỏ?". Ngọn lửa căm thù của đồng bào miền Nam đã biến thành giông bão: Sức trăm
năm rung chuyển xuống lòng đường / Cả ngoại ô làm chiến lũy sông Hương Đất
ngoại ô chiếm một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thi ca của Nguyễn Khoa Điềm. Nó
mở cho ông một hướng đi riêng, một cách nói năng, một giọng điệu riêng trong
dòng thơ chống Mỹ. Tập thơ ngập tràn những suy tư của tác giả về cuộc sống lam lũ
của người dân lao động (Những đồng tiền ngoại ô); về tình cảnh đau thương của đất
nước (Nơi Bác từng qua); về tình bạn bè, đồng đội (Bếp lửa rừng), về tình mẫu tử
và tình yêu nước (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)…
Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn văn hoá
Nguyễn Thị Sao – Cao học Văn 2007

23
Chương 2: CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Làm cho “tư liệu văn hóa” trong thơ sáng bừng lên giá trị thẩm mỹ mang tính
lay động cao không phải nhà thơ nào cũng thành công, chưa kể đến những vốn liếng
văn hóa ấy phải được đan quyện vào và chung sống cùng hiện thực thời đại. Trong
thơ ca Việt Nam có không ít tác giả đã sử dụng vốn văn hóa làm nền tảng sáng
tạo… Nhưng sử dụng vốn văn hóa truyền thống và văn hóa vùng miền đặt trong
trường liên tưởng mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống để tạo nên gương mặt thơ
riêng, không phải ai cũng thành công như Nguyễn Khoa Điềm.
Tình yêu Huế thành kính đã trở thành nguồn mạch chủ đạo trong thơ Nguyễn
Khoa Điềm. Lấy văn hóa truyền thống và văn hóa Huế làm trục chính, Nguyễn
Khoa Điềm đã tái hiện không gian cố đô Huế là sự kết hợp tinh tế, hài hoà giữa
truyền thống và hiện đại. Vẻ đẹp, sức sống Huế đậm đặc trong thơ Nguyễn Khoa
Điềm với những ấn tượng khó quên và một sức sống bền bỉ, mãnh liệt.
2.1. Sự gắn bó, tự hào về quê hương
Mỗi nhà thơ đều mang trong mình một miền quê để nhớ, để nâng niu, tôn thờ.
Mảnh đất quê hương là cội nguồn, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn thi nhân từ thuở
ấu thơ. Làm thơ về quê hương, ấy là ước nguyện chung của bao thi sĩ nhưng để lưu
danh nơi mình đã sinh ra cùng thơ ca không phải ai cũng thành công. Nguyễn Khoa
Điềm là nhà thơ đã thể hiện sâu sắc, cháy bỏng tình yêu quê hương trong thơ mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status