Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học (1930-1945 - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VĂN
*****
Q l g u y ễ n Ic ỉh a i tlt (X ju a n
NHỮNG SÓNG GÓP CỦA ru ế LỪ VÀO GIAI DOẠN
%
VĂN HỌC 1930 -1945
*
@huíjĩ>n ttạàn ít: Mt/ M/tộtt (Z)ăit 'ICọe
M ã Sế: 5 .04.01
( rd n ụ n r( ) ă n C7fi(/í' (Si/ 3C h o a K)Ọ e Q ỉịịC ì < ĩ)á n )
Người hướng dẫn khoa học: T.s Lý Hoài Thu
ĐA! HOC G-UỎC GIA HÀ NỌI
TRUNGTẢMĨHÓNGĨỈN.THƯ VIỆN
ỷ ỹ -U M /i
Hà nôi: 2000
Trang
A Phần mở đầu 1
B Phần nội dung luận văn 5
ỉ.Chương l Vai trò của Thê Lũ đôi với quá trình hiện đại hoá văn học 5
1.1 Hiện đại hoá - một xu hướng tất yếu của văn học giai đoạn 6
1930- 1945
1.2 Vai trò của Thế Lữ đối với quá trình hiện đại hoá vãn học 10
2.Chương 2: Thế Lữ - một nhà tho mói tiên phong 21
2.1 Thơ Thế Lữ - một sự đổi mới về mặt cảm hứng sáng tạo 22
2.2 Thơ Thế Lữ - một bước tổng hợp mới giữa văn học Đồng, 52
Tây và truyền thống văn học dân tộc
3.Chưong 3 Thế Lũ - một cày bút văn xuôi có nhiều tìm tòi. 6 8
3.1 Những đóng góp của Thế Lữ về hệ thống cốt truyện, nhân vật 71
cho vãn xuôi Việt Nam 1930 - 1945
3.2 Kết cấu và ngôn ngữ văn xuồi Thế Lữ 77

cứu một cách toàn diện sáng tác của Thế Lữ để chí ra những áèngCỊỔp của người đi
tiên phong trong phong trào thơ mới này.
A. PHẨN MỎ ĐẨU
I
Để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp nghiên cứu chung nhằm nêu nên
những giá trị nhân văn, giá trị nghệ thuật và làm sáng tỏ công lao của Thế Lữ, khắng
định vị trí xứng đáng của ông trong nền văn học dân tộc, cluing tôi chọn đề tài:
"Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học 1930-1945".
Sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ bao gồm nhiều thể loại: Thơ, Văn xuôi, Kịch
và cả truyện dịch. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn nhiệm vụ nghiên
cứu của mình ở những sáng tác thơ và văn xuôi của ông.
2. MỤC ĐÍCH NGIÊN cúu -Ý NGHĨA THựC TIẺN CÚA LUẬN VÁN .
Thực hiện đề tài trên, luận văn sẽ nghiên cứu để nêu nên một cách cụ thể những
đóng góp của Thế Lữ cho sự phát triển văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 cả
về nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt, luận văn sẽ chỉ ra nhũng cách tân trong sáng
tác của Thế Lữ về thi pháp thơ và văn xuôi trên các mặt: kết cấu, xây clựng hình
tượng nhân vật, đổi mới ngôn ngữ giọng điệu, sự kết hợp hài hoà giữa văn học
Đông- Tây trên cái nền văn học dân tộc
Đạt được những mục đích nghiên cứu đó, luận văn phục vụ trực tiếp công việc tìm
hiểu và giảng dạy văn học Việt Nam ớ các bậc Đại học, Cao đẳng và phó thông
trung học với tư cátìh là một tài liệu tham khảo.
3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CÚU- NHŨNG NGUồN TƯ LIỆU.
Kể từ khi ra dời đến nay, văn học lãng mạn dã thu hút sự chú ý của giới nghiên
cứu, phê bình văn học. Là sứ giả tiên phong của trào lưu lãng mạn, sáng tác của Thế
Lữ đã được các nhà biên khảo lịch sự, các nhà nghiên cứu văn học hết sức quan tâm
tiến hành khảo sát, nghiên cứu. Tuy vạy, mức độ đánh giá về văn nghiệp Thế Lữ ở
mỗi giai đoạn lịch sử có khác nhau.
Trước cánh mạng Tháng Tám năm 1945, ngoài ý kiến đánh giá (với ý nghĩa bênh
vực, cổ vũ cho thơ mới trong giai đoạn phôi thai) của các bạn đổng nghiệp như Vũ
Đình Liên, Lưu Trọng Lư dành cho tác phẩm của Thế Lữ, chúng ta đã thấy xuất hiện

Từ thời kỳ đổi mới đến nay, văn học lãng mạn nói chung trong đó có Thế Lữ
đã được thẩm định lại.
3
Nhiều bài nghiên cứu, chuyên luận của các tác giả như Trương Chính, Hà
Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Hựơu, Phan Cự Đệ, Vũ Ngọc Phan
đã đánh giá lại trào lưu lãng mạn nói chung dưới ánh sáng của tư duy mới. Đáng chú
ý hơn cả là công trình nghiên cứu " Thơ mới - những bước thăng trầm n của Lê
Đình Kỵ. Tác giả đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn tương đối toàn diên về
những đóng góp cũng như một số hạn chế của thi nhân lãng mạn trong đó có Thế Lữ
Trên cơ sở tiếp thu và hệ thống hoá những ý kiến của những người đi trước,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện, đặc biệt là mặt nghệ thuật để
khẳng định công lao của Thế Lữ đối với sự phát triển của văn học Việt Nam giai
đoạn 1930- 1945.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u
Hệ thống lý luận triết học Mác - Lê nin bao gồm chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận chung của luận văn.
Khi nghiên cứu một hiện tượng văn học cụ thể, cluìng tôi vạn dụng những
phương pháp khác nhau như so sánh loại hình, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ
thống để từ đó rút ra những nét đặc trưng về cảm quan và tư duy nghệ thuật của
Thế Lữ so với thế hệ các nhà vãn cùng thời. Nói cách khác, chúng tôi tiến liànli
nghiên cứu những sáng tác của Thế Lữ trong mối tương quan giữa dồng đại và lịch
đại để thấy được những đóng góp có tính chất tiên phong của ồng.
4
B - PHẨN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CUA THẾ LỮ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HIỆN BAI
HOÁ VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1930 - 1945.
5
1.1 HIỆN ĐẠI HOÁMỘT x u HƯỚNG TAT YẾư c ủ a v ă n h ọ c v i ệ t n a m g i a i đ o ạ n
1930- 1945.
Hiện thực đời sống xã hội không chỉ là đối lượng phản ánh một nền văn học

đánh phấn, môi đỏ chót, áo màu, giày cao gól,
những cô
gái tân tiến
I l l i c it
còn di
xe
lếch, chơi ping pông, tennis Nam thanh niên thành thị giàu sang cũng đua nhau ăn
mặc không kém thiếu nữ
Có thể nói, những đổi mới trong sinh hoạt của các táng lớp trên đây sẽ dẫn đến sự
thay đổi suy nghĩ, cảm xúc trong bán thân chính những COI
1
người này. Góp phần
vào sự thay đổi đó còn do sự tiếp xúc với VĨ111 hoá phương Tây mà đặc biệt là với
văn học lãng mạn Pháp.
Năm 1915, thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt bụôc phải bãi bỏ thi
Hương ở Bắc Kỳ. Năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng ở Huế dã kết thúc một ch ế độ
khoa thi cử từ lâu đã trở thành vô nghĩa, thối nát. Từ đây, trong các trường học, học
sinh bắt đầu say sưa với văn hoá Phấp mà đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp. Người
ta bắt đầu ca ngợi thơ lãng mạn của Hugo, Lamartine, Musset, Viguy N hiều người
rất thích bài thơ"Le Lac" (Cái hồ) của Larmartinne, mê nhân vật Atala trong tác
phẩm cùng tên của Chateaubriand
Sự tiếp xúc vãn hoá trên đây đã đem đến cho tầng lớp thanh niên tiểu tư sản
thành thị những năm 30 của thế kỷ này những tình cảm mới, những rung động mới.
Họ yêu đương mơ mộng, vui buồn không giống các cụ ngày xưa nữa. Điều này đỉf
được Lưu Trọng Lư nêu lên công khai trong buổi diễn thuyết ở nhà Học Hội Quy
Nhơn hồi tháng 6 năm 1934:
" Các cụ ta ưa những màu đỏ clioét, ta lại ưa những màu xanh nhạt. Các cụ
bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đung Ngọ.
Nhìn một cô gái xinh xắn, ngay they, cấc cụ coi như làm một điều tội lỗi, la Ihì cho
là mát mẻ như đứng tnrớc lĩiột cánh đổng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chí là sự

Xương , hệ thống thi pháp cổ tướng chừng sắp lung lay, sụp đổ. Tuy nhiên cơ sở
xã hội, môi trường văn hoá tư tưởng hồi bấy giờ không cho phép những COI1 người
tài hoa đó được phát triển đầy đủ bản sắc cá nhân của mình để có thể thả sức lung
hoành ngòi but một cách tự do, thoải mái.
8
Phải đến thế kỷ 20, với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đông đảo và lối sống
đô thị hoá, với ảnh hưởng của vãn hoá phương Tây ý thức cá nhân mới nảy sinh
và phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp thị dân mà trước hết là ở bộ phận trí thức tân
học. Họ có quan điểm hoàn toàn khác với thế hệ trước về cái đẹp, về đạo đức, nhân
sinh và đặc biệt là về văn học nghệ thuật. Họ cho rằng những quy phạm chặt chẽ của
thi pháp cổ đã trờ thành vật cản trên chặng dường tự do dân chủ hoá nền văn học
nước nhà. Họ lên tiếng chống lại sự trói buộc trái tự nhiên của thi phấp cổ mang tính
phi ngã đã một thời là mẫu mực cho các sáng tác văn chương nghệ thuật. Họ đòi hỏi
một sự cách tân để thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ mới và để kích thích cá tính sáng tạo
trong lĩnh vực nghệ thuật văn chương.
Có thể nói, lối sống đô thị hoá và sự tiếp xííc với văn hoá phương Tây của
một số tầng lớp dân chúng Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ này là tiền đề
quan trọng cho xu hướng hiện đaị hoá đời sống xã hội, trong đó có vãn học. Ngoài
ra, góp phần khổng nhỏ vào sự đổi mới cùa xã hội nói chung và văn học nghệ thuật
nói riêng còn phải kể đến vai trò của báo chí.
Năm 1865, tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam do chính
phủ Sài Gòn lập ra nhằm mục đích đãng các cồng lệnh của nhà nước. Tù đó về sau,
báo trí đua nhau ra đời nhưng hầu hết đều là công cụ của chính quyền để đăng công
vãn và tin tức vắn tắt nên giá trị tư tưởng không có gì đáng nói.
Từ năm 1913, báo chí bắt đầu đổi mới và cỏ khuynh hướng, chương trình lõ
rệt hơn,' hình thức báo chí cũng được cải tiến. Báo chí thời này tlurờng được xuất
bản bằng các thứ tiếng Tàu, Pháp, Quốc Ngữ và đôi khi cả chữ Nôm nữa.
Về sau, những trí thức tân học của ta đã cổ dộng cho chữ quốc ngữ và dùng nó làm
phương tiện đấu tranh phổ biến. Vãn hoá, khoa học tiến bộ góp phần thúc đẩy bánh
xe lịch sử tiến lên. Chính báo chí đa hoại động sôi nổi khiến chính quyển thực dân

Sinh thời, ông đã từng cộng tác với cấc báo: Phong hoá, Ngày nay và Tinh hoa.
Về thơ, Thế Lữ chỉ có thi phẩm độc nhất" Mấy vần thơ" xuất bán năm 1935 rồi do
nhà xuất bản Đời nay tái bản dưới tên" Mấy vần thơ tạp mới" vào năm 1941 tại Hà
Nội.
10
Và đến năm 1962, thi phẩm này lại dược tái bản lần thứ hai tại Sài Gòn.
Ngoài thơ, Thế Lữ còn nhà văn chuyên viết liểu thuyết dường rừng, trinh
thám, quái đản, gồm những tác phẩm: " Vàng và máu"(1934), "Bên đường thiên
lôiM( 1936 )," Mai hương và Lê Phong" (1937), "Lê Phong Phóng viên" (1937) " Gói
thuốc lá" (1940), "Gió trăng ngàn" (1941), "Trại Bổ Tùng Linh" (1941), " Ba hồi
kinh dị", " Con quỷ truyền kiếp", " Đòn hẹn". Viết về Thế Lữ , nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Phan viết: " về thơ, người ta thấy rõ cái thi cốt, cái chân tài của Thế Lữ. về
tiểu thuyết, tuy loại trinh thám ông chưa thành công, nhưng về truyện ghê sợ ông đã
tỏ ra một tiểu thuyết gia có biệt tài" I 26, 1953].
Và không riêng gì nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan mà rất nhiều nhà
biên khảo lịch sử văn học như Dương Quảng Hàm, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng,
Tấn Long, Hoài Thanh, các nhà nghiên cứu, lý luận văn học như Lê Đình Kỵ, Hà
Minh Đức. Trương Chính, Nguyễn Hoành Khung, Trần ĐÌ11Ỉ1 Hượu, Phan Cự Đệ
cũng đã ca ngợi sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ một cách nhiệt thành. Có ngược trở
lại thời gian những năm 30 của thế kỷ này, chúng ta inới thấu hiểu hết được công
lao to lớn của Thế Lữ trong cồng cuộc đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại
hoá và mới hiểu hết được nguyên nhân khiên các đổng nghiệp kính trọng Thế Lữ,
coi ông là" Ông hoàng của chú nghĩa lãng mạn"
Bước sang đầu thế kỷ 20, trên thi đàn Việt Nam thời Pháp thuộc, thơ ca mất
dần sức sống. Thơ ca lúc này dường như đã mất hẳn điểm tựa về tinh thần và vơi
cạn sinh lực bên trong.
Tản Đà, người dại biểu XIIAÌ sắc cuối cùng của liền lliơ cũ, lííc bấy giờ (in
không còn làm thơ nữa. Thơ Tản Đà khép lại một thời kỳ và cũng dự báo cho một
thời kỳ đang tới. Còn lại trên thi đàn chỉ là những bài thơ thù tạc nặng tính ước lệ và
khuôn sáo như lời một nhà nghiên cứu đã nhận xét:

mới ý tưởng (Theo tài liệu báo Phong Hoá).
Nói đến vai trò của Thế Lữ trong công cuộc hiện đại hoá văn học Việt Nam
giai đoạn 1930-1945, trước hết, chúng ta cần phải khẳng định sức mạnh của những
bài viết của ông trên báo chí nhằm cổ vũ cho phong trào thơ mới.
12
Thời điểm văn học lãng mạn Việt Nam ra đời cũng là thời điểm của những
cuộc tranh luận càng ngày càng quyết liệt của hai trường phái Thơ cũ và Thơ mới
trên báo chí. Những người phán dối thơ mới cũng đông không kém những người ủng
hộ. Các nhà (hơ mới ở giai đoạn đầu lừ Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị
Kiêm đến Thế Lữ đều không ngại ngần đăng đàn diễn thuyết, tranh luận lên án thơ
cũ và hết lời ca ngợi thơ mới.
Năm 1935, nhân phê bình tập thơ "Những bông hoa cuối mùa" Thế Lữ đã lên
tiếng bài xích thơ cũ :"Các ông khen âm điệu lliơ cũ thánh thót âm thầm như tiêng
đàn năm cung. Không ai cãi lại hai ông, nhưng tiếc rằng khi nghĩ đến tiếng đàn,các
ông lại nghĩ đến tính tình của người khác, xúc dộng bằng tâm hồn của người khác vì
trong lòng các ông không có một XÍIC cảm riêng nào Cái tài của các ông là cái tài
xào nấu lại những món ăn cũ. Các ông lấy lời văn, ý tưởng, tình cảm của người khác
làm của mình. Trong thơ các ông đầy dẫy các cánh tuyết, mai, thông, cúc, chỉ quanh
quẩn ở những điển tích mà đã mấy nghìn lần người ta nhắc đến, nghe quen tai
quá".(17, 11)
Và để trả lời những người buộc tội thơ mới bất chấp mọi luật lệ, Thế Lữ dã
viết: " Các ông không biết rằng thơ bao giờ cũng phải có luật. Không phải cái luật
hẹp hòi hạn câu chọn chữ là một lối rất tiện cho những ngưới khúm núm thi thố cái
tiểu xảo của mình . Nhưng thơ phái có thứ luật cao siêu hơn, thiêng liêng hơn: mình
biểu lộ cảm tường, tâm trạng mình một cách êm ái, tha thiết hay hùng Iráng du
dương cái bản lĩnh của riêng mình , không bao giờ chịu theo tư tưởng tình cảm của
người khác" ( Phong Hoá số 148, tháng 5 năm 1935) I 17, 16].
Cuộc tranh cãi giữa thơ cũ và thơ mới kéo dài đến 4 bốn năm sau đó mới kết
thúc. Những lời lẽ của Thế Lữ nhằm cổ vũ cho phong trào ihơ mới lất có giá trị về
mặt lý luận. Ông đã góp phần không nhỏ cho sự thắng lợi của văn học lãng mạn trên

động và cảm xúc của con người trước cuộc sống dược bộc lộ một cách chân tình và
tự nhiên. Nhưng cái quan niệm" văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí" của Nho gia trong
thơ cổ đã lấn át hoàn toàn bản ngã tlìi gia ấy." Ngông " cái ngông của nhà nho tài tử
đến như Tản Đà cũng chỉ dừng lại ở mức đưa ra một quan niệm rằng văn chương có
hai loại là " văn có ích" và " văn chơi". Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị
14
Manh Manh - những tác giả cho ra đời những bài thơ phá thể đầu tiên thì cũng chí
là để cố gắng phá bỏ cái niêm luật khắt khe gò bó từ ngàn đời ấy thôi mà chưa đưa
ra được một tiêu chí cụ thể nào cho thơ mới. Còn Thế Lữ , ông chính là nhà thơ mới
đầu tiên dám khẳng định bán ngã thi gia ấy một cách quyết liệt.
Bài thơ "Cây đàn muôn điệu", vì thế, được coi như một tuyên ngôn nghệ thuật của
thi nhân.
Có thể nói, thành công đẩu tiên mà tác giả" Mấy ván thơ " đã làm được chính
là sự đổi mới cảm hứng thơ về thiên nhiên, tình yêu và cảm quail lịch sử xã hội .
Trong thơ cổ, để tạo nên phẩm chất" thi trung hữu hoạ" các nhà thơ đã đưa vào
những hình ảnh tĩnh tại với " Phong, vân, tuyết, nguyệt". Đây là những hình ánh rất
đẹp trong thế giới thiên tạo nhưng chúng dần dần trở nên đơn điệu, nhàm chán bới
các thi nhân cổ đã quá lạm dụng. Ngược lại, thiên nhiên trong thơ mới là thiên nhiên
muôn màu của trần gian, của vũ trụ bao la và chúng luôn vận động chuyển biến
khôn lường theo mạch cảm xúc chủ đề sáng taọ. Những bài thơ của Thế Lữ như
"Tiếng sáo thiên thai', " Tiếng trúc luyệt vời", "Vẻ đẹp thoáng qua" được coi là
những "chuẩn mực" về thơ thiên nhiên trong thư mới. Thế Lữ là người dã tạo ra
được những bức tranh thiên nhiên dẹp nhuốm đầy màu sắc tâm trạng và được cá thể
lioấ rõ nét. Đặc biệt, bức tranh thiên nhiên trong IhơThế Lữ càng trỏ' nen sống dộng
hơn bao giờ hết với hình ảnh cô sơn nữ yêu kiều và cũng rất mực đa tình." Cô em"
miền sơn cước trong thơ Thế Lữ là sự gợi 1T1Ở cho hình ảnh cô thiếu nữ trong thơ
Xuân Diệu, cô thôn nữ trong thơ Hàn Mạc Tử, cô hàng xóm trong thơ Nguyễn
Bính
Có thể nói, Thế Lữ đã dua vào thi ca Việt Nam những bức tranh thiên nhiên
vừa đẹp lại vừa sống động, thoát ra khỏi sự tĩnh tại đến trống vắng cô liêu trong thơ

mây, như khói.
Tình yêu trong thơ Thế Lữ thường bay bổng, nhởn nhơ như thế. Thế Lữ
dường như chỉ muốn thưởng thức, muốn yêu cái đẹp nói chung chứ không phai mội
tình yêu cụ thể nào. Thi nhân không gọi người đẹp là "Em" mà là "Cô em" nghe
"thân mật mà vẫn xa cách,tình tứ mà thiếu mặn nồng "|44, 12].
16
Dường như tâm hổn nghệ sĩ trong Thế Lữ cỉành cho giai nhân và cho nghệ
thuật niềm say đắm ngang nhau nên trong thơ ông thường xuất hiện hình ảnh Nàng
thơ vừa hư vừa thực.
Dù tình yêu trong thơ Thế Lữ có triền miên trong côi mộng, trong cảnh tiên
thì ý thơ của ông vẫn rất thực. Người đọc thơ Thê Lữ vẫn dễ dàng nhạn thấy sự gần
gũi của những tình yêu "tiên" ấy giữa cuộc đời này.
Nổi bật lên trong những bài thơ về tình yêu của Thế Lữ là hình ảnh khách
chinh phu. Ớ đây, người chinh phu luôn đứng giữa hai tiếng gọi: Tiếng gọi của tình
yêu và tiếng gọi của non sông đất nước. Cả hai tiếng gọi ấy đều nồng nàn thắm thiết
như nhau, đều buộc khách chinh phu phải lựa chọn dứt khoát. Nhưng cuối cùng,
tiếng gọi êm ái thiết tha của tình yêu vẫn không I1ÍU kéo được bước chân chinh phu
bởi chàng đã quyết ra đi vì nghĩa lớn.
Trong thi phẩm "Mấy vần thơ ", hình ảnh con mãnh thú bị giam cầm và hình
ảnh khách chinh phu "dấn bước chuân chuyên khắp hải hổ" được nhiều nhà nghiên
cứu đề cập đến. Đọc bài "Lời con hổ trong vườn bách thú", người ta dễ liên hệ đến
những thân phận bị sống trong xiềng xích, bị cướp mất tự do, bị trói buộc hành hạ
đủ đường của những nhà yêu nước thời Pháp thuộc. Cái quá khứ oai hùng của con
hổ trước lúc bị giam cầm cũng rất dễ làm cho người ta liên tưởng đến cái quá khứ
oai hùng của cha ông.
Nhưng cả hai hình ảnh trên liệu đã đủ chứng minh rằng Thế Lữ là người thấu
hiểu thời cuộc? Rằng khách chinh phu trong thơ ông đang quyết lâm ra đi làm cách
mạng? Không ai có thể khẳng định rõ điều đó. Chí có điều chắc chắn là trong hoàn
cảnh cụ thể lúc bấy giờ, những bài thơ trên đây vẫn là sự khơi nguồn đáng quí cho
những tâm tư đang ở ngã ba đường. Sau này, người ta thấy hình ảnh khách chinh phu

nhũng hình ảnh, ngôn ngữ" tân kỳ" của thơ ca phương Tây. Thế Lữ đã có một sự
cách tân bạo dạn về hình thức thơ từ cách ngắt câu, chấm câu cho đến việc để cho
câu thơ trên quàng xuống câu thơ dưới
Thế Lữ không chỉ là một thi sĩ có biệt tài mà ông còn là một tấc gia vãn xuôi
đầy ấn tượng, về tiểu thuyết, Thế Lữ thường lập trung viết ờ hai thể loại: truyện
trinh thám và truyện ghê sợ rùng rợn.
18
Trong khi các tiểu thuyết gia vãn học hiện thực phê phán như Ngồ Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng, Nam Cao đang trực tiếp dùng ngòi bút của mình để phơi bày sự xấu
xa, thối nát của xã hội thực dân nửa phong kiến đang đè nặng lên tâm hồn và thế xác
những người dân lương thiện, trong khi các tấc giả văn xuôi Tự lực văn đoàn đang
tập trung miêu tả nhũng câu chuyện tình ngang trái do nề thói phong kiến cổ hủ gây
ra thì Thế Lữ đã cho ra đời một loạt sáng tác khác hẳn: ông viết truyện trinh thám
và các"truyện lạ" theo kiểu Etga Pô.
Hàng loạt sáng tác của Thế Lữ như "Vằng và máu"(1934), " Bên đường thiên
lôi' (1936), "Lê Phong Phóng viên" (1937) "Mai Hương và Lê Phong:M(1937) " Đòn
hẹn"(1939), "Gói thuốc lá"(1940), " Gió trăng ngàn"(1941), " Trại Bồ Tùng Linh"
(1941) đã gây được một tiêng vang lớn. Những sáng tác này cho chúng ta thấy
Thế Lữ là một nhà văn có tài quan sát, có óc phân tích sắc bén, có trí tưởng tượng
dổi dào.
Mới nghe những cái tên mà Thế Lữ đặt cho câu chuyện "Vàng vàmáu", "Bên
đường thiên lôi", " Cái đầu lâu " người ta tưởng rằng đây chỉ là những chuyện
hoang đường, ma quái. Đúng là tác giả đã cố tình gây nên trong truyện một không
khí rờn rợn, ly kỳ, huyền bí, chủ tâm dưa người dọc vào một thế giới đầy bất ngờ, bí
ẩn. Nhưng cuối cùng, người dọc sẽ chang thấy có thần linh ma quỷ nào cả* chẳng
qua đó chỉ là n h ữ n g mưu mô xảo quyệt của người dời hay do trí tưởng tượng bệnh
hoạn hoặc bị ám ảnh của người đời tạo nên mà thôi. Tất cả nhũng chuyện ly kỳ, giật
gân kia đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc tâm sinh lý.
So với những tác phẩm văn xuôi truyền thống và những tiểu thuyết cùng thời,
tiểu thuyết của Thế Lữ đã gây được một ấn tượng đặc biệt trong lòng người đọc. Vói

" Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược dể vui chơi;
Tim cảm giác hay trong tiếng khóc, câu cười;
Trong lúc gian lao, trong giờ sung sướng
Khi phấn đấu cũng như hổi I11Ơ tưởng.
Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm than,
Cảnh thương tâm, ghê gớm, hay dịu dàng,
Cảnh rực rỡ, ái ân hay dữ dội.
Anh dù bảo: Tính tình tôi hay đổi,
Không chuyên tâm,không chủ nghĩa, nhưng cần chi, ?
Tôi chỉ là một khách tình si
Ham cái đẹp có muôn hình, miiôn'tề£-
Mượn lây bút nàng Ly Tao, tôi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca.
Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngay thơ
Cũng như vẻ dẹp cao siêu, hùng tráng
Của non nước, của thi vãn, tư tưởng".
( Cây đàn muôn điệu ).
Những câu thơ trên được coi như một "tuyên ngôn" của Thế Lữ cho thơ mới. " Thơ
là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hổn" ( Tố Hữu). Thơ ca muôn đừi vẫn là sự bộc
lộ cảm xúc của chu thể sáng lạo trước con người và lạo vật: " Mây gió cỏ hoa sinh
tươi và kỳ diệu đến đâu hết tháy cũng đều tự trong lòng mình nảy ra" ( Ngô Thì
Nhậm). Là thi sĩ, Thế Lữ chí muốn là "Cây đàn muôn điệu" để ca lên nhưng cảm
xúc của lòng mình. Thế Lữ không phái nén lòng để gò mình vào những sáng tác theo
cái "khuôn" có sẵn " Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí" của Nho gia.
2 2
Chủ nghĩa lãng mạn ra đời là sự đoạn tuyệt với những nguyên lý sáng tác
của Chủ nghĩa cổ điển. Thi nhân lãng mạn là những người mang lại một tiếng nói
mới trên thi đàn, là những người thổi bùng lên khát vọng sống nơi mỗi trái tim con
người bấy lâu bị vùi dập bởi những khuôn tíỉước, luân lý xưa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status