Sự chuyển đổi thi pháp từ ca dao cổ truyền đến ca dao hiện đại - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Hằng Phƣơng

SỰ CHUYỂN ĐỔI THI PHÁP
TỪ CA DAO CỔ TRUYỀN ĐẾN CA DAO
HIỆN ĐẠI

(Trên tư liệu ca dao trữ tình người Việt)

Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số : 50407
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2004 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1.1. Thi pháp, thi pháp học và thi pháp văn học dân gian 13
1.1.1. Thi pháp và thi pháp học 13
1. 1.2. Thi pháp văn học dân gian 15
1.2. Khái niệm ca dao cổ truyền và vấn đề ca dao hiện đại 18
1.2.1. Khái niệm ca dao cổ truyền 18
1.2.2. Vấn đề ca dao hiện đại 19
Chương 2 51
SỰ CHUYỂN ĐỔI ĐỀ TÀI VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO 51
TỪ CA DAO CỔ TRUYỀN ĐẾN CA DAO HIỆN ĐẠI 51
2.1. Đề tài trong ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại 52
2.1.1. Khái niệm đề tài 52
2.1.2. Vấn đề đề tài trong sáng tạo văn học nghệ thuật và việc nghiên cứu nó trong quá trình
tìm hiểu các yếu tố thi pháp của ca dao người Việt 54
2.1.3. Những đề tài có mặt trong ca dao 58
2.2. Cảm hứng chủ đạo trong ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại 78
2.2.1. Khái niệm cảm hứng chủ đạo và việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong văn học nghệ
thuật 78
2.2.2. Cảm hứng chủ đạo trong ca dao 80
Chương 3 93
SỰ CHUYỂN ĐỔI CỦA NHÂN VẬT TRỮ TÌNH 93
TỪ CA DAO CỔ TRUYỀN ĐẾN CA DAO HIỆN ĐẠI 93
3.1. Các khái niệm 94
3.1.1. Khái niệm nhân vật trữ tình 94
3.1.2. Khái niệm nhân vật trữ tình trong ca dao 95
3.2. Những điểm tương đồng và dị biệt về phương diện nhân vật trữ tình giữa ca dao cổ
truyền và ca dao hiện đại 97
3.2.1. Những điểm tương đồng 98
3.2.2. Những điểm dị biệt 107
Chương 4 142
SỰ CHUYỂN ĐỔI NGÔN NGỮ 142

QUY ƢỚC TRÌNH BÀY

1. Về nghĩa của ký hiệu
a. Chữ số Ả rập (1,2,3…) đứng ở bên trái mỗi lời ca dao cổ truyền là số
thứ tự của lời đó trong bộ Kho tàng… đồng thời là tên gọi của lời khi kết hợp
với chữ cái đầu của lời ca dao; đứng ở bên trái mỗi lời ca dao hiện đại là số thứ
tự của lời đó trong sách trích dẫn.
b. Sau mỗi lời ca dao cổ truyền:
Chúng tôi lấy nguyên văn các chú thích về xuất xứ mỗi lời ca dao in trong
bộ Kho tàng (chỉ dựng bản chớnh nờn chỉ ghi xuất xứ bản chớnh)
- Các chữ cái là tên sách (viết tắt) được dùng để tập hợp ca dao vào bộ
Kho tàng
- Cỏc chữ số La mó là tờn tập và quyển sỏch
- Các chữ số Ả rập là tên trang sách có ghi lời đó
Vớ dụ: 1. Ai ăn cau cƣới thỡ đền
Tuổi em cũn bộ chƣa nên lấy chồng
HPV164 NASLI22b NGCK 118b TCBDI199 TNPDI 17
Như vậy, lời ca dao A1 ở trên có 1 bản chính được ghi trong 5 sách: Hát
phường vải, trang 164; Nam âm sự loại, tập I, trang 22b; Nam giao cổ kim lý
hạng ca dao chỳ giải, trang 118b; Thi ca bỡnh dõn Việt Nam, tập I, trang 199;
Tục ngữ phong dao, tập I, trang 17.
Riờng 3 cuốn sỏch Tục ngữ và dõn ca Việt Nam (Tục ngữ ca dao dõn ca
Việt Nam) thỡ cú ký hiệu riờng, sẽ trỡnh bày cựng với bảng chữ tắt sau:
1. ANPT An Nam phong thổ thoại
2. CDTCM Ca dao trước cách mạng
3. CDTH Ca dao sưu tầm ở Thanh Hóa
4. CVPD Cổ Việt phong dao

Sau đây là bảng chữ viết tắt:
1. CDCMCN t. ba Ca dao chống Mỹ cứu nước tập ba
2. CDCMCN t. IV Ca dao chống Mỹ cứu nước tập IV
3. CDVN 1945-1975 Ca dao Việt Nam 1945-1975
4. CDST từ 1945 đến nay Ca dao sưu tầm từ 1945 đến nay
5. CHOGLD Cụ Hồ ở giữa lũng dõn
2. Về quy ước dùng ký hiệu
Cỏc ký hiệu thụng bỏo về xuất xứ của ca dao cổ truyền và ca dao hiện đại chỉ
áp dụng trong trường hợp những lời trích dẫn ca dao rút từ các cuốn sách.
Trường hợp các lời ca dao nằm trong phần trích dẫn nguyên văn một ý kiến nào
đó hoặc lấy từ các bài viết lẻ, chúng tôi dùng chú thích (tra ở phần tài liệu tham
khảo) để chỉ dẫn xuất xứ.
Vớ dụ:Lời ca dao Ch 211 sau rỳt từ bộ Kho tàng, chỳng tụi thụng bỏo xuất
xứ bằng ký hiệu:
211. Chẳng tham vựa lúa anh đầy
Tham năm ba chữ cho tày thế gian
TCBDI503 TCBDIII 146 TNDI 85
Cũn lời ca dao sau lấy từ một bài viết, chỳng tụi dựng chỳ thích để chỉ dẫn
xuất xứ:
Cỏn bộ lỏt chun lỏt hoa
Chỳng em nỏt da nỏt cổ. [92.46 ]

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
SỰ CHUYỂN ĐỔI THI PHÁP TỪ CA DAO CỔ TRUYỀN
ĐẾN CA DAO HIỆN ĐẠI
Suy cho cùng, nghiên cứu khoa học là nhằm thoả mãn những nhu cầu về

thể bao hàm mọi cách hiểu rộng, hẹp khác nhau nhất về thi pháp và thi pháp
học”[143.57]. Aritxtôt (384 - 322 tr.CN) - nhà bác học và triết học Hylạp cổ đại
trong cuốn Thi pháp học đã xác định thi pháp học là khoa học nghiên cứu về
nghệ thuật thi ca như là một nghệ thuật. Sau ông, các nhà thi pháp học vẫn tiếp
tục duy trì truyền thống nghiên cứu đó.
Ở Nga, các nhà nghiên cứu đã có những phát biểu chính thức về thi pháp
học qua các công trình của mình. Chẳng hạn, V. Zhirmunsky trong Nhiệm vụ
của thi pháp học (1919 - 1923) viết: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn
học như là một nghệ thuật”. V. V. Vinôgradov (1963) cũng nêu định nghĩa: “Thi
pháp học là khoa học “về các hình thức, các thể, các phương tiện, phương thức
sáng tạo nghệ thuật ngôn ngữ, về các kiểu cấu trúc, các thể loại tác phẩm văn
học C. Khráptrencô - một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái thi
pháp học lịch sử ở Liên Xô viết: “Không hề kỳ vọng một định nghĩa thật đầy đủ,
thật bao quát, tôi cho rằng có thể xác định thi pháp học như môn khoa học
nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật,
khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [70.242]. Có thể nói, đây là một trong
những định nghĩa tổng quát nhất và thuyết phục nhất về thi pháp học [34.298].
Các nhà nghiên cứu phương Tây xem ra ưa những đối tượng nghiên cứu cụ
thể hơn. R. Jakobson (1960), từ góc độ ngôn ngữ học xác định nhiệm vụ thi
pháp học là “nghiên cứu chức năng thơ của phát ngôn thơ”. TS. Todoror (1973)
thì coi đối tượng của thi pháp học là các “thuộc tính đặc trưng của ngôn từ văn
học”, “các quy luật chung của sự tồn tại của văn học”. Cũng có khi, thi pháp học
được thu hẹp trong một thể loại thi ca, chẳng hạn Từ điển thuật ngữ phê bình
văn học phƣơng Tây hiểu thi pháp học là: “hệ thống lý luận hay học thuyết lấy
thơ làm đối tượng nghiên cứu để khám phá các quy tắc và nguyên tắc sáng tác
thi ca”. Trong công trình Việt Nam văn học sử yếu của nhà nghiên cứu Dương
Quảng Hàm (Việt Nam) hoặc trong công trình Thi pháp học khái thuật của
Trương Tư Tự (Trung Quốc), thi pháp học còn được hiểu thu hẹp hơn, chỉ là hệ
thống phép tắc, cách luật của thơ [143.58].
Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã vận dụng những vấn đề lý luận trên vào

Crapxốp (1906-1980) - nhà pholklore học Xô viết cho rằng: “Thi pháp với
tư cách là tổng hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật của các tác phẩm ngôn
từ bao gồm:
a. Những đặc điểm của cấu trúc tác phẩm;
b. Hệ thống những phương tiện phản ánh, nhờ những phương tiện này mà
văn học viết và văn học dân gian xây dựng những bức tranh về cuộc sống,
những hình tượng về con người và tái tạo những hiện tượng khác nhau của thực
tại (các sự kiện lịch sử; sinh hoạt và đạo đức của con người; thiên nhiên);
c. Những chức năng tư tưởng thẩm mỹ của cấu trúc tác phẩm và những
chức năng tư tưởng thẩm mĩ của các phương tiện thể hiện tác phẩm (sự thể hiện
một cách xúc cảm trước hiện thực, sự đánh giá những sự kiện và hành vi của
nhân vật, sự khám phá ý đồ sáng tạo cùng giá trị tư tưởng nghệ thuật và tay nghề
sáng tạo ra tác phẩm) [Dẫn theo 81. 27-28].
Crapxốp còn cho rằng văn học dân gian và văn học viết có cái chung,
nhưng đồng thời văn học dân gian có đặc điểm riêng là sáng tạo của quần chúng
nhân dân. Ông lại chỉ ra rằng, thi pháp văn học dân gian còn là những đặc điểm
của hình thức, của cách thức thể hiện và biểu hiện riêng của từng nghệ nhân.
Cuối cùng thi pháp bao gồm cả những đặc điểm của dân tộc [Dẫn theo 81.28].
Như vậy, tuy chưa chính thức định nghĩa về thi pháp văn học dân gian
song Crapxốp đã có ý thức phân biệt sự khác nhau giữa thi pháp văn học viết và
thi pháp văn học dân gian khi đưa ra khái niệm thi pháp. Có thể nói, Crapxốp đã
gián tiếp phát biểu định nghĩa thi pháp văn học dân gian và thực chất, khái niệm
thi pháp văn học dân gian đã được nhà folklore học Xô viết này xác định.
Chu Xuân Diên trong bài viết Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân
gian cũng đã khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu thi pháp văn học
dân gian và định nghĩa như sau:
“Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ
thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt
truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người Việc nghiên cứu thi
pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ

hệ chủ đề, đề tài, chức năng và đặc điểm thi pháp đều đã được minh định. Các
nghiên cứu về ca dao cổ truyền của giới khoa học nước ta trong đó có nhiều nhà
folklore học không những đã khẳng định sự tồn tại của thể loại ca dao mà còn
xác nhận rằng có thi pháp ca dao. Tất cả những điều đó đã tạo nên một quan
niệm khá nhất quán về ca dao cổ truyền. Tuy nhiên, khái niệm ca dao cổ truyền
vẫn cần được thống nhất cách hiểu.
Thuật ngữ ca dao đã từng được dùng với nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
Theo nghĩa gốc thì “ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc
điệu” [180. 26].
Và một thời “ca dao là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành
phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu” [180. 26]. Ở trường hợp
này, ca dao đồng nghĩa với dân ca.
Trên thực tế, nội hàm khái niệm ca dao đã dần dần có sự thu hẹp. Hiện nay,
các nhà nghiên cứu cơ bản thống nhất “dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành
phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm,
tiếng láy, tiếng đưa hơi)” [180. 26]. Với nghĩa này, ca dao là bộ phận chủ yếu và
quan trọng nhất của thơ dân gian truyền thống. Thí dụ lời ca dao: Còn duyên kể
đón ngƣời đƣa / Hết duyên đi sớm về trƣa mặc lòng được xem là rút ra từ bài
dân ca quan họ Bắc Ninh Còn duyên với những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa
hơi như sau: Còn duyên (là duyên) kẻ đón (kẻ đón) người đưa. Hết duyên (là
duyên) đi sớm (đi sớm) về trưa (chứ trưa) mặc lòng. Người còn không đôi tôi
cũng (ố không là) còn không, (Ha hội ha, hư hội hư là hứ hội hừ),
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giới nghiên cứu nước ta đã sử dụng
tập hợp từ ca dao hiện đại (hay ca dao mới) để phân biệt với ca dao cổ truyền
(còn gọi là ca dao cổ).
Như vậy, ca dao cổ truyền (hay ca dao cổ) là khái niệm chỉ riêng thành
phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể tiếng đệm, tiếng
láy, tiếng đƣa hơi) đƣợc sáng tác và sƣu tầm chủ yếu từ Cách mạng Tháng Tám
trở về trƣớc.
1.2.2. Vấn đề ca dao hiện đại

Phan [134], Chu Xuân Diên [26], Trần Đức Các [5], Nguyễn Văn Diệu [29],
Nguyễn Tấn Đắc [32], Trần Quốc Vượng [185], Trần Gia Linh [92]. Cao Huy
Đỉnh [37], Đặng Văn Lung [93] đều khẳng định sự tồn tại của văn học dân gian
hiện đại và vai trò của nó trong đời sống xã hội hiện nay.
Có thể nói, trong những sáng tác dân gian hiện đại, ca dao là một thể loại
khá tiêu biểu, có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Theo giới thuyết ở phần
mở đầu, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu những lời ca dao hiện đại được sáng tác
và sưu tầm từ 1945 đến 1975. Từ 1975 đến nay vì những lý do chủ quan và
khách quan, phong trào sáng tác cũng như công tác sưu tầm, nghiên cứu bộ phận
ca dao mới này còn nhiều điều bất cập.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã mở ra một kỷ nguyên mới-
kỷ nguyên độc lập dân tộc- tạo điều kiện cho xã hội Việt Nam phát triển về mọi
mặt, trong đó có sự phát triển của khoa học Văn học dân gian. Tất nhiên, sự phát
triển của khoa học văn học dân gian nằm trong sự phát triển chung của toàn bộ
nền văn hoá mới, trên cơ sở ba nguyên tắc dân tộc hoá, đại chúng hoá và khoa
học hóa mà Đảng ta đã đề ra trong bản Đề cƣơng văn hoá Việt Nam năm 1943.
Thực ra, môn khoa học nghiên cứu thực sự có tính chất khoa học về văn
học dân gian được ra đời, phát triển trên cơ sở những sáng tạo văn hoá văn nghệ
dân gian và những thành tựu của việc sưu tầm, giới thiệu, nghiên cứu vốn văn
hoá văn nghệ đó Vậy, cùng với những sáng tạo văn hoá văn nghệ dân gian, thể
loại ca dao ở giai đoạn lịch sử mới này tồn tại và phát triển như thế nào?
Từ năm 1945 đến 1954 - một năm sau cách mạng và suốt chín năm kháng
chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương “cách mạng hoá tư tưởng,
quần chúng hoá sinh hoạt” do Đảng phát động, các nhà văn hoá và văn nghệ sĩ
trong những đợt đi thâm nhập thực tế “đã có dịp được chứng kiến một sự phát
triển rầm rộ và phong phú của phong trào văn nghệ quần chúng”[25.87]. Cùng
với các thể loại khác của sáng tác dân gian, ca dao trong thời kỳ này xuất hiện
dưới những hình thức hết sức sáng tạo và độc đáo: “ca dao dán trên báng súng,
tông dao, lưỡi mác, bi đông, nồi chảo, ba lô, viết trên tường, trong lòng máng
tre, “đi theo” chiếc đòn gánh của anh nuôi gánh cơm ra trận địa”[25. 88].

cách thức sáng tác, sưu tầm ca dao cho quần chúng, nhất là các chiến sĩ ngoài
mặt trận. Chẳng hạn, trong cuốn Ca dao chống Mỹ cứu nƣớc tập ba, Nhà xuất
bản ghi: “Chúng tôi xin mách nước với các đồng chí là nên thuộc thật nhiều ca
dao truyền thống, học lấy cách suy nghĩ bằng hình tượng của nhân dân lao động,
học lấy lời ăn tiếng nói của nhân dân, học cả lối biểu hiện nữa”. [11.69] Ban
biên tập còn phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật một lời ca dao tiêu biểu
có nội dung chống Mỹ với nhan đề: “Cần thêm rất nhiều thơ ca căm thù như
thế”. Như vậy, rõ ràng dù đây là phong trào văn hóa văn nghệ không chuyên,
song yêu cầu về chất lượng trong đó có tính tư tưởng là điều mà các nhà xuất
bản hết sức quan tâm. Điều đó còn cho thấy, số lượng ca dao mà ngày nay
chúng ta lưu giữ được cũng mới chỉ là một phần được tuyển chọn từ trong số vô
vàn lời ca dao đã từng ra đời và lưu truyền trong quần chúng.
Sau 1975, các nhà xuất bản vẫn rải rác cho ra đời một số cuốn sưu tập ca
dao mới như: Ca dao Việt Nam (1945-1975), Ca dao chống Mỹ cứu nƣớc chọn
lọc, Cụ Hồ ở giữa lòng dân, Ca dao về Bác Hồ, Ca dao kháng chiến chống
Pháp chọn lọc v.v
Cụ Hồ là vị cha chung, Tháng giêng là tháng lập công, Bao giờ hết cỏ
Tháp Mƣời, Mau lên hỡi bạn xe thồ, Giao thừa cùng hẹn đón xuân, Cƣới xƣa
thách lợn thách vàng, Mình về ta chẳng cho về, Tay cầm vở toán bìa vàng, Hôm
qua đi chợ đƣờng xa, Ai ơi chớ lấy chồng non là một số lời ca dao tiêu biểu ra
đời trong các phong trào sáng tác, sưu tầm thời đó.
Tuy nhiên, hiện tượng sáng tác ca dao như sáng tác thơ không làm mất đi
vai trò quan trọng của việc sáng tạo và diễn xướng ca dao theo phương thức cổ
truyền. Những sinh hoạt tập thể mà các thành viên trong đó dựa trên giai điệu
dân ca cổ truyền để đặt lời mới vẫn xuất hiện trong xã hội hiện đại. Hình thức
văn nghệ phù hợp với hình thái sinh hoạt tập thể như hò tiếp vận, hò đối đáp
cũng vẫn được duy trì và trong những thời điểm lịch sử cụ thể, nó phát triển
thành phong trào ca hát quần chúng rất mạnh mẽ. Những sinh hoạt hò hát vừa
nêu chính là “biến thể trong những điều kiện xã hội mới của các loại hò lao động
và hát đối đáp trước cách mạng” [25.238]. Trong kháng chiến chống Mỹ, phong

lên một câu: Em rằng mìn giỏi nhất min,
Dọa chồng có dọa giật mìn hay không?
Nguyễn Thị Thức liền trả lời ngay:
Mìn kia chị để mở đƣờng
Cho chồng ra trận diệt phƣờng xâm lăng!
Vợ em khuôn phép giỏi giang,
Dạy chồng chắc hẳn cũng không dùng mìn.
Ngà ta đỏ mặt tía tai lên, đành chịu khen: giỏi giỏi, nhưng phải truy cho cô
ta một câu nữa mới được:
Quê em hẳn đất gan gà,
Quả khế thì ngọt, đàn bà thì chua.
Lập tức cậu ta bị Thức dồn luôn:
Có chua mới át mùi tanh,
Quê hƣơng đánh giặc nổi danh Nam Hà.
Có về Kim Bảng cùng ta,
Để biết đàn bà vác giáo đuổi Tây "[Dẫn theo 25. 498]
Đó là những cảnh sinh hoạt văn nghệ, hò hát của quần chúng trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà các tác giả ghi lại được. Còn biết bao
nhiêu lần sinh hoạt văn nghệ, bao nhiêu cuộc hò hát và bao nhiêu lời ca dao, bao
nhiêu dị bản ca dao nảy sinh trong cuộc sống sinh hoạt, chiến đấu, lao động như
thế mà ta chưa sưu tầm lưu giữ được?
Thực tế sáng tác, sưu tầm, xuất bản ca dao ở trên cho thấy, trong giai đoạn
lịch sử hiện đại, ca dao nói riêng, các hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân
gian nói chung vẫn tồn tại và phát triển. Có thể khẳng định rằng, chủ trương văn
nghệ phục vụ cuộc sống lao động và chiến đấu, văn nghệ trở về với cội nguồn
dân tộc của Đảng là nhân tố quan trọng thúc đẩy phong trào văn hoá, văn nghệ
quần chúng, góp phần bảo lưu và phát triển các hình thức sáng tạo văn nghệ dân
gian cổ truyền trong đó có thơ ca. Tuy nhiên, sự tồn tại, phát triển đó trước hết
xuất phát từ nhu cầu và khả năng sáng tạo, thưởng thức văn nghệ của đại bộ
phận quần chúng nhân dân. Nói như nhà thơ Xuân Diệu, đó là sự tồn tại khách

Mỗi ngƣời làm việc bằng hai,
Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe
Mỗi ngƣời làm việc bằng ba,
Để cho chủ nhiệm xây nhà, xây sân. [92.45]
Cũng trong thời kinh tế bao cấp ấy, những hiện tượng “lật đời” như lời ca
dao sau cũng được đưa vào ca dao:
Thủ kho to hơn thủ trƣởng
Vào nhà thủ trƣởng lại tƣởng thủ kho
[92.46]
Cá biệt có lời ca dao mang âm hưởng tục ngữ, phản ánh mối quan hệ bất
bình đẳng nảy sinh giữa tướng tá và binh lính. Đáng lưu ý là ở chỗ hiện tượng
này tuy không phổ biến nhưng rất thực dù trong thời hiện đại và lời ca dao sử
dụng lối chơi chữ khá độc đáo:
CÁN BỘ LÁT CHUN LÁT HOA
CHÖNG EM NÁT DA NÁT CỔ
[92.46].
Trong xã hội hiện đại, nhiều lời ca dao lưu truyền trong dân gian, tuy chưa
được sưu tầm, xuất bản, song nó thực sự là những tác phẩm gây được sự chú ý
của công chúng tiếp nhận và là những bài học nhân sinh sâu sắc hoặc những
“liều thuốc trường sinh" không phải mua bằng tiền bạc.
Đó là những lời châm biếm nhẹ nhàng nhưng thâm thúy sâu cay kiểu người
muốn làm ra vẻ khác đời như trường hợp là thi sĩ sau:
Nhà thơ là phải đánh răng
Mặc quần áo mới và năng gội đầu.
Có lẽ, chính cuộc sống khó khăn, thiếu thốn về vật chất trong giai đoạn
chuyển đổi nền kinh tế thị trường đã sản sinh ra những tác phẩm truyền miệng
kiểu như lời ca dao sau. Cùng với nội dung mang tính hài hước, điều thú vị là lời
ca dao này sử dụng khá linh hoạt thể thơ lục bát và đã có dị bản:
Vợ mình là con ngƣời ta,
Con mình do vợ đẻ ra,

chứng tỏ lời ca dao này đã vận động theo quy luật sáng tạo của tác phẩm dân
gian và thực sự gây được hứng thú đối với chủ thể sáng tạo và công chúng tiếp
nhận. Từ cách nói hình ảnh “nồi nào vung ấy” trong văn học dân gian truyền
thống, các tác giả hiện đại đã đưa ra ít nhất hai tình huống không mấy dễ chịu
mà những người không may mắn có được sự hoàn thiện trời cho trong cuộc đời
thường gặp phải.
Một số người hay thơ, làm thơ “theo kiểu dân gian” cũng là hiện tượng đáng
lưu ý. Bút Tre Đặng Văn Đăng là một trong những người làm thơ như thế. Ông
có một số tập thơ xuất bản vào những năm 60 và đã từng bị phê là có nhiều câu
nôm na, tự nhiên chủ nghĩa. Thơ ông nôm na. Điều ấy ông công nhận. Nhưng
theo ông, đó là những tác phẩm viết ra để tuyên truyền chủ trương chính sách
của Đảng [184.8]. Điều thú vị là từ khi những vần thơ nôm na và cái bút danh
Bút Tre ra đời, nhiều vần thơ “dán nhãn” Bút Tre được xuất bản miệng khắp nơi.
Vậy chính ông - Bút Tre Đặng Văn Đăng đã khơi nguồn cho phong trào sáng tác
và truyền khẩu thơ ca từ những năm 60 của thế kỷ XX đến những ngày này của
thế kỷ XXI. Những vần thơ “dán nhãn” Bút Tre mà dân gian xuất bản miệng ấy
nên chăng có thể sưu tầm và xếp vào bộ phận ca dao hiện đại cho dù nó có “ngồ
ngộ” hay đôi khi “ngô nghê” đi nữa; bởi đâu phải cứ văn học nghệ thuật là phải
cực hay? Ngay văn học chuyên nghiệp cũng có hiện tượng những tác phẩm chưa
hay bên cạnh những tác phẩm tuyệt diệu. Và biết đâu, cái ngồ ngộ, ngô nghê ấy
là dụng ý, là một biện pháp của nghệ thuật trào phúng mới? Quần chúng nhân
dân trong thời kỳ hiện đại có cả công nhân, trí thức mà chẳng lẽ không thể chỉnh
cho những câu ca sau “chính danh" hơn, đúng “phép tắc ngữ nghĩa” hơn:
Chú về công tác bảo tàng,
Cũng là công việc cách màng giao cho.
Hay: - Hôm nay trời nhẹ mây cao
Anh Ga ga rỉn bay vào vũ tru (trụ).
Hoặc : - Anh đi công tác Buôn Mê,
Thuột xong một cái lại về cùng em.
v.v


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status