Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––
LÊ THỊ PHƯƠNG

SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA
ĐẶNG THAI MAI LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN KHÁNH THÀNH Hà Nội - 2010

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Cấu trúc luận văn 12
Chương 1: ĐÓNG GÓP CỦA ĐẶNG THAI MAI VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC 13
1.1. Công trình Văn học khái luận 13
1.2. Những tiểu luận khác 24

văn hoá nước nhà.
Đặng Thai Mai sinh ngày 25-12-1902 tại làng Lương Điền (nay là xã
Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, mất ngày 25-9-1984 tại
Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình Nho học có truyền thống yêu nước
và hiếu học “đi qua tuổi thơ trong sự thiếu vắng cha mẹ và những nơm nớp lo
âu, vì bị chính quyền thực dân Pháp liệt vào hàng “Cừu gia tử đệ”, luôn bị “để
ý theo dõi” [27, tr. 66]. Đặng Thai Mai hoạt động trên nhiều lĩnh vực, từng là
Bộ trưởng Bộ Giáo dục, là Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh Thanh Hoá và đã
từng giữ nhiều trọng trách khác trong chính quyền Cách mạng nhưng dấu ấn
sâu đậm nhất mà Đặng Thai Mai để lại là nhà sư phạm mẫu mực suốt đời say
mê “truyền giáo” và là một nhà nghiên cứu văn học tài hoa uyên bác. Trong
sự nghiệp giáo dục, Giáo sư Đặng Thai Mai là tấm gương sáng về một người
thầy được nhiều thế hệ tôn vinh là “bậc sư biểu quốc gia”. Với 50 năm tận
tâm dạy dỗ, Giáo sư Đặng Thai Mai đã đào tạo được hàng chục thế hệ học trò
góp phần làm nên diện mạo văn hoá nước nhà. Còn trong lĩnh vực nghiên cứu
văn học, ông cũng được tôn vinh “bậc thầy”, là người mở đường, đắp móng
cho nhiều chuyên ngành nghiên cứu văn học như lý luận văn học, nghiên cứu
văn học Trung Quốc hiện đại, lịch sử văn học Việt Nam cận hiện đại. Tình
cảm yêu nước mãnh liệt, phẩm chất nhân văn giàu có, niềm say mê văn học
và tài năng thiên phú đã giúp ông trở thành nhà lý luận, phê bình, nghiên cứu
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 1

văn học có uy tín lớn của thế kỷ XX ở Việt Nam. Cả cuộc đời Đặng Thai Mai
dành trọn cho một mục đích duy nhất: phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Say mê văn chương từ nhỏ nhưng Đặng Thai Mai bước vào con đường
sáng tác và nghiên cứu văn chương hơi muộn. Ngoài 30 tuổi ông mới viết và
cho đăng tải những bài đầu tiên bằng tiếng Pháp với nhiều bút danh khác nhau
như Thanh Tuyền, Thanh Bình… trên các tờ báo của Đảng Cộng sản Đông
Dương như Lao động (Le Travail), Tiến lên (En avant), Tập hợp

viết về các sáng tác của Xécvăngtét, Sếchxpia như bài viết về Kỷ niệm 350
năm Tập truyện nhà Kỵ sĩ Đông Kisốt (1955-1960), bài viết trong lễ kỷ niệm
400 năm ngày sinh của Sếchxpia (1964)…
Thông kim bác cổ, am hiểu Đông Tây, nhưng mục đích cuối cùng Đặng
Thai Mai hướng tới là nghiên cứu văn học Việt Nam. Những trang viết của
Đặng Thai Mai thể hiện vốn hiểu biết phong phú, sâu rộng trầm tích văn hoá
quê hương đất nước, đặc biệt là văn hoá - văn học dân gian xứ Nghệ. Mặc dù
không viết một bộ lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại nhưng Đặng Thai
Mai có những bài viết quan trọng, có tính chất gợi mở cho các nhà nghiên cứu
về sau. Nổi bật và có giá trị nhất trong các công trình nghiên cứu văn học
trung đại Việt Nam của Đặng Thai Mai phải kể đến Giảng văn “Chinh phụ
ngâm” - cuốn sách “có một giá trị đặc biệt về kiến thức và phương pháp” [27,
tr. 307], Văn thơ Phan Bội Châu (1958) - công trình “vừa là khoa học vừa là
văn chương” [27, tr. 327] và Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX
1900-1925 (1961) - “bức tranh toàn cảnh văn học cách mạng từ phong trào
Cần vương, Duy tân đến Đông Kinh nghĩa thục” [27, tr. 36].
Ngòi bút tinh tế và sắc sảo của Đặng Thai Mai còn hướng đến văn học
hiện đại Việt Nam. Ông nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh, đăc biệt là khám phá
Tình cảm thiên nhiên trong “Ngục trung nhật ký” (1970), Đọc lại “Ngục
trung nhật ký” (1970), Suy nghĩ về yếu tố tinh thần trong “Ngục trung nhật
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 3

ký” (1975)… Ông còn tìm hiểu thơ Tố Hữu - lá cờ đầu của thơ ca cách mạng
Việt Nam với những bài viết đầy nhiệt huyết và say mê: Lời giới thiệu tập thơ
“Từ ấy” (1959), Khi nhà nghệ sỹ “tham gia” vào cuộc đấu tranh với tất cả
tâm hồn mình (1963)… Đóng góp của Đặng Thai Mai đối với công tác nghiên
cứu văn học nước nhà còn biểu hiện ở việc ông là một trong những người đầu
tiên quan tâm khám phá mảnh đất văn học miền Nam thời kỳ tạm chiếm.
Những nhận định của ông trong các bài viết Văn học miền Nam dưới chế độ

về quan điểm, tư tưởng, có chiều sâu học thuật, bút pháp diễn tả độc đáo và có
sức “nặng” ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn học Việt Nam. Những công
trình nghiên cứu của ông không chỉ có giá trị thời đại mà còn có giá trị lịch sử
to lớn. Tìm hiểu sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai một lần
nữa chúng tôi muốn ghi nhận và khẳng định hơn nữa vai trò, vị trí của ông đối
với nền văn học nước nhà nói chung và lĩnh vực nghiên cứu văn học nói
riêng, đồng thời khẳng định một phong cách nghiên cứu độc đáo.
2. Lịch sử vấn đề
Các bài viết về Đặng Thai Mai chủ yếu tập trung vào một số tuyển tập
như: Đặng Thai Mai và văn học, Nhà xuất bản Nghệ An, 1994; Nhớ Đặng
Thai Mai, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2004, và gần đây nhất là Đặng
Thai Mai về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007 do
Trần Khánh Thành tuyển chọn và giới thiệu. Trên cơ sở đó, chúng tôi tóm tắt
lại những luận điểm nhận xét về học giả Đặng Thai Mai như sau:
Đánh giá đóng góp của Đặng Thai Mai đối với sự nghiệp giáo dục:
Những bài viết khẳng định đóng góp của Đặng Thai Mai đối với sự nghiệp
giáo dục đều xuất hiện sau khi ông mất với nhiều Hồi ức và kỷ niệm của
những đồng nghiệp, những học trò và người thân của ông.
Giáo sư Đặng Thai Mai là thầy dạy của rất nhiều học trò, trong đó có
những trí thức tài năng và tâm huyết như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Xiển,
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 5

Nguyễn Xuân Yên, Phan Anh, Phan Mỹ, Phan Trinh Cán, Nguyễn Cao
Luyện, Hoàng Minh Tiệp, Trịnh Hồ Thi, Bùi Kỷ… Những người đã được học
với thầy Đặng Thai Mai đều vô cùng trân trọng, khâm phục tài năng, tâm
huyết và đức độ của thầy. Dù mới ngoài ba mươi tuổi nhưng các nữ sinh
Thăng Long thời đó đã trìu mến gọi thầy là “severe papa” (người cha nghiêm
nghị). Trong bài viết Thầy Đặng Thai Mai ở trường tư thục Thăng Long, ông
Đào Thiện Thi, nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động, học trò cũ của Trường tư

thầy.
Sự kính trọng hết mực đối với nhân cách thầy Đặng Thai Mai còn bao
hàm cả lòng biết ơn sâu sắc đối với tấm lòng nhân ái của Giáo sư, một người
thầy hết lòng thương yêu học trò, đã giúp đỡ về mặt tài chính khi học trò có
khó khăn dù hoàn cảnh gia đình thầy cũng không khá giả gì. Xúc động biết
bao khi đọc những bài viết Tấm lòng của Giáo sư Đặng Thai Mai đối với học
trò của Nguyễn Tài Cẩn, Thầy Đặng Thai Mai - một tấm lòng nhân ái của
Nguyễn Xuân Ngọc.
Những học trò của thầy Mai, dù người trong nước hay người nước
ngoài đều có chung tình cảm trân trọng kính yêu như thế. Giáo sư, Tiến sĩ N.I.
Niculin, Viện sĩ Viện Văn học thế giới Cộng hoà Liên bang Nga trong bài viết
Đặng Thai Mai: con người, nhà khoa học, người thầy, Giáo sư Sáclơ
Phuốcniô với Tưởng nhớ Giáo sư Đặng Thai Mai, Giáo sư Nhan Bảo, Trường
Đại học Bắc Kinh với Tưởng nhớ thầy Mai, Giáo sư Lý Tu Chương, cán bộ
Viện Nghiên cứu Văn học nước ngoài ở Trung Quốc với Tấm gương một
người thầy đều có chung một cái nhìn đầy thiện cảm, niềm kính trọng Giáo sư
Đặng Thai Mai như đối với một học giả đại diện cho học thuật Việt Nam.
Qua những dòng hồi ức và tưởng niệm của học trò và đồng nghiệp,
Giáo sư Đặng Thai Mai được tôn vinh là một nhà sư phạm mẫu mực, tài năng
đức độ, suốt đời say mê cống hiến cho sự nghiệp trồng người của dân tộc.
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 7

Đánh giá đóng góp của Đặng Thai Mai đối với sự nghiệp nghiên
cứu văn học: Vị trí danh dự mà Đặng Thai Mai có được không chỉ trong sự
nghiệp giáo dục. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, ông cũng được tôn vinh
bậc thầy, là nhà học giả uyên bác, có uy tín lớn ở Việt Nam thế kỷ XX.
Đặng Thai Mai nghiên cứu ba nền văn học chính: văn học hiện đại
Trung Quốc, văn học phương Tây, nhất là thời kỳ Phục hưng và đặc biệt là
văn học Việt Nam. Đối với mỗi nền văn học, Đặng Thai Mai đều đưa ra

mà ông sử dụng, đồng thời cũng khẳng định vốn hiểu biết về văn học dân gian
của Đặng Thai Mai là toàn diện, phong phú. Đặc biệt về văn học trung đại và
cận đại, Đặng Thai Mai có những đóng góp quan trọng và đã được nhiều nhà
nghiên cứu khẳng định. Bùi Duy Tân trong bài Đặng Thai Mai với nền văn
học trung đại Việt Nam, Nguyễn Đình Chú trong bài Thế bút Đặng Thai Mai
đối với văn học trung đại Việt Nam, Chương Thâu trong bài Đặng Thai Mai
với việc nghiên cứu Phan Bội Châu đều nhất trí khẳng định những đóng góp
của Đặng Thai Mai.
Giảng văn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Thai Mai là một công trình
được đánh giá cao và được nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo chọn làm mẫu
mực. Các bài viết Nghĩ về Giảng văn “Chinh phụ ngâm” của Đỗ Hữu Châu,
Một số vấn đề lý thuyết giảng văn và thi pháp văn học cổ trong “Giảng văn
Chinh phụ ngâm” của Trần Đình Sử, Đọc lại Giảng văn “Chinh phụ ngâm”
của Hoàng Tuệ đã ghi nhận điều này.
Ngoài ra, Đặng Thai Mai còn có những công trình nghiên cứu văn học
hiện đại Việt Nam. Tác giả Trương Chính với bài viết Đặng Thai Mai và đổi
mới văn học đã ghi nhận đóng góp của ông với nền văn học hiện đại.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu văn học, các công trình về lý
luận văn học của Đặng Thai Mai cũng được nhiều nhà khoa học đánh giá cao.
Hà Minh Đức đã đưa ra nhận xét sau về Văn học khái luận của Đặng Thai
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 9

Mai: “cuốn sách đi vào những vấn đề bản chất nhất, bức thiết nhất của cơ sở
lý luận văn học” [27, tr. 348]. Trần Đình Sử cũng khẳng định Văn học khái
luận là “công trình lý luận văn học đầu tiên” của Việt Nam [27, tr. 343]. Cùng
sự đánh giá tương tự có các bài viết của Phan Cự Đệ: Đặng Thai Mai nhà
nghiên cứu văn học uyên bác, Hà Minh Đức: Phong cách và bút pháp văn
chương Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Khánh: Đôi điều về phong cách một nhà
văn, Đặng Tiến: Phong cách Đặng Thai Mai… Các tác giả đều ghi nhận tài

dựa vào cuốn Đặng Thai Mai toàn tập, gồm hai tập, in tại Nhà xuất bản Văn
học, 2004.
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai là một đề tài mới
mẻ và mang tính gợi mở. Hơn nữa, tài năng và nhân cách Đặng Thai Mai
được nhiều người khẳng định, trân trọng và cảm phục. Đặng Thai Mai lại là
người luôn luôn muốn được tìm hiểu thế giới, tìm hiểu văn chương ở khắp
các lĩnh vực. Do khuôn khổ đề tài và thời gian có hạn, chúng tôi mới chỉ
bước đầu đưa ra những nhận định riêng, tập trung đi vào những tác phẩm
tiêu biểu, chọn lựa những luận điểm tổng quát để khảo sát và phân tích.
Trong quá trình phát triển luận văn chắc hẳn sẽ còn nhiều thiếu sót, rất
mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô cũng như sự chia sẻ
của bạn bè để luận văn thực sự hoàn thiện.
4. Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất của đề tài, trong luận văn này chúng tôi kết hợp sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tổng hợp và đánh giá

Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 11

5. Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 3 chương:
 Chương 1. Đóng góp của Đặng Thai Mai về lý luận văn học
 Chương 2. Đặng Thai Mai với nghiên cứu văn học nước ngoài
 Chương 3. Đặng Thai Mai với nghiên cứu văn học Việt Nam
cờ duy vật trên thành luỹ của vị tướng già duy tâm Phan Khôi và giành ưu thế
cho quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh trong cuộc tranh luận với Hoài Thanh
thì Đặng Thai Mai là người tổng kết lại những luận điểm của Hải Triều bằng
cái học thuật uyên bác của mình” [27, tr. 146]. Trong số các tác phẩm về lý
luận văn học của Đặng Thai Mai, Văn học khái luận được đánh giá cao nhất,
góp phần đặt nền móng cho lý luận văn học Việt Nam.
1.1. Công trình Văn học khái luận
Văn học khái luận là công trình lý luận lần đầu tiên xuất hiện trên Tạp
chí Văn mới số 36 và 37 ra tháng 6 năm 1944, sau đó mấy tháng được in
thành sách do Hàn Thuyên xuất bản. Đây là tập sách được đánh giá thành
công nhất về lý luận văn học của Đặng Thai Mai, là “cuốn sách lý luận văn
học hiện đại theo quan điểm mác xít đầu tiên ở Việt Nam” [27, tr. 30], đặt nền
móng cho rất nhiều tác phẩm lý luận sau này, đồng thời là cơ sở lý thuyết cho
những công trình nghiên cứu văn học.
Nghiên cứu văn học đặt ra cho lý luận văn học những yêu cầu rất khắt
khe, lý luận phải có chuẩn mực, đúng đắn với hiện tại và phù hợp với tương
lai, đồng thời có giá trị sáng tạo lâu bền. Văn học khái luận đã đáp ứng được
những tiêu chuẩn ấy, và do đó “đã nửa thế kỷ qua, từ khi các tác phẩm ra đời,
Văn học khái luận vẫn là cuốn sách hàng đầu của tác giả và là công trình có
giá trị tư tưởng và học thuật” [27, tr. 348].
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 13

Trước khi cuốn sách xuất hiện, trên diễn đàn văn học công khai đã nảy
sinh cuộc tranh luận nghệ thuật rất sôi nổi giữa hai phái “Nghệ thuật vị nghệ
thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” kéo dài từ năm 1935 đến năm 1939. Từ
cuộc tranh luận này, nhiều vấn đề lý luận nghệ thuật được đặt ra như mối
quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống xã hội, thiên chức cao quý và sứ mệnh
thiêng liêng của văn chương, phương hướng xây dựng nền văn học mới… Khi
viết Văn học khái luận, cuộc bút chiến khá ồn ào hơn năm năm về trước đã

văn học. Trong phần bàn về khái niệm văn học, Đặng Thai Mai “không chỉ
giải thích nguồn gốc khái niệm mà điều quan trọng hơn là chỉ ra bản chất của
loại hình nghệ thuật này” [27, tr. 31]. Tác giả Văn học khái luận cho rằng văn
học là “một khoa học nghiên cứu về các tác phẩm thuộc lĩnh vực “văn” và
cũng có ý nghĩa là toàn thể những tác phẩm đó” [1, tr. 53]. Ông đã phê phán
khá triệt để quan điểm của Hồ Hoài Thẩm và Lép Tônxtôi khi họ quá nhấn
mạnh tình cảm trong sáng tạo văn học. Hồ Hoài Thẩm cho rằng: “Thực chất
văn học là tình cảm. Những tình cảm chứa chất lại trong lòng người, sau lúc
đã theo phương pháp mô hình hoá, hay là phương pháp tự nhiên hoá, mà biểu
hiện ra, tức là văn học” [1, tr. 55]; và Lép Tônxtôi khẳng định: “Nghệ thuật là
phương tiện giao tiếp của loài người”, “Nghệ thuật là để biểu hiện tình cảm”
[1, tr. 57]. Đặng Thai Mai thẳng thắn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những quan
điểm trên của các tác giả: “chỉ vì không chọn được một quan điểm xác thực
cho nên các nhà lý luận văn học về phái quan niệm luận không thể giải thích
văn học cho minh bạch” [1, tr. 58]. Trong lịch sử sáng tạo nghệ thuật có rất
nhiều người coi trọng nội dung tình cảm, thu hẹp tiếng nói nghệ thuật trong
thế giới cảm xúc, cảm giác chủ quan của nghệ sỹ. Đây là cách nhìn thiên lệch
và dễ rơi vào duy tâm: “Hoàn toàn ỷ thị vào trực cảm, vào bản năng là một
thái độ kiêu căng điên rồ và nguy hiểm” [1, tr. 58]. Là người rất hăng hái
trong mặt trận văn hoá, Đặng Thai Mai coi trọng nội dung tư tưởng của văn
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 15

học. Ông nhấn mạnh thiên chức của nhà văn chân chính là dùng văn học để
tác động, thức tỉnh nhân dân, cải thiện xã hội. Nhưng ông không phiến diện,
không coi trọng tư tưởng mà xem nhẹ tình cảm. Ông đã lý giải khách quan
bản chất của văn học và con đường tác động của nó đối với con người: “Văn
học có lực lượng để kích động tình cảm của buồng tim, để thoả mãn yêu cầu
mở mang của tư tưởng và đồng thời lại có một hệ thống lý tính thanh sơ dẫn
đạo lương tri và trí tuệ của giống người nữa” [1, tr. 59]. Văn học là tiếng nói

triển tươi tốt. Thoát ly khỏi đời sống xã hội, văn học sẽ thiếu một nền tảng
vững chắc và sẽ không còn là văn học chân chính nữa. Từ đó, Đặng Thai Mai
kết luận: “Văn học chỉ là một lối biểu hiện trong các hình thái của ý thức xã
hội. Văn học cũng như pháp luật, chính trị, đều xây dựng ở trên nền tảng sinh
hoạt của xã hội và vấn đề tiến triển, biến hoá luôn luôn, theo khuynh hướng
sinh hoạt chung trên cơ sở thực tại của đời sống phong kiến tư bản và xã hội”
[1, tr. 69]. Kết luận ấy thể hiện một cái nhìn thấu đáo, không máy móc, giáo
điều.
Tác giả Đặng Thai Mai khi nói về mối quan hệ giữa văn nghệ và xã hội
đã chú ý đến sự biến động của xã hội tạo nên những đổi thay trong nghệ thuật.
Không thể thổi phồng cái gọi là “vấn đề trường cửu”, “chủ đề vĩnh viễn” như
ái tình, thiên nhiên, vấn đề quan niệm về sống và chết. Đặng Thai Mai đưa ra
những so sánh thú vị về sự đổi thay trong quan niệm tình ái qua Truyện Kiều
và một số tác phẩm bằng tiếng quốc ngữ như Tố Tâm, Đoạn tuyệt. Với Truyện
Kiều, dù Thuý Kiều “có những nỗi đau đớn của sự hy sinh, vẫn tin rằng chữ
hiếu bao giờ cũng phải được trọng hơn chữ tình”, nhưng hơn một trăm năm
sau, thì “đối với quan điểm đặt đâu ngồi đấy, quả tim một cô Tố Tâm đã bập
bồng đánh những nhịp khác rồi”. Và mười năm sau Tố Tâm, đến cô Loan
trong Đoạn tuyệt, đã công nhiên tuyên bố những lời phản đối kịch liệt tình
cảnh hôn nhân cưỡng bức, để tự giải phóng mình, giạn bước ra đi, và “cô sẽ đi
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 17

tới đâu. Không ai biết… nhưng ta có cái cảm giác chắc chắn là cô Loan sẽ
không bao giờ đi giật lùi, trở về lối cũ” [1, tr. 69].
Đặng Thai Mai nhấn mạnh: nhà văn, người hoạt động tinh thần nhạy
cảm phải “ý thức rõ rệt về tính cách biến thiên của xã hội là một nguyên lý
sáng tác của văn nghệ” [1, tr. 74]. Nếu nhà văn “không cảm thấy những nỗi
đau đớn, thiếu thốn của kiếp người, những điều mong mỏi thiết tha của thời
đại, nếu không lĩnh hội được tính cách luôn luôn biến thiên của thế giới, của

sứ mệnh dự báo, tiên đoán của văn học: “Một nhà văn cũng phải là nhà tiên
tri, văn sĩ phải là đạo quân tiền tuyến của thời đại và nếu một lối văn học
không nhận lấy cái trách nhiệm tiên phong thì lối văn học ấy quyết sẽ không
có giá trị” [1, tr. 77]. Đó là quan điểm cách mạng trong văn nghệ. Điều này
thật có ý nghĩa trong tình hình văn nghệ đang bị khuấy đục bởi nhiều luồng tư
tưởng phản dân tộc, phản khoa học lúc bấy giờ. Văn chương là máu thịt, là
tâm huyết mà nhà văn thai nghén, ấp ủ, là tiếng nói xuất phát từ lương tri, từ
trái tim của nhà văn, do đó nhà văn chân chính đồng thời là nhà nhân văn chủ
nghĩa, là chiến sĩ đấu tranh cho tự do và chân lý. Văn chương chân chính
không thể đồng hành cùng cái xấu, cái ác.
Thêm một vấn đề quan trọng mà các nhà lý luận văn học hiện nay vẫn
phải quan tâm là quan hệ giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Vấn đề này được
Đặng Thai Mai giải quyết khá trọn vẹn trong chương VII - chương cuối của
chuyên luận bàn về Tinh thần quốc gia và văn học. Mấy chữ “Tinh thần quốc
gia” sau này được ông sửa lại là “Tinh thần dân tộc”. Đặng Thai Mai đã “lý
giải một cách khoa học khách quan quy luật tiếp biến văn học trong quá trình
giao lưu văn hoá giữa các dân tộc nhằm tránh quan điểm dân tộc hẹp hòi, bảo
thủ khi tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại” [27, tr. 33]. Ông thẳng thắn trình
bày ý kiến trên cơ sở thực hiện thao tác cơ bản trong nghiên cứu khoa học, đó
là định danh khái niệm “Tinh thần dân tộc”. Đặng Thai Mai không đồng ý với
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 19

cách giải thích của Lan Khai trong phần đầu bài viết Tính cách Việt Nam
trong văn chương đã dùng chữ “dân tộc” mà đến đoạn kết luận lại nói đến
“nòi giống” và “chủng tộc”. Đặng Thai Mai cho rằng, Lan Khai đã không
“biện biệt” rõ ràng nội dung ý nghĩa của hai từ này và đã dùng sai nội dung
khái niệm - một điều tối kỵ trong nghiên cứu văn chương. Ông cũng phủ nhận
cái mà Lan Khai định nghĩa, giải thích chữ “tinh thần dân tộc” là “kết quả của
sự gom góp tất cả những nét hay mà dân tộc ấy sẵn có” [1, tr. 124]. Ông đánh

bản sắc dân tộc trên cơ sở kế thừa và kết tinh những tinh hoa văn hoá nhân
loại, bên cạnh những sáng tạo tự nhiên của dân tộc đó còn có cả những yếu tố
văn hoá ngoại lai. Với suy nghĩ ấy, Đặng Thai Mai đã không đồng ý với ý
kiến của nhà thơ Lưu Trọng Lư: “Ta đã vay mượn của người hàng xóm từ
một điệu thơ nhỏ nhặt đến một đạo lý cao xa. Rồi xưa kia chúng ta là những
người Tàu, gần đây chúng ta là người Tây và chưa có lúc nào chúng ta là
người Việt Nam cả” [1, tr. 122]. Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá
giữa các dân tộc, ông đánh giá cao vai trò của việc học hỏi, vay mượn các nét
đẹp văn hoá giữa các quốc gia, dân tộc để xây dựng nền văn hoá tiến bộ của
nhân loại: “Bắt chước mà có thể sáng tác được những áng văn hay thì ta cũng
không nên quá nghiêm khắc, nhất là trong lúc văn học nước ta mới bắt đầu
gây dựng được một cơ sở mới” [1, tr. 129].
Văn học khái luận ra đời vào hoàn cảnh công cuộc hiện đại hoá văn học
Việt Nam đầu thế kỷ XX đang được tiến hành một cách toàn diện: từ sáng tác
thơ văn cho đến phê bình, lý luận. Trong quá trình đó, bên cạnh những bài
viết có tính chất bút chiến, một số sách về thể loại văn học, thì cuốn Văn học
khái luận của Đặng Thai Mai xuất hiện như một sự tổng kết, một sự tiếp tục
luận chiến toàn diện trên nhiều vấn đề, và đã có những đóng góp quan trọng
cho nền lý luận văn học mác xít Việt Nam. Tuy nhiên, những quan điểm lý
luận của Đặng Thai Mai thuộc dạng lý luận của một thời, khi lý luận mác xít
Sự nghiệp nghiên cứu văn học của Đặng Thai Mai
Lê Thị Phương 21

đang bước đầu xây dựng. Vì thế, quan điểm lý luận của ông không thể tránh
khỏi những nhược điểm, phiến diện. Trong khi nhấn mạnh “sứ mệnh phục vụ
giai tầng” của nhà văn và văn nghệ, tác giả Văn học khái luận đã không thấy
tính nhân dân của văn nghệ - một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá phẩm
chất tư tưởng và nghệ thuật của văn học, “chỉ mối liên hệ sâu xa và lâu bền
giữa những sáng tác văn học nghệ thuật ưu tú với tình cảm, tư tưởng, lợi ích,
nhu cầu thẩm mĩ của nhân dân” [13, tr. 355]. Để xây dựng tính nhân dân trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status