1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Trần Thị Lan Phương
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua
phê bình tiểu luận Luận văn ThS. Văn học: 60 22 32
I.2.1. Tính thời sự của văn học. 13
I.2.1.1.Tính thời sự là một yêu cầu của đối tƣợng độc giả. 14
I.2.1.2. Tính thời sự trong nội dung của tác phẩm văn học. 17
I.2.2. Tính trƣờng tồn của văn học. 21
I.2.2.1. Sức sống của hình tƣợng. 21
I.2.2.2. Tính kế thừa của văn học. 22
I.2.3. Đặc thù của văn học. 25
I.2.3.1. Cảm xúc thẩm mĩ trong tác phẩm văn học. 25
I.2.3.2. Tính chân thực của văn học. 27
I.3.Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về nghề văn và nhà văn. 31
I.3.1. Nghề văn. 31
I.3.1.1. Viết văn là một nghề. 31
I.3.1.2. „„ Bản năng và ý thức của ngƣời cầm bút‟‟. 34
I.3.2. Nhà văn. 37
I.3.2.1. Kiểu nhà văn hiền lành vô sự. 38
I.3.2.2. Kiểu nhà văn dũng cảm. 39
I.3.2.3. Kiểu nhà văn có tài. 42
I.3.3. Tầm vóc xã hội của nhà văn. 45
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương I.3.3.1. Một ngƣời nặng tình yêu thƣơng. 45
I.3.3.2. Nhà văn hóa với phẩm chất thành thực và cá tính sáng tạo. 46
I.3.3.3. Nhà hoạt động xã hội năng động và trí tuệ. 50
CHƢƠNG II: QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU VỀ HIỆN THỰC 54
VÀ VIỆC PHẢN ÁNH HIỆN THỰC TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC. 54
II.1. Quan niệm về hiện thực. 54
II.1.1. Quan hệ giữa văn học và hiện thực. 54
II.1.1.1. Thực tiễn là tƣ liệu cho tác phẩm văn học. 54
II.1.1.2. Thực tiễn là tiêu chuẩn, là thƣớc đo nhận thức của nhà văn. 58
III.3.1. Nhân vật phải đƣợc bồi đắp bằng muôn vàn chi tiết sinh động của đời sống. 106
III.3.2. Nhà văn phải bộc lộ đƣợc cái phần ẩn náu sâu kín nhất bên trong con ngƣời. 107
III.3.3. Nhân vật phải đƣợc đặt vào trong những tình thế buộc phải lựa chọn. 111
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1. Nguyễn Minh Châu trong sự cảm nhận của chúng tôi luôn là một ngƣời hiền
hậu, lặng lẽ, không phải là một ngƣời hoạt ngôn nhƣ nhiều nhà văn khác. Ngƣời ta
biết nhiều đến ông trong vai trò là “ngƣời mở đƣờng tài năng và tinh anh nhất”
trong công cuộc đổi mới văn học nƣớc nhà. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà
trƣờng, thế hệ chúng tôi đã đƣợc làm quen với gƣơng mặt đẹp của văn học Việt
Nam hiện đại này qua một truyện ngắn nổi tiếng của ông viết về chiến tranh thời
chống Mỹ: Mảnh trăng cuối rừng. Và lòng yêu mến, kính trọng nhà văn ấy cứ đeo
đẳng lấy mỗi thế hệ học trò chúng tôi…Tháng năm của cuộc đời không hề làm vơi
bớt đi những tình cảm thủa ban đầu ấy mà ngƣợc lại, những tình cảm đó ngày càng
dầy lên theo lớp bụi thời gian…Đứng đƣợc trong lòng độc giả lâu nhƣ vậy bởi vì cả
cuộc đời 29 năm cầm bút của ông là 29 năm ông vắt kiệt mình “trên trang giấy
trắng bên ngọn đèn dầu”.
2. Trƣớc 1975, Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những trang viết đầy chất
thơ - hào sảng của một thời kỳ lịch sử hào hùng. Thế nhƣng sau đó, ngƣời ta lại tìm
đến ông với một sự ngƣỡng vọng và kinh ngạc bởi những trang văn “xác thực, đa
dạng và cận nhân tình”, đƣa văn chƣơng trở về với đời sống. Ông đã mạnh dạn lấy
số phận cá nhân làm khởi điểm, làm mục tiêu hƣớng tới và đồng thời cũng là trung
tâm của lăng kính nghệ thuật, thay vì phản ánh số phận cá nhân khuất chìm trong số
3. Tiểu luận - phê bình là địa hạt mà Nguyễn Minh Châu cầm bút khi bản thân
ông đã có một chỗ đứng nhất định trong lòng độc giả cũng nhƣ trong nền văn học
nƣớc nhà. Ông viết phê bình - tiểu luận với một tấm lòng hăm hở, nhiệt tình của
một ngƣời lính xông pha, ngƣời đầu tiên khuấy động sự tĩnh lặng nhiều năm liền
của văn học thời hậu chiến. Cũng nhƣ những sáng tác, tiểu luận - phê bình của
Nguyễn Minh Châu “là những suy ngẫm, tìm tòi, trăn trở đầy tâm huyết, bộc lộ trực
tiếp và sâu sắc tƣ chất nghệ sĩ và ý thức nghệ thuật của ông. Nó vừa mang tính lập
thuyết, vừa là sự chiêm nghiệm đầy trách nhiệm trong quá trình sáng tác của nhà
văn; nó vừa là sự tìm đƣờng cho những sáng tác vừa là sự giao thoa, hắt bóng
những sáng tác của ông.” [74, tr1]. Chính tiểu luận - phê bình của Nguyễn Minh
Châu đã góp phần không nhỏ vào tiến trình đổi mới tƣ duy nghệ thuật, đổi mới,
phát triển văn học Việt Nam sau chiến tranh.
4. Nguyễn Minh Châu là một trong số ít những nhà văn hiện đại Việt Nam đã
thu hút đƣợc sự chú ý mạnh mẽ, đa chiều của giới nghiên cứu, phê bình, sáng tác
cũng nhƣ công chúng yêu văn học trong và ngoài nƣớc. Thế nhƣng sự chú ý ấy chỉ
mới xoay quanh, tập trung vào mảng sáng tác gồm 9 tiểu thuyết và 7 tập truyện
ngắn. Sẽ là không đầy đủ đối với công việc nghiên cứu văn học đƣơng đại nói
chung, sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói riêng nếu không
nghiên cứu chuyên sâu tiểu luận - phê bình của ông. Bởi những quan niệm nghệ
thuật của nhà văn tập trung rất đầy đủ và sâu sắc qua phê bình - tiểu luận. Khẳng
định những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trong mảng phê bình - tiểu luận là:
giải thƣởng hàng năm của tạp chí Văn nghệ quân đội (1981) và báo Văn nghệ
(1987) với hai bài viết về Thanh Tịnh và Nam Cao. Nhƣ thế, nghiên cứu tiểu luận -
phê bình của Nguyễn Minh Châu, chúng ta sẽ có đƣợc một cái nhìn đầy đủ, toàn
diện hơn về cuộc đời, văn nghiệp của một nhà văn tâm huyết, tài năng trong văn học
hiện đại Việt Nam. Chính vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: Quan
niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình - tiểu luận. Với luận văn này,
chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng của nhà văn
trong mảng phê bình - tiểu luận, mặc dù đã có rất nhiều những trang nghiên cứu, đánh
giá hết sức công phu về cuộc đời và văn nghiệp của nhà văn.
Tìm hiểu tiểu luận - phê bình của Nguyễn Minh Châu diễn ra khá muộn so với
quá trình nghiên cứu về sáng tác của ông. Bảy năm sau ngày ông qua đời, năm
1994, những trang tiểu luận - phê bình của ông mới đƣợc nhà nghiên cứu Tôn
Phƣơng Lan tập hợp và cho ra mắt bạn đọc một cách đầy đủ trong tập Trang giấy
trước đèn. Trƣớc đó, trong những ngày tháng cuối đời trên giƣờng bệnh, Tôn
Phƣơng Lan đã ngỏ ý muốn làm một cuốn sách tập hợp những bài viết về tiểu luận
- phê bình, phỏng vấn và trả lời phỏng vấn của Nguyễn Minh Châu đăng rải rác
trên các báo với nhà văn, đƣợc sự đồng ý và đƣợc chính nhà văn đặt tên cho cuốn
sách mà nhà văn biết mình sẽ không kịp nhìn thấy nó trƣớc khi qua đời. Vậy mà,
phải những 7 năm sau, cuốn sách đó mới đến đƣợc tay độc giả.
Khi giới thiệu Trang giấy trước đèn, Tôn Phƣơng Lan đã viết bài Nguyễn
Minh Châu qua phê bình - tiểu luận ( tháng 9 - 1993) thay cho lời tựa cuốn sách.
Tôn Phƣơng Lan khẳng định: “Sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu không phải chỉ
đƣợc ghi dấu ở phần sáng tác… Lịch sử lý luận phê bình đƣơng đại sẽ nhớ đến ông
với tƣ cách là ngƣời đầu tiên khuấy động sự tĩnh lặng hàng bao nhiêu năm của một
nền văn học thời chiến bằng tiểu luận viết về chiến tranh. Ý tƣởng của ông trong
bài báo đã đƣợc Hoàng Ngọc Hiến lĩnh hội, phát triển thành luận điểm về một “chủ
nghĩa hiện thực phải đạo” từng làm xôn xao dƣ luận một thời. Và văn học thời kỳ
đổi mới hẳn ghi nhận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của
ông là hiện tƣợng đặc sắc của một nhân cách dũng cảm, trung thực, và trƣớc tiên,
đó là cảm quan nhạy bén của một nghệ sĩ đã nhận thức đƣợc sự tất yếu của tiến
trình văn học” [58, tr6 - 7] Và “toàn bộ những gì ông viết ra đều không nằm ngoài
thiên chức của ngƣời cầm bút - ngƣời nghệ sĩ cách mạng” [58, tr6]. Nhà nghiên cứu
Tôn Phƣơng Lan đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết nghiên cứu về cuộc đời và
sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu, coi di sản văn học của Nguyễn Minh Châu là
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 4
niềm say mê tìm hiểu của cuộc đời mình cuối cùng đã khẳng định: “Lộ trình nghệ
của Đảng”.
Nhƣ thế, Tôn Phƣơng Lan là ngƣời đầu tiên không chỉ có công biên soạn, giới
thiệu phê bình tiểu luận của Nguyễn Minh Châu mà còn là ngƣời đầu tiên phát hiện
ra sự vận động trong ý thức nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu ở mảng phê bình
tiểu luận.
Tác giả Hồng Diệu trong Nguyễn Minh Châu nghĩ và viết về việc viết văn
(tháng 1 – 1994) cho rằng: “Nguyễn Minh Châu hay nhắc đi nhắc lại là: nghĩ về
nghề văn, trƣớc hết phải nghĩ về nhà văn…Cách viết của Nguyễn Minh Châu ở đây
là cách viết của một nhà văn, cũng nhƣ một số nhà văn khác đã viết, không phải là
cách viết của một nhà lý luận, phê bình hay nghiên cứu. Nó có sở trƣờng và sở
đoản của nó. Không khô khan, cứng nhắc, kinh viện. Văn thoải mái, tự nhiên, hấp
dẫn và tỏ ra là một cây bút năng suy ngẫm, giàu kinh nghiệm. Nhƣng có nhiều khi
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 5
chƣa chặt chẽ và chính xác” [41, tr 422 - 423]. Sau đó, Hồng Diệu chỉ chú ý tới bài
tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa chứ không phải
là toàn bộ cuốn Trang giấy trước đèn với nhiều bài viết có chất lƣợng khác. Hồng
Diệu cuối cùng đã khẳng định: Nhƣ vậy là, có thể nói, viết sau Đại hội Đảng lần
thứ VI - Đại hội đề xƣớng yêu cầu đổi mới - và viết sau cuộc gặp của Tổng Bí thƣ
Đảng Nguyễn Văn Linh với các nhà trí thức, Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn
văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu là biểu hiện của một nhà văn có tinh
thần trách nhiệm cao - tuy bài báo còn những điều cần đƣợc làm rõ, để hiểu có lý,
có tình, tránh khen chê theo cảm tính” [41, tr 427]. Cách tiếp cận phê bình tiểu luận
của Nguyễn Minh Châu trong bài viết của Hồng Diệu là cách tiếp cận dƣới góc độ
sản phẩm của một nhà văn chứ không phải là của một nhà lý luận phê bình.
Mai Hƣơng trong bài Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông ( mùa thu
năm 2000) cho rằng: “Để giải mã thế giới nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, lý
giải sức mạnh nghệ thuật và phần thành công đóng góp riêng của ông, việc tìm hiểu
6
tiểu luận phê bình của Nguyễn Minh Châu thể hiện cách nhìn của ngƣời trong cuộc
bàn về công việc của chính mình và đồng nghiệp mình. Điều này thể hiện thế mạnh
của sự am tƣờng và trải nghiệm trong tâm lý của ngƣời sáng tác, song về một mức
độ nhất định, trong một trƣờng hợp cụ thể nào đó khi diễn đạt những vấn đề bức
xúc lại gây nên cảm giác thái quá. Vì thế, có những vấn đề tác giả đặt ra hoặc khái
quát đã không dễ đƣợc đồng tình, chia sẻ” [41, tr 28 - 29]. Nguyễn Trọng Hoàn đề
cập đến một số bài tiểu luận phê bình của Nguyễn Minh Châu mà theo ông là chƣa
đạt đƣợc sự đồng tình của nhiều ngƣời nhƣ Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn
văn nghệ minh họa, Ngồi buồn viết mà chơi…
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhận xét về phê bình lý luận của Nguyễn
Minh Châu trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX (tháng 9 - 2004): “Giá trị của
ngòi bút phê bình của nhà văn là ở tính tƣ tƣởng rõ ràng, chân thật, mạch lạc của
nó. Nguyễn Minh Châu còn là cây viết chân dung văn học đặc sắc, là ngƣời thƣờng
bàn về kinh nghiệm sáng tác, nhƣng vị trí cao nhất của ông là ngƣời thổi bùng ngọn
lửa đổi mới văn học của giai đoạn mới. Di sản lý luận phê bình văn học của ông
đƣợc tập hợp trong cuốn Trang giấy trước đèn [52, tr788]. Nhƣ thế, Trần Đình Sử
đã đánh giá cao những đóng góp của Nguyễn Minh Châu ở mảng phê bình lý luận.
Ông đã coi nhà văn là một gƣơng mặt trong số những nhà lý luận phê bình tiêu biểu
của nƣớc ta những năm 1986 - 2000.
Gần đây, một luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Vũ
Kim Loan (2003) có tên Tiểu luận phê bình của Nguyễn Minh Châu. Tác giả luận
văn khai thác, khảo sát toàn bộ tập Trang giấy trước đèn ở 3 nội dung tƣ tƣởng,
quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, vấn đề nghề văn và chân dung đồng
nghiệp. Tuy nhiên đây là một đề tài nghiên cứu thiên về phân tích toàn diện theo
cấu trúc tác phẩm phê bình tiểu luận của Nguyễn Minh Châu.
Nhìn chung, các bài viết tiêu biểu nghiên cứu về tiểu luận phê bình của
Nguyễn Minh Châu còn rất ít so với loạt bài nghiên cứu về sáng tác của ông. Thế
1.Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về văn học và nhà văn.
1.1. Luận văn quan tâm đến những hoạt động lý luận phê bình của Nguyễn
Minh Châu. Trong phần này, trƣớc tiên chúng tôi nhìn qua hoạt động lý luận phê
bình của nƣớc nhà trong giai đoạn từ 1945 cho tới nay. Sau đó, chúng tôi xét tới ý
thức về lý luận - phê bình của Nguyễn Minh Châu qua những bài tiểu luận - phê
bình của ông.
1.2. Luận văn đề cập đến quan niệm của Nguyễn Minh Châu về nhà văn và
nghề văn, kiểu nhà văn, tầm vóc xã hội của nhà văn.
1.3. Luận văn xem xét những nội dung mà Nguyễn Minh Châu bàn về văn
học. Qua tiểu luận - phê bình, ông đề cập đến những vấn đề chính yếu mà theo ông
nó sẽ tác động đến sự phát triển của văn học, đó là tính thời sự, tính trƣờng tồn
cũng nhƣ đặc thù của văn học nói chung.
2.Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về hiện thực và việc phản ánh hiện
thực trong văn học.
2.1. Chúng tôi tìm hiểu quan niệm của nhà văn về hiện thực. Trong đó,
Nguyễn Minh Châu nói tới quan hệ giữa văn học và đời sống, khoảng cách giữa
văn học và hiện thực, nhà văn khi thâm nhập cuộc sống.
2.2. Chúng tôi xem xét cách Nguyễn Minh Châu bàn về hạn chế của văn học
cách mạng khi phản ánh hiện thực. Đây chính là phần mà nhà văn thể hiện rất rõ sự
đổi mới của ngòi bút mình trong các sáng tác sau 1975.
2.3. Luận văn đề cập tới một vấn đề đã làm xôn xao dƣ luận một thời qua bài
tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa: hạn chế của
văn học cách mạng Việt Nam. Trong phần này, chúng tôi nói về những quan niệm
phổ biến của một thời “văn nghệ minh họa” và yêu cầu đổi mới văn học.
3.Quan niệm về nhân vật trong tác phẩm văn học.
3.1. Ngƣời viết xem xét quan niệm của Nguyễn Minh Châu về nhân vật trong
văn học nhƣ nhân vật trung tâm của nền văn học mới, nhân vật phải bắt nguồn từ
đời sống thực, phải biểu thị cho nỗi đau và khát vọng của con ngƣời.
3.2. Luận văn xem xét cách Nguyễn Minh Châu phân loại nhân vật. Ngòi bút
của nhà văn tập trung vào hai kiểu nhân vật chủ yếu: nhân vật thuần nhất và nhân
vẫn đậm đặc, vẫn chi phối. Thực tế, dù phân chia nhƣ vậy nhƣng tập sách vẫn thuộc
về hoạt động phê bình văn học của Nguyễn Minh Châu. Luận văn tìm hiểu quan
niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua các bài viết của ông đƣợc tập hợp
trong Trang giấy trước đèn để đánh giá những đóng góp của Nguyễn Minh Châu
trên lĩnh vực tiểu luận – phê bình.
Bên cạnh đó, luận văn còn tập trung vào nghiên cứu những trang nhật ký,
những ghi chép tản mạn của Nguyễn Minh Châu đƣợc tập hợp lại trong Nguyễn
Minh Châu toàn tập (Tập 5) bởi chính những trang nhật ký, những ghi chép của
nhà văn chính là những quan điểm, suy nghĩ, là những gợi ý cho những bài tiểu
luận – phê bình mà nhà văn ấp ủ, dự định cho ra đời, đến tay đọc giả nhƣng chƣa
hoặc không còn cơ hội.
Ngoài ra, luận văn này còn đi vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận đặt ra
trong một vài sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu, tìm hiểu sáng tác của nhà
văn để thấy đƣợc sự giao thoa, “hắt bóng” giữa tiểu luận – phê bình và sáng tác của
ông.
Cuối cùng, luận văn còn tìm hiểu một vài tác giả, tác phẩm cùng thời với nhà
văn cũng viết về những vấn đề mà Nguyễn Minh Châu quan tâm, hƣớng ngòi bút
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 9
của mình vào đó. (Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp…)
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phƣơng pháp phân loại: Tìm hiểu quan niệm văn chƣơng của Nguyễn
Minh Châu qua phê bình - tiểu luận, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân loại các bài
viết của nhà văn trong Trang giấy trước đèn nhằm tìm ra những đóng góp của ông
trong lĩnh vực lý luận văn học.
2. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp , đánh giá: Phƣơng pháp này chúng tôi
sử dụng nhiều nhất trong luận văn để phân tích từng khía cạch, từng vấn đề trong
quan niệm của Nguyễn Minh Châu nhằm hiểu sâu sắc hơn những vấn đề nhà văn
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I
QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU VỀ VĂN HỌC VÀ
NHÀ VĂN.
I.1. Hoạt động lý luận phê bình của Nguyễn Minh Châu.
Bấy lâu nay, khá nhiều ngƣời mới chỉ biết đến Nguyễn Minh Châu nhƣ một
nhà văn tài năng, thành công lớn ở mảng sáng tác. Ít ai biết đến nhà văn với vai trò
một nhà lý luận - phê bình. Thế nhƣng, không chỉ ở mảng sáng tác, lý luận – phê
bình nƣớc nhà cũng ghi công nhà văn với những đóng góp xuất sắc qua những bài
viết đƣợc nhà nghiên cứu Tôn Phƣơng Lan tập hợp trong cuốn Trang giấy trước
đèn. Viết tiểu luận - phê bình khi Nguyễn Minh Châu đã có một bề dày kinh
nghiệm sáng tác. Do vậy, tất cả những gì tâm huyết mà nhà văn gửi gắm trong
những trang tiểu luận - phê bình cũng đều chỉ nhằm mục đích nói đƣợc nhiều hơn,
rõ hơn nữa những suy nghĩ, trăn trở của nhà văn về thực trạng của nền văn học
nƣớc nhà, về vai trò và trách nhiệm của nhà văn, kinh nghiệm sáng tác, về những
hạn chế của văn học cũng nhƣ yêu cầu phải đổi mới văn học…
Từ góc độ quan niệm về văn học và nhà văn, theo chúng tôi, Nguyễn Minh
Châu đã có những đóng góp cho hoạt động lý luận - phê bình của nƣớc nhà ở bốn
vấn đề lớn là: vấn đề văn học với đề tài chiến tranh cách mạng; về mối quan hệ
giữa hình thức và nội dung; về mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm và công chúng;
về mối quan hệ giữa nhà văn và ngƣời viết phê bình nhƣng chúng tôi chủ yếu chỉ
xem xét trên khía cạnh nhà văn đƣa ra yêu cầu đổi mới trong lĩnh vực lý luận – phê
bình văn học nƣớc nhà.
Hiểu đƣợc vai trò và tầm quan trọng của phê bình văn học nên Nguyễn Minh
Châu đã tích cực tham gia vào lĩnh vực này. Có hoạt động sáng tác tức là có hoạt
động phê bình. Hai hoạt động này không mang tính chất thứ bậc mà cả hai đều bình
đẳng trong một nền văn học. Đồng thời nó là “tiếng nói đối thoại, gợi ý cho nhau
nhiều. Những cái không đáng khen thì ca ngợi, những cái đáng khen thì lại “tâng
bốc” quá. Còn những cái thiếu sót thì lại bỏ qua hoặc lờ đi coi nhƣ không biết. Vì
thế, văn học cách mạng nhìn đâu cũng thấy “tô hồng”, cũng thấy “tráng lên một lớp
men trữ tình lãng mạn”.
Các nhà phê bình sau chiến tranh giờ đây bắt đầu biết “chê” nhƣ một cảnh tỉnh
cho giới sáng tác, lay động những con ngƣời đang say sƣa trong men chiến thắng.
Việc làm này buộc ngƣời cầm bút phải có trách nhiệm hơn với những cái họ viết ra,
chấm dứt kiểu phê bình đã cổ xƣa quen “dĩ hòa vi quý”, “khen một tí, chê một tí”
lấy lệ của giới phê bình đƣơng thời. Những nhà phê bình chỉ biết khen – chê, theo
Nguyễn Minh Châu là “công việc của một ngƣời đi sau sáng tác chờ anh ta làm
đƣợc cái gì rồi hạ bút xuống bình phán” [58, tr301]. Nhƣ thế, nhà phê bình phải chờ
tác phẩm ra đời, ra mắt ngƣời đọc rồi mới bắt đầu khen chê. Phê bình nhƣ thế chỉ là
cái đuôi của sáng tác mà đứng sau lƣng của sáng tác thì mãi mãi không thể phát
triển đƣợc. Nguyễn Minh Châu đã phê phán cái cung cách làm việc kiểu nhƣ thế,
và ông gọi là “một tƣ tƣởng và thái độ chờ đợi, thụ động” [58, tr301]. Trong khi đó,
ở nhiều nền văn học khác, chính lý luận phê bình lại là ngƣời định hƣớng, vạch ra
nội dung cho sáng tác.
Nhƣ thế, mối quan hệ lý luận – phê bình – sáng tác nƣớc ta đã đặt ra rất bức
thiết và yêu cầu đƣợc giải quyết. Trong thời đại mới, biết bao vấn đề nảy sinh. Nhà
văn bị đặt vào bao mối quan hệ, bao thử thách, bao khó khăn. Sáng tác trong nền
văn học mới này nhƣ đang bơi trƣớc biển lớn nên cần biết bao một “hoa tiêu” để
đƣa đƣờng, chỉ lối. Nhiệm vụ “hoa tiêu” ấy là của lý luận phê bình. Nếu lý luận phê
bình đi sau sáng tác, sáng tác không đƣợc định hƣớng, không đƣợc lý luận soi sáng,
sẽ ra sao? Trƣớc thực tế của văn học, Nguyễn Minh Châu yêu cầu đổi mới lý luận
phê bình tức là yêu cầu lý luận “phải đi trƣớc sáng tác một bƣớc, để dẫn dắt, để tác
thành, chứ không phải ngồi chờ đợi và “hành nghề” căn cứ trên những thành phẩm
của ngƣời sáng tác” [58, tr302].
Để lý luận phê bình đi trƣớc sáng tác, những ngƣời làm công tác này phải đặt
ra một kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Đã đến lúc lý luận phê bình phải nhìn lại mình để
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương
trạng “lý luận phê bình và sáng tác ngồi quay lƣng lại với nhau hay gần nhƣ thế”
[58, tr304] và có nhƣ thế thì văn học mới sản sinh ra những tác phẩm đầy sáng tạo
và mới lạ, có giá trị nghệ thuật đích thực.
Nhà văn đầy tâm huyết Nguyễn Minh Châu còn nhận thấy cần phải đổi mới
trong cả cách phê bình. Là nhà văn, ai chẳng nâng niu và yêu thƣơng đứa con tinh
thần của mình bởi nó là một phần máu thịt, là một phần của tác giả. Vì thế, nhà văn
yêu cầu nhà phê bình “phải bỏ công đọc nó vài lần, suy nghĩ đi suy nghĩ lại rồi
hẵng hạ bút xuống…Hãy lắng nghe, cảm thụ, rung động và đem từng chủ đề, từng
nhân vật ra mà phân tích…Phải khám phá, tìm kiếm để đi đến với tác giả của nó”
[58, tr308]. Nhà phê bình phải là ngƣời có vốn tri thức, sự từng trải, phải lay động
cả “xu hƣớng về lý tƣởng xã hội và lý tƣởng thẩm mỹ của riêng mình”. Nguyễn
Minh Châu cho rằng đây là điều rất cần thiết để tránh tình trạng nhà phê bình biến
tác phẩm thành “cái đinh để cho nhà phê bình treo cái áo riêng của mình lên đấy
hoặc tác phẩm bị đem ra sử dụng nhƣ một thứ dẫn chứng cho những luận cứ văn
học riêng của mình” [58, tr309].
Ngoài ra, Nguyễn Minh Châu khẳng định nhà phê bình phải có tƣ cách đầu
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 13
tiên là “trách nhiệm với tác phẩm mà mình phê bình”. Nhà phê bình “cầm trên tay
một tác phẩm bao giờ cũng thấy nó vừa là của tác giả của nó, vừa là của chính
mình, hay hay dở cũng là của chính mình một phần” [58, tr308]. Nguyễn Minh
Châu khẳng định không bao giờ nhà phê bình nhìn tác phẩm bằng cái nhìn ác ý
hoặc định kiến, có nhƣ vậy phê bình mới công bằng, tìm đƣợc những cái hay, cái
giá trị trong tác phẩm.
Nguyễn Minh Châu yêu cầu nhà phê bình phải nhận rõ: đâu là những phần tử
có động cơ lợi dụng ngòi bút và đâu là những ngƣời cầm bút có những phút yếu
đuối hoặc những cây bút trên con đƣờng tìm tòi sáng tạo có những bƣớc vấp váp,
sai lầm. Nhà phê bình phải nhận ra, chỉ ra những sai lầm, vấp ngã đó, tránh việc
II.2. Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về văn học.
I.2.1. Tính thời sự của văn học.
Nguyễn Minh Châu đã đồng thời cùng với sáng tác là viết phê bình – tiểu
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 14
luận. Tập phê bình – tiểu luận đầu tiên và cũng là duy nhất của nhà văn tài năng,
tâm huyết có tên Trang giấy trước đèn đã thể hiện rất sâu sắc những quan niệm
của nhà văn về văn học. Ngƣời đọc chúng ta bắt gặp Nguyễn Minh Châu dù trực
tiếp hay gián tiếp đều nói về những vấn đề theo ông là cốt tử của văn học nhƣ
tính thời sự, tính trƣờng tồn hay đặc trƣng thẩm mĩ của văn học…
Nguyễn Minh Châu nhấn mạnh tới tính thời sự vì đó là điều nhà văn tâm đắc
nhất, vì nhà văn nhận thấy thực trạng văn học sau chiến tranh của ta đang đi sau
cuộc sống. Ông đã khẳng định: “Tác phẩm văn học phải là một thứ vũ khí trên mặt
trận tƣ tƣởng và ít nhiều mang tính thời sự. Nhƣ vậy, trƣớc khi viết, nhà văn phải
hình dung ra cái tác phẩm của mình và đem ƣớm nó vào cuộc sống trong một tƣơng
lai vài ba năm, thử nhìn xem nó có nằm trong cái mạch chính của cuộc sống hay
không, thử nhìn xem nó có lạc hậu hoặc đứng trƣớc quá xa bƣớc tiến triển của xã
hội không, thử nhìn xem với tác phẩm đó anh có đem đến cho xã hội một tiếng nói
bổ ích không?” [58, tr43]. “Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của
ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những ngƣời đƣơng thời về những
câu hỏi cấp bách của đời sống.” [58, tr78].
Chính vì thế, thời sự trong văn học phải đƣợc hiểu nhƣ cái hiện thời, cái
đang có của hôm nay, cái mà toàn xã hội đang quan tâm, dõi theo.Tính thời sự
trong văn học mà Nguyễn Minh Châu nhắc tới phải gắn với không gian, thời gian
lịch sử đang diễn ra. “Ngày” đƣợc hiểu rộng ra là thời đại, là năm tháng. Ngày hôm
nay, tức cái khoảng thời gian hiện thời, cái nhất thời mà ngƣời dân đang quan tâm
nóng bỏng chứ không phải là những điều đã xảy ra “ngày hôm qua”.
Khái niệm “Ngày hôm nay” cũng có tính tƣơng đối của nó. Nghĩa là tính
thể hiện rất rõ sự đổi mới trên.
Trong chiến tranh, ngƣời ta có mối quan tâm hàng đầu là độc lập dân tộc.
Tất cả những cái khác, đều nhƣờng chỗ cho lòng tự tôn, tự hào dân tộc, độc lập, tự
do của Tổ quốc. Chính vì thế, hầu hết các tác phẩm thời chiến đều viết về chiến
tranh và ngƣời lính. Đối tƣợng thƣởng thức văn học hồi đó hầu hết là ngƣời lính
bởi cả nƣớc đều cầm súng đánh giặc. Không phải không có tầng lớp công nhân,
nông dân hay trí thức, tiểu thƣơng… thƣởng thức văn học mà phải nói rằng thời kỳ
này, độc giả họ “dễ tính” hơn thời kỳ sau rất nhiều. Họ dễ dàng thông cảm, bỏ qua
những cái “chƣa đƣợc” trong mỗi sáng tác với suy nghĩ: thời chiến, mọi thứ đều
phải gấp gáp. Chính Hồ Chí Minh đã có lần nói: “Phải kêu to, làm chóng, thời giờ
đâu mà vẽ vời lung tung”(Đường kách mệnh). Nhớ lại trong tiểu thuyết Cửa sông,
Nguyễn Minh Châu đã đƣa ngƣời đọc đến với một ngôi làng nằm sát một cửa sông
lớn, sông Kiều. Cả ngôi làng hầu hết chỉ còn đàn bà, con gái, trẻ em ở lại, đàn ông
thanh niên trai tráng đều đã ra trận. Thế nhƣng ngôi làng vẫn đâu vào đấy, vẫn
chiến đấu, lao động sản xuất. Chỉ cần biết nhịp sống của một ngôi làng nhƣ bao
nhiêu ngôi làng khác của đất nƣớc Việt Nam ta trong thời chiến cũng đủ giúp
chúng ta, dù là hôm nay, hình dung ra đƣợc cuộc sống vật chất, tinh thần của con
ngƣời trong những năm tháng đạn bom.
Chính vì vậy, đối tƣợng thƣởng thức của văn học cũng mang tính thời sự .
Nó cần phải thay đổi theo thị hiếu của ngƣời đọc mỗi thời. Nguyễn Minh Châu đã
nói với những ngƣời cùng cầm bút rằng: “ Đừng bao giờ nên coi nhẹ tầm quan
trọng của thị hiếu ngƣời đọc, vì chính đó là cái nôi để cho tác phẩm thế này hoặc
thế khác ra đời và sống đƣợc. Bằng những cái đã viết, những ngƣời cầm bút chúng
ta đang góp phần nâng cao hay hạ thấp thị hiếu độc giả. Những ngƣời viết vừa giáo
dục nó, vừa phải khuất phục nó. Thƣờng thƣờng những mối “nguy hiểm” gây ra
cho ngƣời cầm bút cũng do từ đây, nhất là đối với các tác phẩm viết về chiến
tranh… Mỗi tác phẩm ra đời đƣợc là kết quả của một sự “thỏa hiệp” giữa tƣ tƣởng
ngƣời viết và thị hiếu ngƣời đọc” [58, tr58 - 59]. Thị hiếu ngƣời đọc cho chúng ta
biết đối tƣợng thƣởng thức của văn học mỗi thời kỳ là những ai? Họ mong muốn
đƣợc đọc những tác phẩm nhƣ thế nào? Chính vì thế, hầu hết tác phẩm viết trong
vào mình mà tự hỏi: “Ta là ai”?…Chúng ta đang sống trong cái thời những ngƣời
anh hùng và các đức thánh đang phấn đấu để trở thành những con ngƣời bình
thƣờng giữa cõi đời” [58, tr149]. Trở thành những con ngƣời bình thƣờng khó lắm
thay khi tƣ tƣởng trong mỗi con ngƣời không thay đổi? “Những năm sau chiến
tranh là những năm khó khăn tột cùng của cách mạng, của đất nƣớc… Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12.1986 thực sự mở ra một chặng đƣờng mới cho
cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên sau hơn 40 năm cách mạng liên tục, cách
mạng… không ngừng, bắt đầu chúng ta nói tới thực trạng tổng khủng hoảng, nói
đến sự lựa chọn “đổi mới hay là chết”, nói đến sự cấp bách của “đổi mới tƣ duy”,
nói đến công khai dân chủ một cách quyết liệt. Tổng Bí thƣ Nguyễn Văn Linh trong
một cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ đã nói đến tinh thần “cởi trói” đối với văn nghệ và
chức năng dự báo của tác phẩm văn học” [27, tr547 - 548]. Từ đây, đổi mới văn
học bắt đầu vƣơn rộng không chỉ ở phía ngƣời cầm bút mà cả ở phía ngƣời thƣởng
thức. Đối tƣợng thƣởng thức văn học đã khác trƣớc. Không còn chỉ là ngƣời lính
viết về mình và cho mình nữa mà đã đủ mọi tầng lớp trong xã hội. Với những đòi
hỏi phức tạp hơn, yêu cầu cao hơn. Họ “là những ngƣời hết sức từng trải về chính
trị và đời sống, là những ngƣời đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và cầm súng đánh
Mỹ. Họ là những ngƣời đã làm chủ đất nƣớc và cuộc đời mình… Ngƣời đọc bây
giờ rất quan tâm đến công việc của ngƣời viết văn. Bởi vì mỗi cuốn sách, mỗi cái
truyện các anh viết ra là một tấm gƣơng to hay nhỏ phản ánh một khía cạnh của xã
hội, mỗi khuôn mặt nhân vật là một khuôn mặt con ngƣời xã hội, mỗi vấn đề các
anh đặt ra trong đó là vấn đề mà xã hội đang quan tâm… Nhân dân ta bây giờ, ai
cũng biết chữ, cũng đọc đƣợc. Thanh niên chúng tôi trƣớc khi ra đời làm một nghề
gì, hoặc đi thanh niên xung phong, đi bộ đội đều đã đƣợc đi học ở nhà trƣờng, phổ
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 17
biến là đã học cấp hai, một số học cấp ba. Thanh niên bây giờ, số đông đều ham
đọc sách. Sách đối với họ cần nhƣ cơm gạo và ánh sáng vậy.Theo tôi biết, các nhà
hiếu của ngƣời đọc đã quy định phần lớn nội dung của những tác phẩm văn
chƣơng.
I.2.1.2. Tính thời sự trong nội dung của tác phẩm văn học.
Trong công cuộc đổi mới văn học, khi mà đối tƣợng thƣởng thức đã không
còn đơn điệu nhƣ trƣớc nữa, khi mà ngƣời đọc đòi hỏi phải có những sáng tác
mang hơi thở, sức sống của đời thƣờng, thì buộc những ngƣời cầm bút phải đổi mới
về nội dung trong sáng tác của mình. Cuộc sống chính là một loại đối tƣợng phản
ánh của văn học.
Nguyễn Minh Châu đã phải lên tiếng: “Chúng ta đang sống trong cái thời
những ngƣời anh hùng và các đức thánh đang phấn đấu để trở thành những ngƣời
bình thƣờng giữa cõi đời…Có một số năm tháng khá dài trong quá khứ chƣa lâu
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua phê bình – tiểu luận Trần Thị Lan Phương 18
trong những nhân vật lãnh đạo và cả trong những con ngƣời bình thƣờng đông đảo
đã tồn tại không ít những “đầu óc lớn” mong muốn dân tộc này phải bao gồm
những con ngƣời rắn nhƣ sắt, gang, cao cả nhƣ thần thánh, là một cái gì đứng ngoài
nhân loại, trên nhân loại, có phần nào với một tinh thần kiêu ngạo…Chúng ta đã bị
bỏ lại sau đến cái mức chúng ta đánh mất khả năng đối thoại với nhân loại và lạc
lõng trƣớc văn minh nhân loại.” [58, tr149 - 150]. Nguyễn Minh Châu thấy thực sự
đã đến lúc phải đổi mới, phải lột xác, canh tân đất nƣớc và ông gọi đó là “cuộc trở
mình lịch sử của đất nƣớc”. Từ đó nhà văn đƣa ra yêu cầu đổi mới phải trên tất cả
mọi mặt của đời sống, đất nƣớc.
Điều mà Nguyễn Minh Châu bàn tới ở trên cho chúng ta hiểu rằng nội dung
phản ánh của văn học cũng phải mang tính thời sự, có ý nghĩa thời sự. Nhà văn đã
nói “văn học phải trả lời câu hỏi của ngày hôm nay” mà vấn đề toàn dân tộc quan
tâm bây giờ là đổi mới đất nƣớc. Văn học phải viết về những điều đó, phải làm một
nhiệm vụ lớn lao là phản ánh trung thực nhất, sinh động nhất công cuộc đổi mới
toàn diện bởi “xét cho cùng cái phần chủ yếu của một ngƣời viết văn vẫn là tiếng
19
cuộc chiến về con ngƣời mà trƣớc kia vì nhiều lí do, họ cố gắng quên đi, không đòi
hỏi. Bây giờ tất cả cùng có một mối quan tâm chung, trách nhiệm chung nên ngƣời
cầm bút phải viết những gì không hổ thẹn với nhân dân, dân tộc mình. Nguyễn
Minh Châu đã tự đi đầu, đổi mới bằng những sáng tác ghi dấu mốc quan trọng
trong văn học Việt Nam. Bắt đầu từ những Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà,
Những người đi từ trong rừng ra, cho đến Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,
Cơn giông, Mùa trái cóc ở miền Nam, Cỏ lau… là những cái nhìn mới của nhà văn
về ngƣời lính và chiến tranh sau ngày đất nƣớc đã im tiếng súng.
Sự đổi mới về nội dung trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu không
phải chỉ đƣợc bắt đầu từ khi Đảng và nhà nƣớc có tinh thần “cởi trói” cho văn nghệ
(1986). Năm 1976, khi tiếng súng ngƣng trên cả hai miền, Nguyễn Minh Châu đã
có ngay Miền cháy nóng hổi tính thời sự. Con ngƣời trở về đời thƣờng với bao lo
toan thƣờng nhật, cuộc sống bộn bề đã dần dần làm họ đánh mất đi những nét tốt
đẹp vốn có trƣớc kia. Có ngƣời còn gìn giữ đƣợc, có ngƣời cố gắng gìn giữ, nhƣng
cũng có ngƣời không thể nào chống lại đƣợc với những cám dỗ của vật chất, của
quyền lực. Những con ngƣời nhƣ mẹ Êm, nhƣ Qùy, bác sĩ Thƣơng, Thăng, Lực,
Thai…vẫn là những kiểu ngƣời khá quen thuộc trƣớc kia trong những sáng tác của
nhà văn nhƣng cũng đã đƣợc nhìn ở một khía cạnh mới hơn. Họ đã nhận ra và tự
thú nhận với lƣơng tâm mình rằng chiến tranh phần nào đã lấy đi của họ những
hạnh phúc, những niềm vui mà trƣớc kia họ cố gắng không dám thừa nhận sự thật
này. Những ngƣời lính anh hùng, quả cảm ngoài trận mạc trƣớc kia giờ đây trở về
với đời thƣờng họ lóng ngóng, vụng về khi phải sống giữa đời thƣờng, khi hạnh
phúc riêng tƣ của họ đã không còn nguyên vẹn nhƣ trƣớc nữa.
Một nội dung nữa mà Nguyễn Minh Châu rất chú tâm đổi mới, đó là cuộc
sống thời bình với những lo toan thƣờng nhật, những thói tật của con ngƣời mà
trƣớc kia ở thời chiến, vì nhiều mối quan tâm lớn hơn nên nó không lộ diện hoặc
không có cơ hội phát triển. “Đừng nên nói rằng trong hai cuộc kháng chiến thần
thánh vừa qua, những con ngƣời của chúng ta là những con ngƣời đã hoàn thiện,
mình” (Sắm vai). Chủ thể nhà văn xuất hiện với một tƣ thế quan trọng khác hẳn. Vì
thế mà không phải ngẫu nhiên, nhà văn, ngƣời nghệ sĩ lại trở thành một nhân vật
đáng chú ý trong nhiều tác phẩm của văn xuôi hôm nay. Ví dụ nhƣ “tôi” trong Sắm
vai, ngƣời họa sĩ trong Bức tranh, nhà báo trong Mùa trái cóc ở miền Nam, ngƣời
thợ ảnh trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu; tôi trong Cái thời
lãng mạn, Nhóm bạn thời kháng chiến, Nghề văn cũng lắm công phu của Nguyễn
Khải; nhà văn trong Trăng soi sân nhỏ, Tóc huyền màu trắng, Anh thợ chữa khóa
của Ma Văn Kháng; Xuân Diệu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân trong Cát bụi chân ai
của Tô Hoài; Kiên trong Thân phận tình yêu của Bảo Ninh; Nguyễn Du trong
Vàng lửa, Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp… Điều đó có nguyên nhân chủ yếu
là do các nhà văn đổi mới về cách viết, sự sâu sắc về tƣ tƣởng, nhu cầu tự nhận
thức về bản thân mình và do sự chi phối của các điển hình nghệ thuật khác nên
nhà văn đã tạo ra một hình mẫu mới về ngƣời nghệ sĩ thời hiện đại có sức ám
ảnh và kích thích đối thoại.
Nguyễn Minh Châu còn thể hiện sự đổi mới của ngòi bút mình qua việc đề cập
đến những hạn chế của văn học trong 35 năm qua mà ông gọi là nền “văn nghệ
minh họa”: “Qủa thật là những trang viết về kháng chiến chống Mỹ của chúng ta
còn thiếu một cái gì thực là giáp mặt với kẻ thù, với cuộc sống sôi nổi, quyết liệt và
khẩn trƣơng … Chúng ta vẫn còn thiếu một cái gì vừa cật lực vừa trí tuệ. Chúng ta
chƣa có tình yêu thƣơng mẹ con, vợ chồng, đồng chí thật lớn của nhân dân trong
những năm này. Chúng ta cũng chƣa có một cái gì thực chất là lạc quan cách mạng
khiến nhân dân hết sức vui sƣớng trong những điều kiện sống vẫn còn gian khổ, vất
vả. Chúng ta cũng chƣa có lòng căm thù giặc đến tận độ khiến mọi ngƣời không thể
ngồi yên” [58, tr32]. Đây là những tồn tại của văn học Việt Nam không chỉ trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà còn xuất hiện trong nhiều sáng
tác sau 1975. Vấn đề nóng bỏng này đã làm dấy lên một không khí tranh luận cởi
mở nhƣng cũng không kém phần gay gắt khi nhiều ngƣời cho rằng nhà văn có vấn
đề về lập trƣờng, quan điểm. Thời sự văn học nƣớc nhà những năm sau đổi mới
nhờ vậy mà có không khí trao đổi, tranh luận hơn chứ không tĩnh lặng nhƣ trƣớc .
Qua những trang tiểu luận – phê bình của Nguyễn Minh Châu, chúng ta thấy
miền biển trong Chiếc thuyền ngoài xa; cả lão Khúng, một ngƣời nông dân trong
Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát cũng là hình tƣợng nghệ thuật khiến nhiều ngƣời
phải sửng sốt. Hoàng Ngọc Hiến đã nhận thấy: “Trong văn học, hiếm có những
biểu tƣợng về ngƣời nông dân cao cả, hào hùng mang ý nghĩa lịch sử nhân loại lớn
lao đến nhƣ vậy” [41, tr193]. Đến nay, ngƣời ta nhắc nhiều đến Chí Phèo của Nam
Cao, AQ của Lỗ Tấn và không thể không nhắc đến, so sánh lão Khúng của Nguyễn
Minh Châu với những hình tƣợng trên.
Hình tƣợng nghệ thuật có một vai trò hết sức quan trọng. Nếu mỗi tác phẩm
văn học đến với ngƣời đọc mà nhân vật trong đó không có giá trị, không đạt tới tính
hình tƣợng hay hình tƣợng đó không tạo đƣợc sức sống trong lòng độc giả theo thời
gian thì tác phẩm đó không thể gọi là thành công. Nguyễn Minh Châu đã nhắc tới
sức sống của hình tƣợng bằng cách cho rằng “không phải ai cũng có một khuôn
mặt, một tiếng nói khiến ngƣời đọc chỉ cần nói đến tên tác giả là hình dung ngay tới
nó đƣợc” [58, tr36]. Nghĩa là cần phải có yếu tố tài năng, nhƣng bên cạnh tài năng
thôi chƣa đủ, mà còn phải có sự đổi mới trong tƣ tƣởng, suy nghĩ, cách viết…Rồi
yếu tố hoàn cảnh, thời điểm, thời cơ, và cả một chút may mắn…sẽ tạo nên đƣợc
những hình tƣợng nghệ thuật có sức sống lâu bền trong lòng độc giả, trƣờng tồn
cùng thời gian. Nhà văn đã có lần phải đặt ra một câu hỏi với những ngƣời viết:
“Chúng ta không khám phá ra đƣợc một vấn đề hay khía cạnh nào mới lạ thì hãy cứ