ự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu - Pdf 25

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN HOàNG THị LựU

Sự VậN ĐộNG CủA VĂN HọC VIếT TàY Từ
TRUYệN THƠ NÔM KHUYếT DANH ĐếN THƠ HOàNG ĐứC HậU LUậN VĂN THạC Sĩ
Chuyên ngành:Văn học Việt Nam



Lun vn Thc s chuyờn ngnh: Vn hc Vit Nam
Mó s: 60 22 34

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. Trn Ngc Vng Hà Nội - 2012
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu

3.1 Thơ Hoàng Đức Hậu – dấu ấn của một cá tính sáng tạo 54
3.2 Về nội dung và nghệ thuật thơ Hoàng Đức Hậu 67
3.3 Từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu 78
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
1
MỞ ĐẦU

1. Ý nghĩa, mục đích của đề tài
1.1. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Dân tộc Tày là một tộc ngƣời có số dân đông xếp sau dân tộc Kinh.
Theo các điều tra dân số học, hiện nay tộc ngƣời Tày có khoảng 1,7 triệu dân,
cƣ trú chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam nhƣ: Cao Bằng, Bắc
Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang…
Cũng nhƣ các tộc ngƣời khác, ngƣời Tày từ cổ chí kim cũng ƣơm
trồng, nuôi dƣỡng và không ngừng phát triển một không gian văn hóa, văn
học đa dạng và có chiều sâu. Tất nhiên kho tàng văn học của ngƣời Tày nhỏ
hơn rất nhiều so với sự đồ sộ, muôn tầng nhiều vẻ của nền văn học Việt,
nhƣng những thành tựu về văn học mà một tộc ngƣời thiểu số đóng góp cho
nền văn học nƣớc nhà cũng đã tạo ra một dấu ấn rất đáng nghiên cứu.
Dân tộc Tày có một kho tàng văn học dân gian sống động và rất đa
dạng, từ những câu sli, câu lƣợn, những câu chuyện cổ tích, thần thoại đến
những bài hát then làm mê đắm lòng ngƣời. Bên cạnh sự phát triển không
ngừng của văn học dân gian, sự xuất hiện của chữ Nôm Tày là một trong
những điều kiện tiên quyết đƣa đến sự ra đời của văn học thành văn. Kể từ
đây những ngƣời trí thức Tày đã cho ra đời những tác phẩm đƣợc viết bằng
thứ chữ ghi âm tiếng dân tộc mình, giúp nâng cao đời sống tinh thần cho

tranh sinh hoạt của ngƣời Tày thời xƣa qua truyện thơ Nôm.
- Tìm hiểu thơ Hoàng Đức Hậu trên một số phƣơng diện: nội dung,
nghệ thuật và đặc biệt là dấu ấn của một cá tính sáng tạo của thơ Tày cận đại.
- Từ việc tìm hiểu, phân tích những nét chính nhƣ trên, chúng tôi sẽ bàn
tiếp một vấn đề: Có hay không một dòng chảy trong văn học viết Tày và cố
gắng tìm ra cái logic nội tại (quá trình vận động) của bộ phận văn học này.
2. Lịch sử vấn đề
Có rất ít những công trình khoa học nghiên cứu về văn học Tày.
Thƣờng những tác giả bản tộc vừa là ngƣời sƣu tầm, phiên âm, dịch nghĩa,
chú giải vừa đƣa ra những gợi mở đầu tiên về văn học Tày. Đó là các nhóm
tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết với các tuyển tập Truyện thơ Nôm Tày; Bế Sỹ
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
3
Uông, Ma Trƣờng Nguyên với Tam Mậu Ngọ; Lục Văn Pảo với Lượn cọi,
Nông Quốc Chấn (chủ biên) với Truyện thơ Tày Nùng…
Công trình khoa học đƣợc xem là mang tính hệ thống, sâu sắc nhất trong
nghiên cứu văn học Tày là Truyện thơ Tày nguồn gốc, quá trình phát triển và thi
pháp thể loại của Vũ Anh Tuấn, một vài bài viết liên quan đến văn hóa, văn học
Tày trong Văn hóa dân gian Cao Bằng (cuốn sách tập hợp tham luận của nhiều
tác giả), luận án thạc sỹ ngữ văn của Hà Thị Bích Hiền với đề tài Truyện thơ
Nôm Tày Nùng – Điểm nối giữa văn học dân gian và văn học Tày.
Với đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ vận dụng ít nhiều tƣ liệu nghiên
cứu trong các công trình khoa học của các bậc tiền nhân. Và chúng tôi cũng
sẽ nỗ lực bao quát tƣ liệu thực tế, trong khi nguồn tƣ liệu này còn hạn chế
chúng tôi sẽ cố gắng suy tƣ và đoán định để đƣa ra những nhận định, những
kiến giải của mình, hy vọng mang lại một cách tiếp cận mới cho dòng văn học
còn ít đƣợc cày xới, còn mở ra những khoảng không bất tận cho sự tìm hiểu
và kiến giải này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

2.3 Truyện thơ Nôm – bức tranh toàn diện và chân thực về cuộc sống
của tộc ngƣời Tày thời kì trung đại.
Chƣơng 3: Thơ Hoàng Đức Hậu và sự định hình của phong cách văn
học viết trong văn học Tày.
3.1. Thơ Hoàng Đức Hậu – dấu ấn của một cá tính sáng tạo.
3.2. Về nội dung và nghệ thuật thơ Hoàng Đức Hậu.
3.3. Từ truyện thơ Nôm đến thơ Hoàng Đức Hậu.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
5
NỘI DUNG
Chương 1
VĂN HỌC VIẾT DÂN TỘC TÀY - MỘT BỘ PHẬN HỮU CƠ
CỦA NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM

1.1 Giới thiệu về tộc người và truyền thống văn hóa
Theo những số liệu thống kê dân số học của Tổng cục thống kê, dân tộc
Tày có số dân đông đảo nhất trong cộng đồng các tộc ngƣời thiểu số Việt Nam.
Vậy tên gọi “Tày” có ý nghĩa gì? Đó là “tên đồng bào tự gọi và ngày
nay nó trở thành tên gọi chính thức của dân tộc thay cho từ “Thổ” trƣớc đây”
[15, tr.13]. “Thổ” có nghĩa là thổ dân, ngƣời bản xứ.
Về nguồn gốc dân tộc: Theo nhiều học giả, tộc ngƣời Tày xuất hiện ở

nét trội là “chồng Việt – vợ Tày” và kết quả là bầy con cháu mang cả hai
dòng máu Việt – Tày với những tên họ khi Tày khi Việt.” [16, tr.53].
Về hệ thống ngôn ngữ, Tiếng Tày thuộc ngôn ngữ Tày – Thái trong ngữ
hệ Thái – Ka dai. Tiếng Tày có vốn từ gốc khá lớn và cũng có sự vay mƣợn bổ
sung tiếng Việt để kho từ vựng đƣợc hoàn chỉnh, phong phú hơn. Trong ngôn
ngữ Tày, các nhóm từ cũng đƣợc phân chia rõ rệt nhƣ tiếng Việt: danh từ,
động từ, tính từ…Kiểu cấu trúc ngữ pháp trong lời nói hằng ngày và trong văn
tự tiếng Tày cũng giống với cấu trúc tiếng Việt. Bên cạnh hệ thống từ vựng
phong phú, tộc ngƣời Tày cũng sáng tạo ra hệ số đếm tƣơng đối hoàn chỉnh.
Trong quan hệ gia đình, ngƣời Tày theo chế độ phụ hệ. Sau này, sự ảnh
hƣởng của Khổng giáo càng làm cho vai trò của ngƣời đàn ông trở nên quan
trọng hơn. Ngƣời đàn ông phải gánh vác những công việc nặng nhọc nhƣng
cũng có quyền phán quyết những việc trọng đại trong khi phụ nữ không có
quyền tham gia ý kiến. Ngày nay, tâm lý trọng nam khinh nữ vẫn còn khá phổ
biến ở ngƣời Tày, nhất là các khu vực nông thôn. Tôn ti trật tự trong cách
xƣng hô, ngôi thứ trong gia đình Tày cũng giống gia đình Việt.
Về nhà ở: Kiến trúc nhà truyền thống của ngƣời Tày là nhà sàn (lƣờn
lạn). Kiểu nhà sàn phổ biến là ba gian hai chái hoặc năm gian hai chái. Cách
thiết kế nhà ở nhƣ vậy phù hợp với điều kiện thời tiết nóng ẩm, nắng mƣa thất
thƣờng của vùng Việt Bắc. Ngoài ra nhà sàn còn giúp ngƣời dân tránh đƣợc
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
7
thú dữ tấn công hoặc ăn thịt. Đây là điều không hiếm khi trƣớc đây rừng núi
vẫn giữ đƣợc sự hoang sơ, bạt ngàn cây cối và đa dạng về giống loài. Ngày
nay, chuyện thú dữ ăn thịt hoặc tấn công ngƣời ở khu vực Việt Bắc (khu
ngƣời Tày cƣ trú) không còn nữa nhƣng những nếp nhà sàn vẫn không mất đi.
Bởi nó là một thói quen về không gian sống hay đúng hơn là một phong tục
mà tổ tiên ngƣời Tày đã truyền lại từ bao đời nay.
Về ẩm thực: Ngày nay, nhờ quá trình giao thoa văn hóa Tày – Việt và

thầy mo, thầy tào, thầy phù thủy…
1.2 Hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về chữ Nôm Tày
Một trong những điều kiện tiên quyết đặt nền móng cho văn học thành
văn của các dân tộc đó là chữ viết. Văn học viết Tày cũng không ngoại lệ.
Nhờ sự sáng tạo, bổ sung, hoàn thiện về chữ Nôm Tày và sự nỗ lực của các trí
thức bản tộc mà dòng văn học thành văn Tày đã đƣợc hình thành từ thời trung
đại. Đó không phải là một nhận định cực đoan, phiến diện mà dựa trên những
cứ liệu văn học viết Tày thời trung đại để lại (tiêu biểu nhất là truyện thơ
Nôm). Nhƣng trƣớc hết phải lần tìm đáp án cho những hoài nghi về chữ Nôm
Tày. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tổng kết ý kiến của các học giả uy tín
về vấn đề này. Nhìn chung những ý kiến này chƣa có sự đồng thuận nhƣng
nó sẽ gợi mở cho chúng ta về một vấn đề hóc búa mà chắc chắn cần nhiều
thời gian tìm tòi, khảo cứu hơn nữa để có thể đi đến kết luận cuối cùng.
Chữ Nôm Tày là một đề tài hấp dẫn, một đề tài còn nhiều rộng mở để các
học giả cày xới, tuy nhiên những công trình nghiên cứu về vấn đề này còn quá ít.
Có thể nói Từ điển chữ Nôm Tày của Hoàng Triều Ân và các kết luận nghiên
cứu về chữ nôm Tày của tác giả Cung Văn Lƣợc là những công trình mang tính
quy mô nhất. Ngoài ra, những quan điểm về chữ Nôm Tày của các tác giả khác
chỉ là những ý kiến “bàn thêm” trong các tham luận của họ. Tuy chỉ là bàn qua
nhƣng vô cùng hữu ích cho những ngƣời muốn nghiên cứu, muốn tìm chiếc chìa
khóa vạn năng để mở cánh cửa văn học còn khá nhiều bí ẩn này.
Có nhiều ý kiến cho rằng, khi chạy lên đóng đô ở Cao Bằng, nhà Mạc
đã truyền bá và thúc đẩy việc học giúp cho việc dùi mài kinh sử ở khu vực
này phát triển mạnh. Nhà Mạc trị vì ở đây gần một trăm năm cộng với việc
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
9
mở mang học thuật, đã biến Cao Bằng từ một mảnh đất vùng biên viễn trở
thành vùng đất có nền học vấn tốt. Từ đó nhiều ngƣời đã đặt ra giả thiết: ngƣời
ta đã chế tác chữ Nôm Tày trên cơ sở nghiên cứu kỹ lƣỡng và sử dụng thuần

ra đời sau chữ Hán Việt.
Cũng đồng ý kiến đó, nhà nghiên cứu Cung Văn Lƣợc của Viện nghiên
cứu Hán Nôm qua quá trình tìm hiểu về Nôm Tày lại khẳng định: “Nhờ vào
hệ thống văn tự Nôm chuyên dùng ghi âm tiếng nói dân tộc mình, từ nhiều thế
kỷ nay, chắc chắn là sau sự xuất hiện của âm Hán - Việt và chữ Nôm Việt,
ngƣời Tày – Nùng đã tạo nên hàng loạt văn bản thuộc các nội dung văn học,
lịch sử, y tế, giáo dục, nông nghiệp, quân sự…truyền lại đến ngày nay các giá
trị tinh thần bất hủ” [16, tr.84].
Học giả Vũ Anh Tuấn trong chuyên luận về truyện thơ Tày lại tỏ ý quan
tâm đặc biệt tới tác phẩm Cao Bằng tạp chí của tác giả Bế Huỳnh soạn bằng
chữ Hán ghi năm 1920. Trong chƣơng Nhân vật lục có đoạn chép: “Xƣa có
chàng Lê Thế Khanh con nhà quyền quý ở tổng Nhƣợng Bạn, châu Thạch
Lâm, Cao Bằng…Chàng vốn thông minh đặc biệt. Năm 15 tuổi, vâng lời cha
mẹ, chàng xuống Long Biên tìm thầy học. Lúc bấy giờ nƣớc ta nội thuộc Trung
Quốc vào thời nhà Tấn (317 – 420). Thế Khanh học khoảng mƣời lăm, mƣời
sáu năm trời, mấy lần thi mà không đậu. Gặp lúc nhà Tấn suy vi, Nam Triều và
Bắc Triều đánh nhau dữ, chàng bèn về quê mở trƣờng dạy học ở quê nhà trong
hai mƣơi năm. Chàng thấy chữ viết và thổ âm quê mình có nhiều chỗ không
phù hợp, chàng nghĩ cách bắt chƣớc theo phép Lục Thƣ của Trung Quốc, gia
giảm theo cách phát âm, biên soạn thành chữ Nôm quê mình, sáng tác ra các
bài hát mỗi câu bảy chữ theo các vần của bản địa…”[ 22, tr.45- 46]. Dù tài liệu
trên đã làm cho Vũ Anh Tuấn đặc biệt chú ý nhƣng ông không bàn luận gì
thêm về thời gian xuất hiện của chữ Nôm Tày. Qua chƣơng mục trên, ông chỉ
muốn củng cố rằng: “ Nếu những thông tin trên chỉ là một tài liệu tham khảo
thì nó cũng đã gợi ra những vấn đề về sự giao thoa văn hóa Hán – Việt – Tày
chắc chắn sẽ đƣợc in đậm từ đấy về sau trong các truyện nôm Tày” [ 22, tr.47].
Tính chính xác của câu chuyện trên còn phải nghiên cứu thêm. Bởi đã
là chuyện ngoài chính sử thì không thể sử dụng làm căn cứ khoa học. Tuy
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu

Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
12
loại mƣợn chữ Nôm Việt không hoàn toàn đƣợc tác giả chia thành: “Mƣợn
chữ Nôm Việt để biểu thị một từ thuần Tày – Nùng đồng âm nhƣng có nghĩa
khác với từ Nôm Việt” và “ Mƣợn chữ Nôm Việt nhƣng không mƣợn âm và
nghĩa, đọc âm Tày – Nùng để biểu thị một từ thuần Tày – Nùng có nghĩa khác
với từ Nôm Việt” [16, tr.80].
Còn với mảng chữ do ngƣời Tày – Nùng tự tạo tác giả chia làm hai
loại: chữ nguyên khối và chữ có thành tố trực tiếp (hay còn gọi là nhóm chữ
ghép). Qua quá trình khảo sát, nhà nghiên cứu Cung Văn Lƣợc nhận định:
“Trong loại chữ Nôm Tày – Nùng tự tạo là chữ nguyên khối thì hầu hết đều là
những chữ dựa vào nguyên khối chữ Hán đã có sẵn rồi ngƣời Tày – Nùng tiến
hành gia công, cải biến…” [16, tr.81]. Ngƣợc lại, mảng chữ có thành tố trực
tiếp (nhóm chữ ghép) lại là sự kết hợp của hai thành tố Âm + Âm, Nghĩa +
Nghĩa và Âm + Nghĩa, trong đó nhóm từ xuất phát từ Âm + Nghĩa có số
lƣợng lớn hơn hai nhóm còn lại. Ngoài ra “trong chữ Nôm Tày – Nùng tự tạo
đã nảy sinh một hiện tƣợng đặc biệt, thƣờng gặp trong các văn bản dân ca trữ
tình nhƣ Sli và Lƣợn ở Cao Bằng, một hình thức chữ ghép không hề thấy có ở
văn bản Hán và ở cả văn bản Nôm Việt. Đó là dùng hai chữ Nôm Tày – Nùng
ghép lồng vào nhau, tạo nên một chữ Nôm Tày – Nùng mới” [16, tr.83].
Sau một quá trình khảo cứu công phu, nhà nghiên cứu Cung Văn Lƣợc đã
khẳng định trong tiêu đề bài tham luận của ông đƣợc in trong Văn hóa dân gian
Cao Bằng: văn bản và văn tự Nôm Tày - Nùng là một “thành tựu văn hóa trong
lịch sử dân tộc”. Ông cũng thể hiện niềm hy vọng rằng: “Di sản các văn bản Nôm
Tày – Nùng lớn lao đó đang chờ đợi sự dày công của nhiều nhà nghiên cứu, nhất
là các nhà nghiên cứu ngƣời bản ngữ Tày – Nùng Việt Nam” [16, tr.84].
Qua việc tóm tắt lại những quan điểm của các học giả ở trên ta có thể
khẳng định: vào thế kỷ XVII, chữ Nôm Tày đã hoàn chỉnh và đƣợc sử dụng một
cách rộng rãi. Tuy nhiên, nó ra đời chính xác vào năm nào, ở thời đại nào vẫn

12. Nam Kim – Thị Đan (Truyện Nam Kim, Thị Đan).
13. Quảng Tân – Ngọc Lƣơng (Truyện Quảng Tân, Ngọc Lƣơng).
14. Hán Bình – Thị Xuân (Truyện Hán Bình, Thị Xuân).

Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
14
Trên đây là 14 văn bản trong số 43 văn bản về ngôn ngữ - văn học đƣợc
viết dƣới dạng văn bản Nôm Tày đƣợc tác giả thống kê. Chúng tôi đề cập tới
những văn bản trên, qua đó muốn bàn tới một vấn đề: Văn học viết (hay văn
học thành văn) của ngƣời Tày chính thức xuất hiện từ bao giờ?
Đa số các học giả đều đồng tình chữ Nôm Tày vào thế kỷ XVII đã trở
nên hoàn thiện bởi nó xuất hiện trong Lượn tứ quý của Nông Quỳnh Vân,
Lượn tam nguyên của Bế Văn Phủng, tƣơng truyền là những ông tổ làn điệu
Then của ngƣời Tày. Về huyền thoại tổ nghề Mo – Then, Giáo sƣ Trần Quốc
Vƣợng đã luận giải thế này: “Khi nhà Mạc ở Cao Bằng mòn mỏi đi vì các
cuộc đánh phá của nhà Lê – Trịnh và mất ngôi hẳn từ 1677 (tàn dƣ quân Mạc
vẫn còn đến quãng 1744) thì các ca công, nhạc công của triều đình tản mát
vào trong dân và Tày hóa. Trƣớc và sau đó, do có hiểu biết về âm nhạc cung
đình Lê – Mạc, họ dạy cho dân, cho các ông Mo – Then nhiều bài hát, bản
nhạc. Những làn điệu đó đã đƣợc Tày hóa và dân gian hóa thành các bài Bụt,
bài Giàng. Song ngƣời Pháp sƣ Tày vẫn nhớ ơn họ và thờ họ làm tổ sƣ với
các tên Quản nhạc, Lý Quỳnh Văn (Vân)’’. [ 16, tr. 60 – 61].
Lượn Tam Nguyên của Bế Văn Phủng (hay còn đƣợc dân gian gọi là Tƣ
Thiên Quản Nhạc) dài 760 câu thơ. Ở đó bộc lộ những tâm trạng hết sức
thành thực của ông Tƣ Thiên về một xã hội cơ cực, đầy rẫy yếu hèn và hơn
hết là ông tự trách mình đã sinh nhầm thời thế:
“Tự trách thân sinh thời lạc thế
Trách sao mà tạo hóa xoay vần
Hiền sĩ nghĩ thƣơng thân sầu tủi

lại bằng văn tự. Lượn tam nguyên của Bế Văn Phủng và Lượn hồng nhan tứ
quý của Nông Quỳnh Vân có thể nói là hai cứ liệu khả dĩ nhất để chứng minh
văn học viết Tày đã có mặt từ thế kỉ XVII. Bởi cho dẫu sử dụng thể loại của
dân gian để sáng tác (Lƣợn – một thể loại của văn học dân gian Tày) thì về
nội dung nó cũng đầy ắp cá tính sáng tạo của hai ông tổ nghề Mo – Then và
điều đặc biệt là chữ Nôm Tày trong hai tác phẩm này đã đƣợc sử dụng nhuần
nhuyễn, tinh tế, hấp dẫn.
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
16
Tuy nhiên, khi nghiên cứu văn học viết Tày, nhất là giai đoạn trung đại,
chúng tôi lại gặp phải tình trạng “lƣỡng cƣ” bởi sự hòa quyện của hai loại
hình văn học: văn học dân gian và văn học thành văn. Các tác phẩm truyện
thơ Nôm đều là khuyết danh mà đây lại là thể loại chủ đạo, chiếm số lƣợng
đông đảo nhất của văn học viết Tày ngay từ khi mới định hình. Thế nên khi
điểm qua những ý kiến đánh giá, chúng tôi nhận thấy phần đông các nhà
nghiên cứu đều sử dụng cụm từ “văn học dân gian đã thành văn”. Rõ ràng là
tên tác giả, cái dấu ấn cá nhân quan trọng để xác định một tác phẩm văn học
viết đã bị lu mờ ở đây. Nhƣng nếu cho rằng tất cả các truyện thơ Nôm khuyết
danh đều thuộc văn học dân gian (vì những cái gì không rõ ràng thì quy về
dân gian hết) thì sẽ vô cùng thiệt thòi cho văn học viết của tộc ngƣời Tày. Bởi
lẽ, không thể loại trừ yếu tố những trí thức nho học của ngƣời Tày đã sáng tác
ra những câu chuyện đó và những câu chuyện đó lại trở về dân gian. Vì vậy,
truyện thơ Nôm giống nhƣ một điểm nối giữa văn học dân gian và văn học
thành văn (về vấn đề này chúng tôi sẽ trở lại trong chƣơng 2 của luận văn).
Trong công trình Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam của Phan Đăng Nhật,
ông có nhận xét đại ý rằng: Truyện Nôm miền xuôi cũng nhƣ truyện thơ Nôm
miền núi, đều là bƣớc nối giữa văn học dân gian và văn học thành văn, đều
mang tính chất của hai loại hình văn học nói trên.
Còn tác giả Vũ Anh Tuấn trong chuyên luận về truyện thơ Tày, ông đã

chục câu đối, phú…Hoàng Đức Hậu đã vẽ lên hiện thực xã hội cũ là cảnh đánh bạc,
lên đồng đáng khinh, là cảnh đi phu cay đắng, bất công, là cảnh đào củ mài vất vả
mà thu hoạch lại là sự thất vọng, đói vẫn hoàn đói…” [16, tr. 15 – 16].
Chỉ bằng vài lời nhận xét ngắn gọn nhƣng Hoàng Triều Ân đã phác họa
đƣợc dòng chảy của văn học thành văn Tày từ khi định hình. Vẫn còn có ý
kiến mang tính phỏng đoán, ví dụ ông cho rằng một số truyện thơ Tày đã xuất
hiện từ thế kỷ XIV, có nghĩa là nó ra đời trƣớc cả trào lƣu sáng tác truyện thơ
trong văn học Việt. Điều này không phải không có căn cứ. Bởi nếu xem xét ở
góc độ truyền miệng, ngƣời ta kể cho nhau, hát cho nhau nghe thì rất có thể
truyện thơ Tày đã hình thành trƣớc đó khá lâu. Vũ Anh Tuấn nhận định:
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
18
“Không phải đến thế kỷ XVII, ngƣời Tày mới sáng tác truyện thơ. Một số
truyện thơ Tày đã có nguồn mạch sơ khai từ lâu, có thể vào khoảng từ thế kỷ
thứ V, và đã khá phổ biến vào thế kỷ thứ X ở dạng sơ khai trên cơ sở những
Lƣợn tích, Lƣợn sử và truyện kể dân gian Tày.” [22, tr. 63]. Nhƣng để có sự
tác động, sự thêm thắt, sáng tạo của các tác giả - những nhà nho ngƣời Tày cụ
thể thì phải đợi chữ Nôm Tày hoàn thiện, truyện thơ Nôm Tày mới ra đời.
Trong bài tham luận Suy nghĩ ban đầu về Folklore Cao Bằng, nhà
nghiên cứu Nguyễn Trọng Báu đã có những nhận định bƣớc đầu, tuy nhiên rất
cần thiết cho chúng tôi trên con đƣờng giải mã văn học thành văn của tộc ngƣời
Tày: “Các tác phẩm văn học dân gian thành văn, nhất là các truyện thơ Tày
Nùng còn lƣu giữ lại nhƣ Nam Kim – Thị Đan, Kim Quế, Lưu Đài – Hán Xuân,
Khảm hải…luôn luôn là những giá trị văn học có ảnh hƣởng tới hiện tại.
Nhà thơ tiêu biểu của Cao Bằng là Hoàng Đức Hậu, ngôi sao sáng của
thơ ca Tày Nùng khu vực đông bắc nói chung trƣớc Cách mạng tháng
Tám…Các nhà thơ, nhà văn Cao Bằng hiện nay nối tiếp Hoàng Đức Hậu,
đang là những ngƣời phát huy văn hóa dân gian của dân tộc mình ở Cao Bằng
nhƣ Triều Ân, Thái Dƣơng, Triệu Báo, Nông Đình Tuấn, Bế Thanh Giang, Hà

Viện nghiên cứu Hán Nôm đánh giá là “hai tập truyện dân gian”. Hai tác
phẩm văn học dân gian “biên soạn” lại này đƣợc viết dƣới dạng văn tự Hán
Việt, ghi chép về những nhân vật nổi tiếng của bản địa nhƣ Nùng Trí Cao, Bế
Khắc Thiệu, Dƣơng Tự Minh…Nhƣ vậy là bên cạnh những văn bản đƣợc viết
dƣới dạng văn tự Nôm Tày thì còn những văn bản đƣợc viết dƣới dạng văn
bản Hán Việt. Có lẽ cần phải tìm tòi nhiều hơn nữa, bởi chắc còn một kho
tàng văn học viết phong phú đang “ẩn náu” trong dân gian ở các vùng mà
ngƣời Tày cƣ trú. Nhƣ Nguyễn Trọng Báu đã gợi ý hẳn phải có sự xuất hiện
của một nền văn hóa, văn học khi nhà Mạc lên đóng đô tại đây và đã làm
không khí văn hóa đô hội đó lan tỏa ra xung quanh.
Nhƣ vậy, cùng với sự xuất hiện của chữ Nôm Tày và những văn bản Nôm
Tày đầu tiên (cả ở thể loại Lƣợn, Pựt - những thể loại ca dao, dân ca của dân tộc
Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
20
Tày và những tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết danh), có thể khẳng định văn
học viết Tày đã hình thành từ thế kỷ XVII. Những giả thuyết cho rằng văn học
viết Tày bắt đầu từ thế kỷ XIV hoặc sớm hơn thế kỷ XVII thì vẫn chỉ là giả
thuyết, bởi chƣa có tƣ liệu nào khả dĩ để minh chứng cho điều đó.
Từ sự phân tích trên, có thể hình dung về chặng đƣờng phát triển của
văn học viết Tày nhƣ sau: Văn học viết Tày bắt đầu với Lượn tứ quý của
Nông Quỳnh Vân và Lượn tam nguyên của Bế Văn Phụng vào thế kỉ XVII,
sau đó là sự nở rộ của hàng trăm tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết danh.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX văn học viết Tày ghi nhận sự góp mặt của
Hoàng Đức Hậu – một thầy đồ ngƣời Tày xuất sắc. Tiếp nối mạch nguồn văn
học viết đó là thế hệ của những nhà thơ trƣởng thành trong kháng chiến nhƣ Vi
Hồng Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu, Triều Ân…Và
những thế hệ tiếp nối sau này đang sáng tác bằng cả hai song ngữ Tày – Việt.
* Tiểu kết:
Tộc ngƣời Tày đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu đời và có một phong tục,

Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu
Hoàng Thị Lựu
22
Chương 2
TRUYỆN THƠ NÔM TÀY KHUYẾT DANH

2.1 Một cái nhìn toàn cảnh về truyện thơ Nôm Tày
Trên con đƣờng tìm hiểu truyện thơ Tày, chúng tôi có cảm giác nhƣ
đang bƣớc vào một không gian còn khá “nguyên sơ”. Nếu xét riêng trong lĩnh
vực nghiên cứu văn học (những vấn đề về đề tài, chủ đề, nội dung hay những
vấn đề về thi pháp…), sẽ thấy các nhà nghiên cứu bản tộc chƣa có sự “săm
soi” cần thiết để giải mã văn học Tày - một bộ phận quan trọng trong nền văn
học Việt Nam. Tuy vậy vẫn phải nhận thấy công lao to lớn của các trí thức
Tày từ trung, cận đại cho tới hiện đại. Từ những tác giả khuyết danh đã để lại
những pho truyện thơ Tày bằng chữ Nôm thời trung đại cho tới các học giả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status