1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN PHƢƠNG NAM
TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học Hà Nội - 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… 10
6. Dự kiến đóng góp của luận văn……………………………………….11
7. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………11
PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………12
Chương 1: Truyện ngắn Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi thời kỳ đổi mới.12
1.1. Những tiền đề về chính trị - xã hội, văn hóa - thẩm mĩ liên quan đến sự
tiếp nối và chuyển hướng của đề tài, đội ngũ sáng tác………………………12
1.1.1. Những tiền đề về chính trị - xã hội ………………………………… 12
1.1.2. Tiền đề văn hóa - thẩm mĩ ………………………………….……… 14
1.2. Hành trình sáng tác của Bảo Ninh……………………………….……23
1.3. Truyện ngắn Bảo Ninh trong thời kỳ đổi mới……………………… 25
Chương 2: Cốt truyện và nhân vật………………………………………… 32
2.1. Cốt truyện……………………………………………………………….32
2.1.1. Khái niệm cốt truyện………………………………………………….32
2.1.2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Bảo Ninh……………………….33
2.2. Nhân vật…………………………………………………………………35
2.2.1. Khái niệm nhân vật……………………………………………………35
2.2.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Bảo Ninh………………… 37
2.2.2.1. Nhân vật người lính…………………………………………………38
2.2.2.2. Nhân vật người phụ nữ…………………………………………… 46
4
2.2.2.3. Những nhân vật khác trong các tác phẩm viết về cuộc sống thời hậu
chiến……………………………………………………………………… 49
Chương 3: Kết cấu và ngôn ngữ…………………………………………… 55
3.1. Kết cấu………………………………………………………………… 55
3.1.1. Kết cấu trong tác phẩm văn học…………………………………… 55
3.1.2. Kết cấu trong truyện ngắn Bảo Ninh………………………………….56
3.2. Ngôn ngữ……………………………………………………………… 63
Bảo Ninh thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành và khẳng định mình thời
hậu chiến, đúng ra là từ đổi mới. Danh tiếng và đóng góp của ông cho nền văn
học Việt Nam đương đại là không thể phủ nhận. Là một hiện tượng văn học,
việc thu hút sự chú ý của nhiều người, ít nhất là trong một thời điểm nào đó là
điều bình thường, nhất là ở Việt Nam. Bảo Ninh thuộc số những hiện tượng
như vậy.
Trong suốt quá trình sáng tác của mình, Bảo Ninh đã viết rất nhiều tác
phẩm, không ít trong số đó được đánh giá rất cao cả trong và ngoài nước.
Năm 1987, xuất bản truyện ngắn Trại bảy chú lùn. Năm 1991, tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh (in lần đầu năm 1987 tên là Thân phận của
tình yêu) được tặng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và đã được đón chào
nồng nhiệt. Năm 2005, tác phẩm này được tái bản với nhan đề ban đầu là
Thân phận của tình yêu; năm 2006 tái bản với nhan đề đã trở thành nổi tiếng:
Nỗi buồn chiến tranh. Ngoài tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đoạt giải
thưởng Hội nhà văn, các tác phẩm của ông chủ yếu là truyện ngắn, có những
truyện rất đặc sắc như: Hà Nội lúc không giờ, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng
xưa cũ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, Ba lẻ một, Thách đấu … với phong
cách viết cô đọng và những khúc vĩ thanh đầy cuốn hút. Gần đây nhất, năm
2008 Văn Mới xuất bản cuốn Lan man trong lúc kẹt xe tuyển tập các tác phẩm
chọn lọc của ông. Bảo Ninh đã từng tự trào những truyện ngắn của mình là
6
“những truyện ngắn làng nhàng và lỡ nhỡ” nhưng thực sự nó có phải “làng
nhàng và lỡ nhỡ” như ông nói hay không hay đó chỉ là sự khiêm tốn của một
nhà văn thực sự có bút lực?.
Một trong những hướng tiếp cận thành tựu văn học được nhiều nhà
nghiên cứu gần đây quan tâm là tiếp cận thành tựu về phương diện thể loại;
không phải là thể loại trong thế tĩnh mà là thể loại trong sự vận động, trong nỗ
lực tương tác liên thể loại. Từ góc nhìn này, chúng ta sẽ thấy được bức tranh
chúng tôi muốn nghiên cứu việc nhận thức và thể hiện đề tài ở truyện ngắn
của một nhà văn cụ thể.
2. Lịch sử vấn đề
Như chúng ta đã biết, văn xuôi nói chung và truyện ngắn của Bảo Ninh
nói riêng ra đời trong một giai đoạn văn học đặc biệt - giai đoạn đánh dấu
bước chuyển mình của văn học Việt Nam thời chiến tranh sang thời văn học
hậu chiến. Vì vậy, để hiểu được một cách sâu sắc, trung thực, toàn diện về
nhiều lớp nội dung chứa đựng trong các tác phẩm của Bảo Ninh, chúng ta
phải đặt và xem xét nó dưới nhiều góc độ và bối cảnh khác nhau.
Trước hết chúng ta phải xem xét vấn đề trong bối cảnh rộng của nó, đó
là bối cảnh của những cuộc tranh luận chưa ngã ngũ về đổi mới trong văn học
Việt Nam từ sau 1975, phát triển hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp,
cũng như chưa thật định hình chắc chắn. Các hiện tượng văn học: tác giả, tác
phẩm ra đời, sự khen chê chưa nhất quán - người khen hết lời, người chê hết
mức. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Thời kỳ văn học vừa qua và xu
thế phát triển đã có thái độ tán thành, khen ngợi: "Thời kỳ văn học từ sau
1975 đã đặc biệt định hướng sắp tới. Đến nay đã 15 năm nhưng vẫn còn là
sớm để thấy hết chân giá trị của những tác phẩm ra đời và những tác giả xuất
hiện được chú ý ở thời kỳ này - một thời kỳ phong phú các hiện tượng văn
học" (Báo Văn nghệ, số 15, 1990). Nhà văn Bùi Hiển cũng khẳng định: "Ngay
8
từ đầu những năm 80, đặc biệt là trong văn xuôi, sân khấu và điện ảnh đã bắt
đầu xuất hiện những sáng tác mang nhiều sắc thái mới" (Báo Văn nghệ, số 49,
tháng 12 năm 1989).
Nhưng bên cạnh đó một số ý kiến của các nhà nghiên cứu khác lại cho
rằng đây là một bước thụt lùi của văn học Việt Nam, đặc biệt là đối với lĩnh
vực thơ ca. Trong lĩnh vực văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết), cũng có một số
ý kiến không tán thành, như một số bài phê bình đối với hiện tượng Nguyễn
ngắn" [55, tr. 337]. Bích Thu trong Những thành tựu của truyện ngắn sau
1975 cũng xem Bảo Ninh là một cây bút ấn tượng với người đọc [62, tr. 32].
Đi vào tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Bảo Ninh tác giả cuốn sách Bình luận
truyện ngắn chỉ ra truyện Khắc dấu mạn thuyền là kiểu tình huống tượng
trưng. Hay WayneKarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn Tình
yêu sau chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh:
"in dấu niềm khao khát tình yêu", "đối diện trực tiếp với hậu quả chiến tranh,
những bậc cha mẹ bị mất con".
Bảo Ninh còn là tác giả của cuốn tiểu thuyết rất thành công về đề tài
chống Mỹ: Thân phận của tình yêu. Nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong tác
phẩm này trở thành mối quan tâm của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu và
người đọc. Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại đã khẳng định:
"Trong văn học mấy chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là quyển
tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất. Có
thể nói Phương là nhân vật phụ nữ đẹp nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt
Nam" [19, tr. 265]. Tác giả nhấn mạnh: "Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một
điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài 35 năm ( ), những cảnh tả chiến
tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm" [19, tr. 265].
Bên cạnh nỗi buồn chiến tranh là nỗi buồn về tình yêu, Đỗ Đức Hiểu nhận
định: "Nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau ( ) tình yêu,
10
chiến tranh, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây chóng mặt, bàng hoàng, nhức
nhối" [19, tr. 266].
Nghiên cứu về Thân phận của tình yêu ở góc độ thi pháp, tác giả Trần
Quốc Huấn trong Tạp chí Văn học (số 3 - 1991) đã quan tâm đến thiên truyện
từ điểm nhìn chiến tranh: "Toàn bộ tác phẩm là các nhìn ngoái lại, thờ thẩn,
đăm đắm của một người lính khi đã tàn cuộc. Cái nhìn dằng dặc đầy phân tán
nhưng không hề lơ đãng. Điểm nhìn có góc độ rộng, song khá tập trung" [22,
Bảo Ninh với độ dài của thời gian, điểm nhìn mới mẻ của chiến tranh trong
quá khứ giúp nhà văn mạnh dạn nhận rõ cuộc chiến tranh không chỉ mang âm
điệu hào hùng thắng lợi mà còn đượm nét đau thương bi tráng trong những
ngôi nhà, nơi ngõ phố vắng vẻ hoặc làng quê núi đồi quạnh hiu, qua từng nỗi
bất hạnh cô đơn của bao người con gái nhỏ hậu phương đêm đêm không ánh
đèn mỏi mắt chờ đợi". Nguyễn Trường Lịch còn phát hiện những mới mẻ ở
cuốn tiểu thuyết này: "Điểm mới nhất trong kết cấu Thân phận của tình yêu là
ở chỗ tác giả lấy trục thời gian chi phối mọi hành động xuyên suốt các tính
cách nhân vật, trải rộng các vung không gian mênh mông của chiến trường từ
Bắc chí Nam". Đó là những gợi ý tuy ít ỏi của các tác giả, những nhà nghiên
cứu đi trước song rất có ý nghĩa cho chúng tôi khi nghiên cứu truyện ngắn
Bảo Ninh từ góc nhìn thể loại.
Như vậy, thể hiện cái nhìn tổng quát toàn diện, có hệ thống, chuyên sâu
trong việc nghiên cứu và có một cái nhìn hệ thống về Truyện ngắn Bảo Ninh
từ góc nhìn thể loại là một vấn đề cần thiết. Hy vọng đề tài sẽ mang đến một
ý nghĩa khoa học và thực tiễn hữu ích.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những đặc sắc riêng trong truyện ngắn Bảo Ninh, từ đó khẳng
12
định những đóng góp không nhỏ của Bảo Ninh trong nền văn xuôi hiện đại
Việt Nam, đặc biệt trong thể loại truyện ngắn.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu những phương diện cơ bản về thể loại truyện ngắn của nhà
văn Bảo Ninh.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
6.1. Luận văn tập trung tìm hiểu Truyện ngắn Bảo Ninh từ góc nhìn thể
loại nhằm mục đích bước đầu chỉ ra những đóng góp của Bảo Ninh đối với
nền văn xuôi Việt Nam hiện đại ở phương diện thể loại.
6.2. Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong sẽ đóng góp một chút
công sức cho công tác nghiên cứu - phê bình văn học hiện đại để chúng ta
thấy được chân dung về một tác giả văn xuôi đặc sắc.
6.3. Thấy được những nét cơ bản trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện
và những nét cơ bản trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
triển khai nội dung thành 3 chương:
Chương 1: Truyện ngắn Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi thời kỳ đổi
mới
Chương 2: Cốt truyện và nhân vật
Chương 3: Kết cấu và ngôn ngữ
14
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TRUYỆN NGẮN BẢO NINH TRONG BỐI CẢNH
VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1. Những tiền đề về chính trị - xã hội, văn hóa - thẩm mĩ liên
quan đến sự tiếp nối và chuyển hƣớng của đề tài, đội ngũ sáng tác
1.1.1. Những tiền đề về chính trị - xã hội
Văn học là một hiện tượng lịch sử xã hội, được ra đời, phát triển trong
một hoàn cảnh lịch sử nhất định, văn học trở thành tấm gương phản chiếu đời
những khó khăn, thách thức gay gắt và đã có những biến đổi sâu rộng trên
mọi mặt của quá trình văn học.
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) là Đại hội đánh dấu sự đổi mới toàn
diện của Đảng ta. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện mọi mặt: Kinh
tế, văn hoá, chính trị, ngoại giao Đại hội VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử
trọng đại đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã
hội và mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam. Đại hội đã tìm ra lối thoát
cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện
đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Viêt Nam.
Với Đại hội này, Đảng ta kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đổi mới tư duy
nhìn thẳng vào hiện thực đất nước và đời sống nhân dân để đề ra đường lối
đúng đắn. Đây là thời kỳ chúng ta xác định đúng đắn hướng đi của đất nước,
mở đầu một thời kỳ đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đây cũng là thời kỳ mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ quan liêu bao cấp. Có thể nói, nhờ công cuộc
đổi mới mà Đảng ta đã tiến hành hơn 20 năm qua nên mọi mặt của đất nước
đã được thay đổi: Chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân
được nâng lên khá cơ bản, văn hoá xã hội cũng vì thế có được sự phát triển
16
mạnh mẽ và đổi mới sâu sắc.
1.1.2. Tiền đề văn hoá - thẩm mĩ
Đường lối đổi mới toàn diện mà Đại hội VI đề ra đã mở đường cho sự
đổi mới trong văn học. Lúc này, người nghệ sĩ đã dám nhìn thẳng vào hiện
thực cuộc sống, có quyền nói thẳng, nói thật các vấn đề miễn là nhà văn phải
đứng trên lập trường quan điểm của Đảng khi phản ánh vấn đề hiện thực. Mặt
khác hiện thực cuộc sống thay đổi đã dẫn đến nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu
thưởng thức văn của công chúng cũng thay đổi. Trong hoàn cảnh đất nước
tác phẩm”. Nguyễn Tuân lại khẳng định: Văn học giai đoạn này hình như có
một khoảng “chân không văn học”
Tất cả những điều kiện trên buộc nhà văn - người nghệ sĩ cầm bút phải
thay đổi cách viết, cách xây dựng hình tượng nhân vật, đặc biệt là quan niệm
nghệ thuật về con người Điều này lí giải tại sao trong văn học dân tộc sau
1975 lại xuất hiện các hiện tượng "lạ" như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc
Trường, Dương Hướng, Bảo Ninh Nền văn xuôi sau 1975 vì vậy cần quan
tâm đến con người một cách toàn diện hơn, không chỉ đấu tranh giai cấp và
đấu tranh dân tộc, trong lao động và công tác mà cả trong cuộc sống bình
thường hàng ngày; không chỉ con người xã hội mà cả con người riêng tư, con
người tự nhiên; không chỉ tư tưởng, quan niệm mà cả tình cảm, tâm lí; không
chỉ đời sống hữu thức mà cả những cái thoáng qua bất chợt, mơ hồ trong đời
sống vô thức
Văn xuôi đang bước vào một chặng đường mới với những thành tựu
đáng khích lệ. Nó tập trung giải quyết hàng loạt những vấn đề mới của chủ
nghĩa xã hội trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ, đồng thời trang
trải món nợ tinh thần đối với hai cuộc chiến tranh dân tộc. Văn xuôi cũng
đang có những tìm tòi, khám phá đáng khích lệ, những đóng góp mới về mặt
thể loại và phong cách thể hiện. Trong bước đường đi lên phía trước không
18
khỏi có những hạn chế và thử nghiệm chưa thành công.
Năm 1975 trở thành mốc chấm dứt một giai đoạn lịch sử của dân tộc để
chuyển sang một vận hội mới. Đối với văn học, bối cảnh mới tạo nên những
chấn động sâu xa trong ý thức nghệ thuật. Từ một nền văn học đấu tranh của
chiến tranh, của những yêu cầu nghiêm ngặt của chính trị, tư tưởng toàn bộ
nền văn học với những kinh nghiệm tích lũy được không phải chỉ là 40 năm
cách mạng mà trên cả chặng đường dài lịch sử văn học dân tộc, đang có
những nhu cầu mới - nhu cầu trở lại với sự sáng tạo trong dân chủ - nhu cầu
trải qua 3 chặng đường, có sự nối tiếp không đứt đoạn: từ 1975 - 1985 là giai
đoạn chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang nền văn học thời hậu
chiến; từ 1986 đến đầu thập kỷ 90 là thời kỳ văn học đổi mới sôi nổi, mạnh
mẽ gắn liền với chặng đường đầu của công cuộc đổi mới đất nước; từ 1993
đến nay văn học trở lại với quy luật bình thường và hướng sự quan tâm nhiều
hơn đến sự cách tân nghệ thuật.
Nếu nhìn vào hành trình đổi mới văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay
qua những chặng đường và thành tựu của nó ta sẽ thấy rõ sự thay đổi về tư
duy nghệ thuật (chủ yếu qua truyện ngắn và tiểu thuyết).
Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu cầu "đổi mới tư
duy tiểu thuyết". Tiểu thuyết Việt Nam những năm tiền đổi mới (1975 - 1985)
vẫn theo đà quay "quán tính" nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực
trong một diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong tư duy
nghệ thuật của nhà văn như: Họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Miền
cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn lốc (Khuất Quang Thụy), Đồng bạc
trắng hoa xoè (Ma Văn kháng) Chỉ khi bước vào thời kỳ đổi mới trong
không khí dân chủ của đời sống văn học, văn xuôi Việt Nam mới thực sự đổi
mới tư duy nghệ thuật. Từ sau 1986 đó là sự khởi sắc của văn xuôi trong đó
tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo, bộc lộ ưu thế của mình trong cách "nhìn
20
thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói đúng sự thật"; bao quát được
những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong vận
động và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của công chúng đương
đại: Thời xa vắng (Lê Lựu); Thiên sứ (Phạm Thị Hoài); Mưa mùa hạ, Mùa lá
rụng trong vườn (Ma Văn Kháng ); Thời gian của người, Một cõi nhân gian
bé tí (Nguyễn Khải); Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh); Cõi người rung
chuông tận thế (Hồ Anh Thái); Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy
Anh)…
thời gian mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi là: "khoảng chân không" trong văn
học. Nhưng cũng chính trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều
sâu của đời sống văn học, với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt
ở một số nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ý thức trách
nhiệm cao về ngòi bút của mình. Những tìm tòi bước đầu ấy đã mở ra cho văn
học những hướng tiếp cận mới về hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái hiện
thực đời thường với những vấn đề đạo đức - thế sự, đang tồn tại nổi cộm đòi
hỏi văn học phải nhận thức, khám phá.
Từ 1986 đến đầu những năm 90, là giai đoạn văn học đổi mới thực sự,
tập trung vào mồ tả hiện thực với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật. Văn xuôi
viết về con người và cuộc sống với tất cả những mặt tốt, xấu của nó. Có thể
kể các tác phẩm như: Bến không chồng (Dương Hướng); Đám cưới không có
giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Cỏ lau, Mùa trái cóc
ở miền Nam (Nguyễn Minh châu); Thân phận tình yêu (Bảo Ninh) Các cây
bút này đã đi vào thể hiện các khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan
hệ thế sự đan xen nên cuộc sống đời thường phức tạp. So với trước đây, nhiệt
tình phê phán của văn học giai đoạn này dữ dội hơn rất nhiều. Đặc điểm nổi
bật trong văn học là khuynh hướng đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những
sai lầm của quá khứ - cái mà người ta nói là khuynh hướng văn học phơi bày
22
tố cáo. cố nhiên cảm hứng phê phán cũng có lúc đẩy tới cực đoan, lệch lạc và
người viết bộc lộ một cái nhìn ảm đạm hoài nghi thiên lệch.
Quả thật, sự xuất hiện của cảm hứng sự thật khi viết về con người cuộc
sống là một tất yếu, đồng thời là điều tất yếu mà văn học cần phải vượt qua để
tìm đến những chiều sâu mới. Sự phơi bày, kể lể, ngợi ca con người đã đến
lúc người đọc đòi hỏi một chiều khác hơn, người ta chờ ở nhà văn qua sự vận
động xã hội phức tạp đó đưa đến cho người ta những tổng kết nhân văn sâu
sắc và lâu dài qua hình tượng nghệ thuật.
tranh luận của nhà văn quân đội: Thái Bá Lợi, Hai người trở lại trung đoàn
(1976) đã từ bỏ lối viết đơn giản, một chiều về cuộc sống và con người, tác
giả đã mạnh dạn trình bày tính chất ngày càng trở nên phức tạp của cuộc sống
và con người thời đại được thử thách qua ngọn lửa chiến tranh và chuẩn bị
nhân cách để bước vào đời sống bình thường, hoà bình. Giờ đây con người
được phát hiện, thể hiện trên bình diện đạo đức, trong tiến trình hình thành
nhân cách mới với những thử thách thầm lặng nhưng không kém phần gay go
phức tạp. Dựa vào đặc trưng của thể loại truyện ngắn là "cưa lấy một khúc
của đời sống", tìm ra những "tình huống tiêu biểu" tác giả đã chú trọng khai
thác cái thời khắc thử thách của con người khi nhân vật Thanh bị hiểu lầm,
mất tình cảm và niềm tin đối với Mây và phải im lặng. Trong chiến tranh cuộc
sống bị dồn nén, tập trung vào một hành động vì mục đích cao cả vì thế khó
có thể biện bạch thanh minh những chuyện tế nhị về danh dự, tình yêu. Con
người công dân nghĩa vụ là cao cả nhất, sau này khi Trí "lộ mặt" phản bội tình
yêu đối với Mây, sự tỉnh ngộ của nhân vật nữ, sự trở lại đàng hoàng và cao
thượng của Thanh, hồi kết của câu chuyện vẫn còn vị đắng chát của nhân tình
thế thái, nhưng vẫn đậm chất nhân văn của con người Việt Nam: Trọng chữ
tín, chữ nghĩa. Khi truyện ngắn in ra không phải không có ý kiến phê phán tác
giả là đã chú trọng vào phần khiếm khuyết của con nguời (nhân vật Trí) trong
24
khi bản thân Trí là một người anh hùng trong chiến tranh. Đúng là như vậy:
người ta có thể là anh hùng trong lửa đạn nhưng lại có thể là kẻ hèn nhát trong
tình yêu, tình bạn, tình đồng chí. Cũng như không ít kẻ giờ đây đứng trước
vành móng ngựa, rơi vào vòng lao lí, khi trước đó trong chiến tranh giải
phóng là những người cán bộ đảng viên mẫu mực, cuộc sống có nhiều cách
sàng lọc, thử thách phẩm giá con người.
Truyện ngắn sau 1975 còn chú trọng nghiên cứu thực trạng tinh thần xã
hội sau chiến tranh - đó là một hiện thực phức tạp đa dạng đan xen mặt sáng,
So với tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1975 đã thực sự khởi sắc, các nhà
văn đã có những tìm tòi nghệ thuật làm cho thể loại "nhỏ" có sức chứa, hay
nói cách khác là có khả năng khái quát nghệ thuật đời sống theo chiều sâu.
Qua đó cũng chính trong giai đoạn này đã khẳng định được nhiều cây bút
truyện ngắn có phong cách tiêu biểu như: Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên,
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê
1.2. Hành trình sáng tác của Bảo Ninh
Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, từng chiến đấu ở
chiến trường Tây Nguyên năm 1969 cho đến ngày hòa bình lập lại. Ông học
khóa II Trường Viết văn Nguyễn Du, hiện công tác tại báo Diễn đàn Văn
nghệ Việt Nam và Văn nghệ Trẻ; ông được văn đàn biết đến sau truyện ngắn
Trại bảy chú lùn in năm 1987, nhưng chỉ thực sự tạo ra làn sóng phê bình
khen chê với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (1991). Trước đó Nỗi buồn
chiến tranh được biết đến với tên Thân phận tình yêu, sau được dịch ra tiếng
Anh “The Sorrow of War”. Cuốn tiểu thuyết thứ 2 có tên Thảo nguyên suốt
bao năm cho đến nay chưa từng được công bố và dường như để thay vào đó là
loạt truyện ngắn và bút ký văn học thỉnh thoảng đăng tải trên báo chí, đã in
thành nhiều tập và được tuyển chọn thành tập.