Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại - Pdf 29

Lời cảm ơn
===**===

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lý Hoài
Thu - người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô
khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, tạo điều kiện
cho tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Công đoàn, tổ Văn - Sử -
GDCD và đồng nghiệp trường Phổ thông dân tộc nội trú - Trung học phổ
thông Miền Tây đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của cha mẹ, anh chị em và
bạn bè. Đó chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn
thành luận văn này.
Người viết luận văn Nguyễn Thị Thảo LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự
giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Người viết luận văn


1.2.1. Khái niệm nhân vật 26
1.2.2. Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 28
Chương 2: KẾT CẤU VÀ KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 41
2.1. Kết cấu 41
2.1.1. Kết cấu trong tác phẩm văn học 41
2.1.2. Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 42
2.2. Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư 47
2.2.1. Nghệ thuật tổ chức không gian 47
2.2.2. Nghệ thuật tổ chức thời gian 58
Chương 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 69
3.1. Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 69
3.1.1. Quan niệm về ngôn ngữ 69
3.1.2. Những từ chỉ địa danh, địa hình, sản vật Nam Bộ 70
3.1.3. Những từ chỉ trạng thái, hành động theo kiểu Nam Bộ 75
3.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 76
3.2.1. Quan niệm về giọng điệu 76
3.2.2. Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh 78
3.2.3. Giọng điệu tâm tình, chia sẻ 82
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn trẻ được biết đến nhiều
nhất tại Việt Nam hiện nay. Trong suốt quá trình làm việc, nhà văn Nguyễn
Ngọc Tư đã viết rất nhiều các tạp văn, tạp bút, và truyện ngắn, không ít trong

ngoài nước đón đọc nhiệt tình. Do đó, vì lòng yêu mến của bản thân đối với
các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như với văn học Nam
Bộ, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài luận văn là "Truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại".
Việc tìm hiểu "Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thể loại"
của một tác giả trẻ như Nguyễn Ngọc Tư là một công việc đòi hỏi người viết
một thái độ đánh giá khoa học. Chúng tôi mạnh dạn căn cứ vào một số tập
truyện ngắn đã xuất bản trong thời gian qua của Nguyễn Ngọc Tư để nghiên
cứu, xem như bước đầu khảo sát thể loại truyện ngắn của cây bút trẻ này qua
một chặng đường sáng tác.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư có một sự khởi nghiệp vất vả, nhọc nhằn và đặc biệt
hơn các nhà văn khác. Chị phải bỏ dở học hành vì ông ngoại già yếu. Chị chỉ
học hết lớp 9 phổ thông, cấp ba bổ túc, sống giản dị cùng người chồng thợ bạc
chẳng bao giờ đọc truyện vợ viết nhưng chị thực sự là một tài năng rực sáng ở
vùng cực Nam của Tổ quốc. Chị cầm bút viết văn từ chính hiện thực quê
nghèo với kênh rạch chằng chịt, con người đi lại đều trên mặt nước, một bước
cũng phải ghe xuồng.
2.1. Ý kiến đánh giá về Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm
Thành công của Nguyễn Ngọc Tư là tác phẩm Ngọn đèn không tắt.

3
Tác phẩm đầu tay đoạt giải 3 báo chí trong năm 1997 đã chính thức đưa
Nguyễn Ngọc Tư vào nghề văn với những thành công tốt đẹp tiếp theo. Mặc
dù không gây xôn xao dư luận nhưng Ngọn đèn không tắt dành được nhiều
cảm tình của dư luận và các nhà chuyên môn.
Khi nhắc đến những bài viết về Nguyễn Ngọc Tư trước hết phải kể đến
bài Nguyễn Ngọc Tư như thế nào? của nhà văn Dạ Ngân đăng trên báo Văn
nghệ. Nhà văn từng bộc bạch: "Tôi đã viết bài Nguyễn Ngọc Tư như thế nào?
bằng tâm trạng thú vị khi nhớ đến lời khen mà người ta dành cho Solokhov:

(2008); Khói trời lộng lẫy (2010).
Nói về Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận định "Mấy
năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy như một cái cây tự
nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường,
đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất
mà tinh tế, đặc biệt "Nam Bộ " một cách như không, chẳng cần chút cố gắng
nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước"[18;1].
Nhà văn Chu Lai phát biểu: "Tôi là người đã bỏ phiếu bầu Nguyễn
Ngọc Tư vào Hội Nhà văn, bỏ phiếu ủng hộ cô ấy trong nhiều giải thưởng.
Nguyễn Ngọc Tư là một cây viết đặc biệt của miền Tây Nam bộ, một tài năng
văn học hiếm có hiện nay của Việt Nam"[13;1].
Một Việt kiều ở Mỹ, Giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng vì quá mê “đặc
sản miền Nam” Nguyễn Ngọc Tư nên đã lập một thư viện điện tử "Tủ sách
Nguyễn Ngọc Tư" trên website Văn hóa giáo dục của mình. Giáo sư tự bạch:
"Tôi tự lập trang web với mục đích, trước hết, cho tôi thu thập vào một nơi
những bài của (và về) Nguyễn Ngọc Tư rải rác trên web, và sau đó chia sẻ
với những bạn thích văn Nguyễn Ngọc Tư như tôi" [22;1]. Nguyễn Ngọc Tư
được ông đánh giá là một "đặc sản miền Nam".

5
Tháng 8 năm 2005, truyện ngắn Cánh đồng bất tận ra mắt bạn đọc, lúc
này những nhận định trái chiều về Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu xuất hiện kéo
theo đó là nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét khác nhau được đăng tải rộng rãi
trên các báo, tạo thành một "hiện tượng văn học" đáng chú ý năm 2005. Ngay
lúc này, nhà văn Phạm Xuân Nguyên đã tuyên bố: “Tôi muốn nói Cánh đồng
bất tận đã chia giai đoạn sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thành những truyện
trước và sau nó”[20;1]. Ở một bài báo khác Phạm Xuân Nguyên lại cho rằng
" Cánh đồng bất tận là một truyện hay, nó chứng tỏ bút lực của Nguyễn Ngọc
Tư trong việc đào sâu vào thể hiện cuộc sống và khơi sâu vào thân phận con
người. Viết được một truyện như thế chứng tỏ Tư có tài năng văn chương và

số 35 ngày 27/3 đề nghị Hội VHNT kiểm điểm phê phán nghiêm khắc nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả truyện ngắn Cánh đồng bất tận. Tiếp theo, ông
Nguyễn Hữu Thành, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiếp tục kí báo cáo
số 41 ngày 12/4/2006 về việc "Đại biểu HĐND và truyện ngắn Cánh đồng
bất tận với câu chữ khá nặng nề: "Với tư cách là cán bộ, viên chức Nhà
nước, đại biểu HĐND mà trả lời thiếu trách nhiệm, coi thường cơ quan quyền
lực ở địa phương, làm mất uy tín HĐND, làm giảm sút niềm tin của cử tri đối
với đại biểu HĐND và xem thường nông dân Việt Nam". Theo đó, báo cáo đề
nghị Đảng, Đoàn nơi Nguyễn Ngọc Tư sinh hoạt giáo dục, kiểm điểm nghiêm
khắc về việc phát ngôn thiếu trách nhiệm, đề nghị Hội VHNT Tỉnh thường
xuyên có định hướng chính trị cho hội viên (trong đó có Nguyễn Ngọc Tư)
được học tập lí luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao ý thức
trách nhiệm của người cầm bút cách mạng.
Về việc Nguyễn Ngọc Tư bị kiểm điểm, báo Tuổi trẻ đã tổ chức một
diễn đàn về Cánh đồng bất tận. Các ý kiến trao đổi, phản hồi liên tục được
cập nhật vào Tuoitreonline. Sau năm ngày mở ra diễn đàn, đã có 868 bạn đọc
tham gia góp ý kiến, viết bài.

7
Tựu trung lại, có hai luồng ý kiến:
Một bên ủng hộ lối viết dữ dội đến khốc liệt, ủng hộ việc khai thác và
phản ánh hiện thực chân thực đến trần trụi như thế, nghĩa là ủng hộ một
Nguyễn Ngọc Tư "mới". Còn phía bên kia, lại cảm thấy tiếc nuối vì chị đã đánh
mất đi chất trong trẻo, nhẹ nhàng, đầy ân tình trong những sáng tác trước đó.
Như chính tác giả thừa nhận Cánh đồng bất tận chỉ là việc "xen canh", một
ngã rẽ bất ngờ để thử thách và làm mới bản thân. Sự chuyển đổi đột ngột về
giọng điệu này khiến những độc giả đã quá quen thuộc với lối viết hiền lành,
mộc mạc của chị bị sốc. Và trong thực tế, theo dõi những tác phẩm ra đời sau
Cánh đồng bất tận, chúng tôi vẫn nhận thấy một Nguyễn Ngọc Tư của nông
thôn Nam Bộ hiền lành, chân chất nhưng ngày càng sâu sắc và ám ảnh hơn với

mảng kí ức chắp nối, đứt đoạn nhân vật. Ở đó nhân vật tan chảy thành dòng
xúc cảm hỗn độn giữa quá khứ và hiện tại, tâm cảnh và ngoại cảnh mà một
sự phục dựng đầy đủ chỉ có được khi người đọc lật đến trang cuối cùng.
Điều này đem đến cho người đọc cái hứng thú được thể nghiệm “một hiện
thực chưa hoàn kết”, được cùng theo đuổi và trải nghiệm với nhân vật, tức
là gia tăng sự tham gia của người đọc vào câu chuyện. Đó là khuynh hướng
tự sự giàu tính hiện đại”[6;2].
Ở bài viết Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, Phan Quý Bích
nhận định: “Cho nên, nhiều người viết truyện ngắn thường cố tìm ra những
cốt truyện li kỳ, những sự kiện mà người ta hay gọi là đắt giá. Không phải
trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư không có những chân dung lạ, những sự
kiện ít gặp trong cuộc sống của chúng ta vì hình như bức tranh không có chút
gì đặc biệt thì nó khó thành bức tranh của truyện ngắn. Những truyện như
thế không nhiều. Thường thì Nguyễn Ngọc Tư cho ta biết những cái "tin" giản
dị: một cô gái sửa soạn đồ mang theo trong ngày cưới, một anh bạn trẻ thấy

9
nhớ ông già hàng xóm đã đi xa. Những cái tin như thế không cần đến cốt
truyện li kỳ, những biến cố giật gân, mà chỉ như sự thông báo những gì diễn
ra quanh ta với những con người mà ta có thể bắt gặp thường ngày mà thôi.
Tuy vậy, nó vẫn là "tin", vẫn đáng chú ý vì có một cái gì đó khiến ta phải suy
nghĩ, phải chiêm nghiệm. Và đây mới là điều đáng nói” [3;1]. Phan Quý Bích
cũng nhận thấy: “Nguyễn Ngọc Tư thường kể cho ta nghe những chuyện
buồn, rất buồn. Những cảnh đời éo le, những thân phận đau đớn…” [3;2].
Trần Phỏng Diều có những nhận xét rất tinh tế về nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Mặc dù phần lớn người nông dân Nam Bộ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đều nghèo, đều có số phận long đong,
vất vả nhưng trên hết họ đã sống với nhau bằng cái tình, bằng sự yêu
thương và đùm bọc lẫn nhau… Nguyễn Ngọc Tư quả có cái nhìn sâu sắc,
tinh tế, có khả năng phát hiện ra những ngõ sâu trong tâm hồn những người

ngắn: cốt truyện, nghệ thuật, nhân vật, đồng thời qua đó cho thấy nét riêng,
độc đáo của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua
những tập truyện mang tính dấu mốc, cụ thể là các tập truyện ngắn sau:
- Ngọn đèn không tắt Nhà xuất bản Trẻ, 2001
- Giao thừa, Nhà xuất bản Trẻ, 2003
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Văn hoá, 2005
- Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2005
Đây là những văn bản tập hợp những tác phẩm đặc sắc, có giá trị và
tiêu biểu cho văn chương Nguyễn Ngọc Tư. Tuy nhiên, luận văn cũng chú ý
đến nghiên cứu những tác phẩm khác trong cả quá trình sáng tác của Nguyễn
Ngọc Tư, thấy được sự vận động trong truyện ngắn của chị.

11
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp sau:
6.1. Phương pháp tiếp cận thi pháp học
6.2. Phương pháp loại hình.
6.3. Phương pháp so sánh - đối chiếu.
6.4. Phương pháp phân tích.
6.5. Phương pháp thống kê - phân loại.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung
được chia làm ba chương:
Chương 1: Cốt truyện và nhân vật
Chương 2: Kết cấu và không gian, thời gian nghệ thuật
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
8. Dự kiến đóng góp
Luận văn tập trung tìm hiểu "Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn

cách này hay khác" [23;13,14]. Nhiều nhà nghiên cứu rất đề cao vai trò của
cốt truyện, coi cốt truyện là một yếu tố không thể thiếu trong việc quyết định
thành công của tác phẩm.
Sách Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi chủ biên cũng viết: "Hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu
cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan
trọng trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc loại tự sự và kịch
có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu cơ: một mặt
cốt truyện là phương diện bộc lộ tính cách; mặt khác, cốt truyện còn là
phương diện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội" [9;88].
Cốt truyện được hình thành bởi các sự kiện, những mâu thuẫn xã hội,
những sự tác động qua lại giữa các nhân vật trong một bối cảnh cụ thể và

13
được tổ chức có hệ thống bởi tư duy nghệ thuật của tác giả. Cốt truyện có
nhiều chức năng trong đó bộc lộ tính cách nhân vật và thể hiện nhiều xung đột
xã hội là hai chức năng quan trọng hơn cả. Chúng ta không nên hiểu cốt
truyện chỉ giản đơn là tích truyện mà "cốt truyện là chuỗi sự kiện hữu hạn có
tính liên tục trước sau, có quan hệ nhân quả hoặc có liên hệ về ý nghĩa, vừa
có tác dụng biểu hiện về tính cách, số phận nhân vật, vừa là yếu tố gây hấp
dẫn cho người đọc" [26;65]. Trong một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, cốt truyện
luôn giữ vị trí "xương sống", nó liên kết các chi tiết, các sự kiện và tạo thành
một hệ thống. Bởi vậy, trong cuốn sách Truyện ngắn - những vấn đề lí
thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng cũng khẳng định: "Cốt
truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống
và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình
thành và phát triển trong những mối quan hệ của chúng nhằm làm sáng tỏ
chủ đề tư tưởng tác phẩm" [33;70].
Cốt truyện hiểu theo cách truyền thống là: “hệ thống sự kiện cụ thể
được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ

cốt truyện, còn đa số là truyện không có cốt truyện.
1.1.2.1. Truyện có cốt truyện
Về phương diện kết cấu và quy mô về nội dung, cốt truyện của Nguyễn
Ngọc Tư thường là cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện được kể đơn giản
về số lượng và rất gọn gàng, ít nhân vật và tính cách nhân vật thường được
mô tả một cách rất tập trung và cô đọng, nhiều khi chỉ là một lát cắt của cuộc
sống được phản chiếu hay chỉ một đoạn đời nào đó của nhân vật chính được
quan tâm mà thôi. Qua khảo sát nhìn chung có thể kết luận, đa số truyện ngắn
của chị có cốt truyện khá mờ nhạt. Truyện bắt đầu từ một trạng thái tĩnh, ổn
định, sau đó xảy ra mâu thuẫn, xung đột rồi lại trở về trạng thái thăng bằng

15
như ban đầu, kết thúc một quá trình phát triển của các xung đột. Truyện chia
giai đoạn như đã đề cập ở trên. Nhưng chúng ta cũng nhận thấy, không phải
bất cứ cốt truyện nào cũng bao hàm đầy đủ ba giai đoạn như thế, hoặc vị trí
giữa các thành phần có thể hoán đổi. Có thể kể đến một vài truyện ngắn có cốt
truyện tiêu biểu như: Bến đò xóm Miễu, Chuyện vui điện ảnh,
Bến đò xóm Miễu là tác phẩm tiêu biểu của truyện có cốt truyện.
Truyện được xây dựng dựa trên số phận, hành động, biến cố của nhân vật
chính, truyện có đầu cuối rõ ràng.
Phần mở đầu: tác phẩm giới thiệu khái quát đặc điểm các nhân vật:
Lương là chàng trai nghèo, xấu xí, má mất sớm, không biết cha là ai. Anh
làm nghề chèo đò mướn ở bến đò xóm Miễu. Đã ba mươi mốt tuổi rồi mà
chưa lấy vợ. Anh có con mắt mất đoàn kết "nhìn lại, người ta tưởng anh ngó
đi đâu", suốt ngày anh "hềnh hệch ra" cười, làm như vui, làm như không,
khó nắm bắt" [44;85]. Còn Bông là một người mê chơi sông, nhà cũng ở bên
xóm Miễu. Bông thường mặc cái áo trắng bằng vải soa lông vịt, hơi ố vàng;
tan học "Bông cùng một bầy em lít chít đi mót cây vụn ở các trại xuồng về
nấu cơm" [44;85]. Nhà Bông cũng nghèo như nhà Lương, má Bông bơi
xuồng vớt chai nhựa dưới sông, ba nó thường hay nhậu xỉn rồi đánh má nó.

"khùng", là "đò" nữa. Bông đã nhận ra tình cảm mà Lương dành cho mình,
nhưng con người Lương thật thà, nhút nhát, chẳng dám cầm tay hay ôm người
mình yêu thương. Vậy là những ngày sau đó Bông lại dửng dưng qua đò như
chưa hề có chuyện gì với Lương. Để Lương lại phải chứng kiến Bông đi với
một thằng con trai mới "trẻ măng, quần áo thơm, đầu tóc thơm, chiếc xe phân
khối lớn nổ tè tè ra đám khói cũng thơm" [44;91]. Cuộc đời trớ trêu cứ xô đẩy
Bông vào hết vòng xoáy này đến vòng xoáy khác.
Đỉnh điểm của phần này là sự việc "một chiều Lương đưa Bông tươi

17
hồng qua sông" rồi nhận lại tin Bông bị tai nạn giao thông "một vụ tai nạn
giao thông thảm khốc xảy ra trong cuộc đua xe" [44;91]. Sau tai nạn ấy, Bông
không còn có thể đi được trên đôi chân của mình. Sự kiện này đánh dấu điểm
dừng trên con đường sống xô bồ, ê chề của Bông, đó cũng là cơ hội để Lương
tháo gỡ được mối tơ vò trong lòng mình.
Phần kết thúc: Bến đò xóm Miễu đã thay đổi chủ, Lương vẫn mải miết
chèo đò. Bông bây giờ đã là vợ của Lương, Bông ngồi trên bến để thu tiền.
Người lạ qua bến nhìn Bông xinh đẹp, tươi hồng rồi đọ với vẻ mặt già háp
của Lương mà tiếc hùi hụi, "tiếc đôi đũa mốc gác lên mâm son, tiếc bông nhài
thơm mà cắm nhầm bãi cứt trâu" [44;92]. Nhưng người dân xóm Miễu thì
thấu hiểu hơn, họ nhận ra tấm lòng cao thượng của Lương, sự thiệt thòi của
anh khi "cưu mang đứa con gái đã lỡ lầm còn tàn tật" [44;92]. Nhưng đã
thương rồi thì đâu cần toan tính, tình yêu trong sáng, chân thành của chàng
trai nghèo khổ, xấu xí ấy đã đem lại cho truyện một kết thúc đầy tính nhân
văn: "chớ biết làm sao, lỡ thương quá chừng rồi" [44;92].
Từ câu chuyện của chàng trai nghèo làm nghề chở đò qua sông,
Nguyễn Ngọc Tư như hé lộ một thông điệp rất nhân văn trong tình cảm con
người. Dù chỉ là người lao động bình thường như bao con người khác
nhưng tấm lòng của Lương thật đôn hậu, cao cả. Lương thương Bông đến
thắt cả gan ruột: "Người ta đưa đẩy cuộc đời Bông thế nào. Nhưng thế nào

ngoài đời. Các sự kiện, biến cố xảy ra trong xóm khi chú Sa tham gia đóng
phim và bộ phim được phát trên truyền hình được thuật lại rõ ràng và chi tiết.
Khi mới biết tin chú Sa được đóng vai lớn, cô Thư ủng hộ hết mình, cô lấy
sữa hột gà nóng đem qua cho chú Sa bồi dưỡng. Bà con trong chòm xóm cũng
ủng hộ chú hết mình: "Tối tối mọi người còn kéo đến nhà, đọc thuộc lòng kịch
bản, vô vai cho chú diễn thử luôn" [44;28]. Chú được ông Long Xưởng khen

19
ngợi hết lời: từ hồi tôi làm đạo diễn tới giờ, chưa diễn viên nào đóng hay như
thế" [41;29]. Chú " Sa đã" nổi tiếng khi phim còn làm hậu kỳ". Vui nhất là
khi chú thấy cô Thư cũng có tình ý với chú: "không biết người ta nổi tiếng rồi
có còn ghé chỗ em nữa hen?" [41;31]. Chú sống trong niềm vui và hạnh phúc.
Nhưng chuyện lại không chiều lòng người. Khi bộ phim được trình
chiếu, mọi người trong xóm háo hức đón xem. Đó là bộ phim chiến tranh bạo
liệt. Chú đóng vai ác quá và vào vai cũng rất thật, cứ như là chú sinh ra để
đóng vai này. Trẻ con sợ hãi khóc thét lên, người lớn không nói gì, lẳng lặng
ra về. Chú nhận thấy mình "đã đánh mất một cái gì đó, lớn lắm, quả tình
không có gì bù đắp được" [41;32]. Những biến cố xảy ra với chú dồn dập, tạo
ra bầu không khí căng thẳng trong xóm, chờ một sự thay đổi.
Đỉnh điểm của phần này là khi bộ phim gây tiếng vang, đám diễn viên
chuyên nghiệp có phần kiêng nể chú nhưng chú lại trở thành cô độc khi trở về
nơi thân thuộc của mình. Mọi người nghĩ chú chính là nhân vật trong phim đi
ra cuộc sống bên ngoài. Họ xa lánh chú, trẻ con sợ hãi khi gặp chú "tụi con nít
nghe tiếng xe đạp chú lè tè lọc cọc thì chắc mẫm đứa nào đứa nấy mặt xanh
mặt tím chạy vô nhà trốn" [41;34]. Người bạn chí cốt như bác Tư Cự cũng
lánh chú. Con Mẻn vùng vằng với cô Thư: "mai mốt đừng cho ổng ghé đây
nữa nghen má? Con thấy mặt ổng là con ghét" [41;33]. Như vậy, sự kiện
chú nổi tiếng trên màn ảnh không phải là chuyện tốt mà là tai nạn nghề nghiệp
của chú, "tiền bạc có lúc xây đắp được tình yêu đâu" [41;33].
Phần kết thúc của truyện là cảnh cô Thư và chú Sa bắc ghế ngồi cửa

Truyện không có cốt truyện của Nguyễn Ngọc Tư có những biểu hiện
chủ yếu như: nó có thể chỉ là những truyện đời thường vặt vãnh, hoặc một
nét tâm trạng, một tình huống, một hoàn cảnh của nhân vật. Những sáng tác
như thế bắt nguồn từ cái nhìn của nhà văn về hiện thực và con người:
"Nguyễn Ngọc Tư đã trung thành với cái "tình tự" Nam Bộ của quê hương

21
cô” [5;2], chị thường viết về những câu chuyện nhỏ xíu ở xung quanh mình,
viết về những con người ở đất Mũi. Có thể kể đến những sáng tác tiêu biểu
như: Một mối tình, Duyên phận so le, Cái nhìn khắc khoải, Thương quá
rau răm, Cuối mùa nhan sắc, Cải ơi, Huệ lấy chồng, Nhớ sông, Dòng nhớ,
Ngổn ngang, Biển người mênh mông
Cải ơi là truyện ngắn tiêu biểu cho truyện không có cốt truyện dựa trên
những truyện đời thường vặt vãnh. Chúng ta khó có thể tìm thấy ở đây những
sự kiện lớn lao của một cốt truyện lắt léo, phức tạp. Nguyễn Ngọc Tư đã tập
trung khai thác những tình huống đời thường mà lại chứa đựng những triết lí
nhân sinh sâu sắc. Truyện kể về ông già Năm Nhỏ phải chịu tiếng oan là giết
con riêng của vợ, khi Cải làm mất đôi trâu, sợ bị đánh đòn nên bỏ trốn. Ông
đã đi tìm con bé gần mười hai năm, ông đã đi tới rất nhiều nơi nhưng người
đông, đất rộng, mỏi chân mà ông vẫn chưa tìm thấy. Ông xin làm chân sai vặt
trong đoàn ca múa nhạc, bán kẹo kéo, trụ lại ở ngã ba Sương. Nhiều đêm, ngã
ba Sương khắc khoải trong tiếng "Cải ơi" của ông. Sau nhiều lần tìm kiếm
thất bại, ông đã nghĩ ra một hạ sách là đi ăn cắp trâu để được lên truyền hình
để nói với con là ông đang đi tìm nó. Cuộc đời với những ngang trái, trớ trêu
khiến ông Năm phải phiêu bạt tìm con để tự minh oan cho mình. Dù phải lặn
lội khắp nơi nhưng ông vẫn kiên nhẫn tìm con. Ông ăn cắp trâu để mong được
lên truyền hình "bêu riếu", muốn thông qua đó để nhắn tìm con, nhưng trớ
trêu thay, cái câu mà ông đã phải tốn nhiều công sức nghĩ ra, cái câu quan
trọng nhất mà ông muốn nói lại bị cắt đi, không được phát lên truyền hình. Ấn
tượng đọng lại trong lòng người đọc là số phận một con người đau khổ nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status