Thực trạng đội ngũ lao động nữ trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH THẢO THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG NỮ
TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC


HÀ NỘI - 2009 

1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Giả thuyết nghiên cứu 6
8. Khung lý thuyết 7
9. Cấu trúc của luận văn 7

2.2.1. Nhân tố khách quan 63
2.2.2. Nhân tố chủ quan 70
2.3. Xu hướng biến đổi của cơ cấu lao động nữ 73
2.3.1. Độ tuổi của lao động nữ ngày càng trẻ hơn và trình độ chuyên môn sẽ
được nâng cao 73
2.3.2. Xuất hiện hiện tượng người lao động “nhảy việc” 75
2.3.3. Người lao động sẽ gắn bó với doanh nghiệp nếu chính sách đãi ngộ tốt 78

1. Kết luận 81
2. Khuyến nghị 83
 
PHỤ LỤC 1: Phiếu trưng cầu ý kiến 91
PHỤ LỤC 2: Biên bản phỏng vấn sâu 97
DANH 

Bảng 2.1: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12
hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp 31
Bảng 2.2: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12
hàng năm phân theo địa phương 32
Bảng 2.3: Nguồn gốc xuất thân của LĐN trong DNNQD 34
Bảng 2.4: Quê quán của các LĐN trong DNNQD 36
Bảng 2.5: Trình độ học vấn của LĐN trong DNNQD 42
Bảng 2.6: Cơ cấu LĐN theo trình độ đào tạo về chuyên môn 47
Bảng 2.7: Chuyên ngành học của đội ngũ LĐN 49
Bảng 2.8: Khả năng ứng dụng ngoại ngữ trong công việc của LĐN 53
1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hàng ngàn năm qua, lịch sử từ xưa tới nay đã khẳng định vai trò quan trọng
của người phụ nữ đối với sự tồn tại của cộng đồng nhân loại. Bằng lao động sáng
tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống
con người. Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản
xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất,
phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội. Trong
lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại, là
nguồn cảm hứng cho sáng tác nghệ thuật. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước
nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ.
Song song với những hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh
thần, phụ nữ còn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc,
vì sự tiến bộ của nhân loại.
Trong tổng số lao động việc làm thuộc các ngành kết cấu của nền kinh tế, lao
động nữ chiến 52%; trong khu vực phi kết cấu của nền kinh tế, LĐN chiếm 70%.
Nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, nghệ thuật, … LĐN có ưu thế và chiếm đa số.

đông đảo của lực lượng LĐN đã làm cho vai trò của LĐN ngày càng được nâng
cao, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho DNNQD. Các DNNQD cần chú
trọng vấn đề tổ chức, bố trí sắp xếp lại cơ cấu lao động một cách hợp lý để phát huy
tối đa những đóng góp của lực lượng LĐN trong DN mình. Bởi, chỉ có biến đổi cơ
cấu lao động, nhất là LĐN trong DN theo hướng tích cực mới có thể nâng cao năng
suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trên thực tế, trong các DNNQD nhiều khi LĐN chỉ được nhìn nhận như một
lực lượng lao động hơn là được nhìn nhận như một nguồn nhân lực, hay với tư cách
là một nhóm xã hội. Yếu tố con người, bình đẳng giới chưa được chú ý một cách
toàn diện. Họ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, rủi ro hơn so với nam giới trong đời
sống kinh tế, quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về lực lượng LĐN, nhất là về nữ công
nhân trong các DNNQD được nhìn nhận ở những chiều cạnh khác nhau như: môi
trường lao động, điều kiện lao động, thái độ lao động, đời sống vật chất, đời sống
tinh thần, việc làm, thu nhập, nhu cầu đào tạo, sức khoẻ sinh sản… Tuy nhiên,
những nghiên cứu về cơ cấu đội ngũ LĐN trong các DNNQD nhằm đánh giá chất

3
lượng đội ngũ LĐN đã đáp ứng sự đòi hỏi về chất lượng lao động trong DNNQD
trong giai đoạn phát triển hiện nay hay chưa? … Đồng thời, cho biết các DNNQD
có thái độ ra sao đối với lực lượng LĐN và có những chính sách gì để đãi ngộ, “giữ
chân” đội ngũ lao động trong DN mình thì chưa có công trình nghiên cứu cụ thể.
Nắm bắt được vấn đề này, luận văn “Thực trạng đội ngũ lao động nữ trong doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội hiện nay” (nghiên cứu trường hợp tại ba
doanh nghiệp thương mại) đã tập trung phân tích, tìm hiểu một cách khá đầy đủ và có hệ
thống về thực trạng cơ cấu đội ngũ LĐN trong DNNQD trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định
chính sách của các DNNQD nói riêng và của Nhà nước nói chung, nhằm nâng cao
vai trò của lực lượng LĐN để từ đó góp phần đề ra giải pháp cụ thể thúc đẩy sự biến
đổi cơ cấu LĐN theo cách hợp lý nhất để giúp các DNNQD nâng cao hiệu quả kinh

CCĐNLĐN, đồng thời dự báo xu hướng biến đổi của CCĐNLĐN trong DN thương
mại ngoài quốc doanh hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng và phát huy vai trò của đội ngũ LĐN trong các DN thương
mại ngoài quốc doanh hiện nay.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Khảo sát, đánh giá về thực trạng đội ngũ LĐN trong DN thương mại ngoài
quốc doanh trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
4.2. Phân tích làm rõ những nhân tố tác động đến đội ngũ LĐN trong DN thương
mại ngoài quốc doanh.
4.3. Dự báo xu hướng biến đổi của CCĐNLĐN trong DN thương mại ngoài quốc
doanh trong giai đoạn tới.
4.4. Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường vai trò của đội ngũ LĐN và chính
sách đãi ngộ của các DN thương mại ngoài quốc doanh dành cho người lao
động nói chung và LĐN nói riêng.
5. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng đội ngũ lao động nữ trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn Hà Nội.

5
5.2. Khách thể nghiên cứu.
- Lao động nữ đang làm việc tại ba DN thương mại ngoài quốc doanh trên địa bàn
Hà Nội, cụ thể:
 Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Khương & Lê.
 Công ty TNHH Thương mại và Phát triển Du lịch Sao Việt.
 Công ty TNHH Thương mại Việt Mai.
- Người sử dụng lao động trong 3 DN trên.
5.3. Phạm vi nghiên cứu.
- Về thời gian: gian đoạn 2005-2008
- Về không gian: Việc tổ chức điều tra nghiên cứu được tiến hành ở 3 DN thương

7.2. Đa số các lao động nữ làm việc trong các DN thương mại ngoài quốc doanh
trên địa bàn Hà Nội làm việc trái với chuyên môn được đào tạo.
7.3. Cơ cấu đội ngũ LĐN trong các DN thương mại ngoài quốc doanh không ổn
định do tác động của các nhân tố như: Thị trường lao động sôi động của Thủ
đô; điều kiện và môi trường làm việc của các doanh nghiệp, chính sách đãi
ngộ của DN dành cho LĐN và đặc biệt là nhân tố tiền lương và thu nhập tác
động.

7

8. KHUNG LÝ THUYẾT



- Nguồn gốc Xuất thân;
- Độ tuổi;
- Trình độ Học vấn;
- Trình độ Chuyên môn và
chức năng nghề nghiêp;
- Trình độ Ngoại ngữ và
Tin học;
- Hợp đồng Lao động;
- Tiền lương và Thu nhập. 8
NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Phương pháp luận nghiên cứu.
Luận văn được trình bày trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Quan điểm biện chứng cho rằng, các sự vật, hiện tượng vừa tồn tại độc lập,
vừa tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Theo đó,
mọi sự vật, hiện tượng luôn tương tác với các sự vật, hiện tượng khác trong mối
quan hệ qua lại khăng khít, không tách rời. Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng,
các vấn đề xã hội phải xem xét chúng một cách toàn diện, trong nhiều mối quan hệ:
quan hệ trực tiếp, quan hệ gián tiếp, quan hệ bên trong, quan hệ bên ngoài… để thấy
được bản chất của sự vật, hiện tượng. [4, tr.219-223].
Khi xem xét đánh giá mọi hiện tượng, sự kiện xã hội phải đặt trong mối quan
hệ toàn diện với điều kiện kinh tế - xã hội đang vận động và biến đổi liên tục. Trong
luận văn này, khi nghiên cứu thực trạng đội ngũ LĐN trong DNNQD phải đặt trong

phức tạp. Đồng thời ông chỉ ra rằng sự biến đổi chức năng của các bộ phận kéo theo
sự biến đổi cấu trúc của cả chỉnh thể xã hội.
E. Durkheim không những nghiên cứu chức năng và cấu trúc xã hội mà còn
đưa ra các quy tắc sử dụng các khái niệm này làm công cụ phân tích xã hội học.
Ông đề ra yêu cầu là nghiên cứu xã hội học cần phải phân biệt rõ nguyên nhân và
chức năng của sự kiện xã hội. Ông cho rằng việc chỉ ra được chức năng chính là lợi
ích, tác dụng hay sự thỏa mãn một nhu cầu không có nghĩa là giải thích được sự
hình thành và bản chất của sự kiện xã hội. Để làm rõ điều đó cần vạch ra các tác
nhân gây ra sự kiện xã hội.
Các tác giả của thuyết cấu trúc - chức năng đều thống nhất ở chỗ: để giải
thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phân tích cấu trúc chức năng của nó, tức
là chỉ ra các thành phần cấu thành (cấu trúc) và các cơ chế hoạt động (chức năng)
của chúng.

10
Các luận điểm gốc của thuyết cấu trúc - chức năng đều nhấn mạnh tính cân
bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc. Thuyết này cho rằng, một xã hội
tồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng
với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ sự thay đổi nào ở
thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác.
Thuyết cấu trúc - chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu
trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội, đồng thời phải tìm hiểu cơ chế hoạt động
của từng thành phần để biết chúng nó có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại
một cách cân bằng, ổn định của cấu trúc xã hội.
1.1.3. Lý thuyết hành động xã hội.
Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội gắn liền với tên tuổi của các nhà xã
hội học như V. Pareto, Max Weber, F. Znaniecki và một số nhà xã hội học khác. Lý
thuyết này coi hành động xã hội có cơ sở xuất phát từ nhu cầu, động cơ của cá nhân
xã hội và kết quả của nó là sự thiết lập các quan hệ xã hội.
Các lý thuyết gia khẳng định khi mỗi cá nhân tham gia vào cuộc sống xã hội,

Theo các nhà xã hội học, chúng ta không đơn thuần chỉ nghiên cứu phản ứng của
các cá nhân trước kích thích mà chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứu những gì
đang diễn ra bên trong, những gì tiềm ẩn trong mỗi cá nhân có tác dụng thôi thúc cá
nhân hành động để đạt mục đích.
Vận dụng lý thuyết này vào luận văn của mình, tác giả coi việc lựa chọn vào
làm việc trong các DNNQD của đội ngũ LĐN như là một hành động xã hội. Và
hành động này có kèm theo ý thức cá nhân và có mục đích rõ ràng. Đa số các LĐN
làm việc trong các DNNQD đều làm việc trái với chuyên ngành được đào tạo nhưng
vì sao họ vẫn lựa chọn công việc đang làm và tiếp tục gắn bó trong tương lai? Vì số
lượng LĐN tốt nghiệp ra trường ngày càng đông, số lượng các cơ quan, tổ chức …
thuộc Nhà nước có sử dụng chuyên ngành họ học ra thì lại rất ít, trong khi đó số
lượng DNNQD mọc lên ngày càng nhiều và có nhu cầu tuyển dụng LĐN vào làm
việc tại DN mình, do đó, để có việc làm để đảm bảo nhu cầu “miếng cơm manh áo”
của cuộc sống, LĐN lựa chọn vào làm việc trong các DNNQD. Vì vậy, LĐN lựa
chọn làm việc trong các DNNQD là hành động hoàn toàn có ý thức và mục đích của

12
bản thân họ, họ nhận thức được trong giai đoạn hiện nay việc hết sức cần thiết là
phải tìm được việc làm và có thu nhập; và như vậy, các cá nhân tự giác lựa chọn,
không tự giác lựa chọn hay lựa chọn khi bị một tác động nào đó, tựu chung lại họ
vẫn có mục đích của riêng mình.
Căn cứ vào trình độ, kỹ năng, năng lực và chuyên môn của mình, mỗi LĐN
sẽ lựa chọn cho mình một công việc phù hợp tại DNNQD. Với nhu cầu, lợi ích, mục
đích khác nhau … mỗi cá nhân có cách lựa chọn khác nhau. Với những LĐN có
nhu cầu thực sự tìm việc làm và nơi làm việc để đảm bảo nhu cầu cấp bách của cuộc
sống thì họ có mục đích nghiêm túc và có ý định gắn bó lâu dài. Với những LĐN
lựa chọn làm việc tại nơi này hay nơi khác chỉ để lấp “chỗ trống” là có việc làm
trước mắt cho vui để thực hiện mục đích chờ đợi một công việc khác, một nơi làm
việc khác tại một cơ quan nhà nước hay một tổ chức nào đó … thì việc lựa chọn
hiện tại của họ chỉ mang tính thụ động và mất khoảng thời gian của họ mà họ không

trong phát triển” xuất hiện đầu những năm 70, “giới và phát triển” xuất hiện vào
những năm 80 của thế kỷ trước và ngày càng được điều chỉnh, bổ sung để tiếp tục
phát triển.
Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (WID) đòi hỏi phải thu hút sự tham gia
đầy đủ của phụ nữ vào quá trình phát triển với tư cách là người thụ hưởng và người
thực hiện mục tiêu phát triển. Quan điểm này xuất phát từ việc chấp nhận (mà
không phê phán) các cấu trúc xã hội hiện có, và chỉ chú trọng tới việc làm thế nào
để phụ nữ có thể tham gia nhiều hơn vào các hoạt động phát triển hiện tại. Họ đưa
ra các biện pháp chiến lược như: xây dựng các dự án chỉ dành riêng cho phụ nữ, chú
trọng tới hoạt động đào tạo, huấn luyện và công việc sản xuất của phụ nữ, thường
thông qua các dự án tín dụng và tăng thu nhập.
Nhìn chung, các lý thuyết nữ quyền được xây dựng trên cơ sở của các học
thuyết xã hội lớn và các minh chứng của khoa học tự nhiên nên có thể lý giải được
các vấn đề giới, bất bình đẳng giới, nữ quyền… của xã hội hiện tại cũng như của
các xã hội trước đó mà các học thuyết xã hội khác chưa giải đáp được. Hoàn cảnh
thực tiễn của các xã hội luôn thay đổi làm cho các lý thuyết này luôn được bổ sung
và hoàn thiện trong lịch sử phát triển của chúng.

14
Bên cạnh đó, lý thuyết về bình đẳng giới đã và đang được các nhà khoa học,
chính phủ các nước nghiên cứu và lồng ghép trong các chương trình phát triển. Bình
đẳng giới không có nghĩa là sự chia nhau bình quân về việc làm, sự hưởng thụ, địa
vị theo kiểu số học giữa nam và nữ. Vì có sự khác biệt về thể chất và thiên chức cho
nên nam và nữ đóng vai trò khác nhau trong xã hội và có những nhu cầu khác nhau.
Vấn đề là những sự khác biệt này cần được xem xét để thúc đẩy việc thực hiện công
bằng, có hiệu quả thế mạnh của cả hai giới, đồng thời xóa bỏ những định kiến cổ hủ
về giới gây thiệt thòi cho phụ nữ.
Trên bình diện này, bình đẳng giới trước hết là bình đẳng về cơ hội việc làm,
cơ hội tiếp cận với đào tạo và phát triển, bình đẳng trong đối xử như trả công lao
động, các chế độ trợ cấp, phúc lợi, vị thế trong gia đình và trong xã hội Do đó,

động. Cùng với quan niệm sai lệch về giới, những khó khăn này đã làm cho LĐN
trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn. Điều này càng trở nên không thuận lợi
khi LĐN chiếm số đông trong lực lượng lao động ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước
khi mà việc áp dụng pháp luật, sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế ít nhiều còn
tồn tại.
Dự án “Chính sách đối với lao động nữ trong các DNNQD thực trạng và giải
pháp” (2008) do PGS. TSKH Nguyễn Viết Vượng và TS. Trần Thị Bích Hằng làm
chủ nhiệm dự án. Đề tài đã nghiên cứu chính sách đối với LĐN trong các loại hình
DNNQD tại ba miền Bắc - Trung - Nam. Đề tài đã khảo sát chọn mẫu tại DNNQD ở
13 tỉnh miền Bắc, 9 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và 8 tỉnh miền Nam với 9.149
phiếu trưng cầu ý kiến. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ: Việc thực hiện chính sách lao
động việc làm đối với LĐN trong các DNNQD (ký kết hợp đồng lao động, điều kiện
làm việc, tình trạng lao động và thực trạng đào tạo nghề, huấn luyện về an toàn lao
động); so sánh quyền lợi của lao động nam và LĐN; thực trạng các điều kiện hỗ trợ
của DNNQD cho LĐN; thái độ của DN đối với nhân phẩm của LĐN.
Luận văn Thạc sỹ Luật “Việc làm đối với LĐN trong các doanh nghiệp ở
Việt Nam” (2006) của tác giả Đỗ Hải Yến. Đề tài nghiên cứu về việc làm đối với
LĐN trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng.

16
Luận án Tiến sỹ “Xu hướng biến đổi vị thế nữ công nhân công nghiệp thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước” (Nghiên cứu trường hợp Hà
Nội) (2009) của tác giả Bùi Thị Thanh Hà đã tập trung phân tích, tìm hiểu một cách
khá đầy đủ và có hệ thống về vị thế của nữ công nhân công nghiệp trong giai đoạn
hiện nay. Luận án góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định
chính sách của Nhà nước, nhằm nâng cao vị thế của nữ công nhân công nghiệp
trong tương lai, tạo điều kiện để họ đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngoài các công trình nghiên cứu Xã hội học về LĐN trong khu vực DN ngoài
nhà nước, hiện có nhiều bài viết trên các tạp chí, các bài báo, các công trình nghiên

nữ, đồng thời khuyến khích sự cố gắng vươn lên của bản thân phụ nữ trong cách
mạng, trong đấu tranh giành quyền bình đẳng cho người phụ nữ.
Đề cao vai trò của phụ nữ nói chung và LĐN nói riêng song Bác cũng không
quên nhắc nhở chị em phải ý thức được vai trò của mình mà phấn đấu cho mình và
cho dân tộc. Người viết “Đảng và Chính phủ mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa.
Hiện nay trong các ngành phụ nữ tham gia còn ít”[20, 661]. Người lưu ý phụ nữ: “
không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng
kiến, tin tưởng ở khả năng của mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ
nhau, … phải đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình”[19, 295].
Dưới ánh sáng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với người phụ nữ Việt Nam
điều cần phải chuẩn bị để làm tròn được cả hai chức năng: người lao động sáng tạo
của thế kỷ khoa học tiên tiến, người công dân hoạt động xã hội một cách chủ động,
tích cực và làm chức năng người mẹ nuôi dạy thế hệ trẻ chủ nhân đích thực của thế
kỷ 21.
Muốn vậy, Đảng và Nhà nước phải phải có đầy đủ những chủ trương, chính
sách, biện pháp phù hợp để phát huy mọi khả năng, tiềm năng của người phụ nữ
trong sự nghiệp đổi mới của đất nước. Làm cho phụ nữ được được sống trong
những quan hệ xã hội bình đẳng, tự do, dân chủ và có triển vọng phát triển lâu dài
cả về đời sống vật chất và sinh hoạt văn hoá, tinh thần.

Trích đoạn Cơ cấu theo loại hợp đồng lao động Cơ cấu theo tiền lương và thu nhập Nhân tố khách quan Nhân tố chủ quan Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status