Báo chí nội chính với công cuộc cải cách tư pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Báo chí nội chính với công cuộc cải cách tư pháp

(Khảo sát các báo, tạp chí nội chính từ tháng 1/2002
đến tháng 6/2005)

Chuyên ngành: báo chí
mã số: 50430
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thành Hưng
Người thực hiện: Vũ Hồng Thuý


cải cách toàn diện và một nền tư pháp minh bạch hơn trong tương lai. Do
đó, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo và động viên, khích lệ của các
thầy giáo, cô giáo, các nhà chuyên môn và bạn bè, đồng nghiệp để có thể
tiếp tục phát triển đề tài này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Vũ Hồng Thuý
Danh sách viết tắt BC
Báo chí
BCNC
Báo chí nội chính
CCTP
Cải cách tư pháp
NQ
Nghị quyết
TW
Trung ương
Nghị quyết 08
Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới Mục lục
Phần mở đầu 1

đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp 48
2.2.2. Báo chí nội chính và nhiệm vụ giải quyết các vụ án trọng điểm và
đấu tranh chống tội phạm 57
2.2.2.1. Vụ án Năm Cam và đồng phạm- Vụ án điểm lớn nhất trong
lịch sử tố tụng Việt Nam được thông tin ở nhiều khía cạnh trên báo chí
nội chính 58
2.2.2.2. Vụ án Lã Thị Kim Oanh - Vụ án tham nhũng điển hình được
báo chí nội chính tập trung phản ánh 63
2.2.3. Thông tin phòng, chống tội phạm trên báo chí nội chính phục vụ
công tác cải cách tư pháp 66
2.2 4. Báo chí nội chính tuyên truyền về công tác kiểm tra bắt, giam, giữ khi
cải cách tư pháp 69
2.2.5. Báo chí nội chính và nội dung tổng kết, rà soát và giải quyết khiếu
kiện về tư pháp 74
2.2.6. Báo chí nội chính và vấn đề củng cố, kiện toàn tổ chức các cơ quan tư
pháp 81
2.3. Một số nhận xét và đề xuất 86
2.3.1. Những kết quả đã đạt được của báo chí nội chính trong việc thực
hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp 86
2.3.2. Những điểm cần bổ sung về mặt nội dung và cách thức thông tin
88
Chương 3: Những vấn đề về thể loại và hình thức thể hiện 94
3.1. Các thể loại chiếm ưu thế trên báo chí nội chính 94
3.1.1 Thể loại phản ánh 95
3.1.2. Thể loại bình luận 99
3.1.3. Thể loại điều tra 101
3.1.4. Thể loại phỏng vấn 105
3.1.5. Thể loại tin 110
3.1.6. Thể loại tường thuật và các thể loại khác 113
3.1.6.1. Thể loại tường thuật . 113

với công cuộc cải cách tư pháp" 29
Phụ lục 5: ảnh một số bài báo viết về cải cách tư pháp trên báo chí
nội chính……………… 31 1
Phần mở đầu
1. Lịch sử nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài
Báo chí nội chính là một mảng quan trọng trong hệ thống báo chí cách
mạng Việt Nam, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất
nước. Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08/NQ-TW về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới mà nội dung
chủ yếu đề cập đến vấn đề phải cải cách tư pháp. Vì vậy, Nghị quyết này còn
được gọi tắt là Nghị quyết 08 về cải cách tư pháp. Có thể nói, Nghị quyết 08
ra đời đã tạo nên một sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động
của cả một hệ thống chính trị về các vấn đề tư pháp. Những điều mà trước kia
người dân và các cơ quan chức năng khó có thể thực hiện được như đòi bồi
thường oan sai, tranh tụng công khai tại phiên toà, bị cáo ra toà được mặc
thường phục, hàng trăm vụ án tham nhũng lớn nhỏ được đưa ra ánh sáng v.v
đều được Nghị quyết 08 cho phép thực hiện. Toàn xã hội như bước vào một sự
thay đổi lớn trong nhận thức và trong thực hiện một vấn đề liên quan đến pháp

chính nói riêng đang là vấn đề thời sự cần phải quan tâm.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Để công tác tư pháp có những chuyển biến mạnh mẽ, thực hiện tốt
nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần có sự thay
đổi căn bản trong nhận thức và trong hành động, cả từ phía nhà nước, cả từ
phía công dân. Báo chí là một kênh thông tin tuyên truyền đường lối, chính
sách của Đảng, Nhà nước đến nhân dân, đồng thời phản ánh hiện thực cuộc
sống sinh động và những chuyển biến sau khi chính sách được ban hành. Vì
vậy, báo chí cũng cần có phương thức thông tin cho phù hợp với sự vận động
của xã hội. Trong thời gian qua, mặc dù các báo đã có nhiều nỗ lực trong

3
công tác tuyên truyền nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phản ánh quá
trình hoàn thiện nền tư pháp trong công cuộc đổi mới.
Trong quá trình thông tin về cải cách tư pháp, báo chí nội chính xác
định ba vấn đề. Một là, cải cách tư pháp phải góp phần nâng cao ý thức pháp
luật của nhân dân cũng như của các cán bộ, công chức, nhất là cán bộ công
chức thuộc khối cơ quan bảo vệ pháp luật. Hai là, cải cách tư pháp phải góp
phần đề cao Hiến pháp và pháp luật, các quyền và lợi ích của con người phải
được đảm bảo bằng các cơ chế pháp lý hữu hiệu, ngăn chặn sự lạm quyền
hoặc tuỳ tiện của các cán bộ trong bộ máy công quyền. Ba là, cải cách tư pháp
phải góp phần đổi mới và làm cho hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng
hoàn thiện để không chỉ phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước mà
còn phù hợp với pháp luật quốc tế. Để đạt được những mục tiêu này, đứng về
góc độ báo chí, có những nội dung các báo nội chính đã làm tốt và có những
nội dung báo chí nội chính chưa theo kịp sự nhạy bén, năng động của các báo
ngoài hệ thống báo chí nội chính.
Do đó, đề tài này nghiên cứu vai trò của các báo nội chính đối với công
tác cải cách tư pháp, trong đó đề cập đến những mặt đã làm được, những mặt

đối với công cuộc cải cách tư pháp vì các báo, tạp chí thuộc Bộ Công an
không nằm trong hệ thống quản lý ngành dọc của Ban Nội chính Trung ương mà
là cơ quan ngôn luận của một trong các lực lượng vũ trang mặc dù Bộ Công an
giữ vai trò rất quan trọng trong gia đoạn đầu của quá trình tố tụng. Sự phân chia
này căn cứ theo vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nội chính và các
báo, tạp chí nội chính đã được Ban Nội chính Trung ương xác định.
Các cơ quan báo chí trong khối Nội chính có tôn chỉ, mục đích khác
nhau do Bộ Văn hoá - Thông tin quy định trong giấy phép, song tất cả các

5
báo, tạp chí trong khối đều có một nhiệm vụ chung là tuyên truyền, phổ biến
và giáo dục pháp luật.
Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới được ban hành ngày 02/01/2002. Ngay
sau khi Nghị quyết được ban hành, đã có nhiều báo nội chính đăng tải gần
như nguyên văn Nghị quyết và phỏng vấn các nhà lãnh đạo thuộc khối nội
chính về những nội dung quan trọng của Nghị quyết này. Thời gian sau đó,
việc thông tin của các báo có sự thay đổi căn bản so với trước khi Nghị quyết
08 ra đời. Thực tế cho thấy, nhiệm vụ tuyên truyền cho công cuộc cải cách tư
pháp là nhiệm vụ chung và đặc biệt quan trọng đối với các báo trong khối Nội
chính. Vì vậy, luận văn sẽ nghiên cứu các báo và tạp chí đã đề cập ở trên từ
thời điểm Nghị quyết 08 được ban hành đến hết tháng 6 năm 2005 để có sự
thống nhất và toàn diện trong cách nhìn nhận những ưu điểm và khuyết điểm
của các báo, tạp chí. Từ những phân tích này, đề tài sẽ kiến nghị một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền của báo chí nội chính.

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí để nghiên cứu hệ thống báo
chí nội chính trong công cuộc cải cách tư pháp. Luận văn cũng sử dụng

thức thông tin của các báo nội chính mà chỉ dừng lại ở việc khái quát những
vấn đề đặt ra đối với báo chí nội chính trong công cuộc cải cách tư pháp.
Chương II: Báo chí nội chính thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và phản
ánh công cuộc cải cách tư pháp.
Chương này đề cập đến một số nội dung như diện mạo và cách thức
thông tin của các báo nội chính trước và sau khi Nghị quyết 08 ra đời, hoạt

7
động cụ thể của các báo nội chính với công cuộc cải cách tư pháp và những
hiệu quả khác nhau thu được từ quá trình này. Trên cơ sở phân tích hiệu quả
thông tin của các báo về công cuộc cải cách tư pháp, đề tài sẽ kiến nghị một
số giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả truyên truyền của các báo
trong lĩnh vực cải cách tư pháp.
Chương III: Những vấn đề về thể loại và hình thức thể hiện.
Chương này đề cập đến một số vấn đề như những thể loại báo chí mà
các báo nội chính thường dùng để thông tin về vấn đề tư pháp cũng như nội
dung cải cách tư pháp, ưu thế và hạn chế của các thể loại và xu hướng đa
dạng hoá thể loại trên các báo nội chính, ảnh hưởng của các thể loại đến hiệu
quả thông tin v.v Mục đích quan trọng của việc phân tích các thể loại báo
chí được dùng trên các báo nội chính là để phát huy những cách làm phù hợp
và tìm ra một phương thức thông tin hợp lý cho các báo trong thời gian tới.
Do vậy, ở chương này, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp mới cho cách sử
dụng các thể loại báo chí trên các báo nội chính khi thông tin về cải cách tư
pháp
Phụ lục: Một số văn bản và ý kiến của những người nhận ảnh hưởng
trực tiếp từ công cuộc cải cách tư pháp.
Đối tượng áp dụng của cuộc cải cách tư pháp rất rộng và việc thực hiện
những chủ trương mới của Nghị quyết này không phải ở đâu cũng thu được
kết quả như mong đợi. Phần này sẽ tổng hợp ý kiến của đại diện các cơ quan
chức năng và những người dân nhận ảnh hưởng trực tiếp của chương trình cải
9
Chương I
Vai trò của báo chí nội chính
trong công cuộc cải cách tư pháp
Báo chí bao giờ cũng là kênh thông tin nhạy bén với những những thay
đổi quan trọng của xã hội. Báo chí nói chung và báo chí nội chính nói riêng là
một trong những đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết 08 về cải cách tư pháp.
Đối với các cơ quan thông tin đại chúng, Nghị quyết 08 yêu cầu phải đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình
thức, đặc biệt là thông qua các phiên toà xét xử lưu động và bằng những phán
quyết công minh để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và
nhân dân. Nghị quyết 08 cũng yêu cầu các phương tiện thông tin đại chúng
tích cực tham gia vào việc phát hiện vi phạm, tội phạm, bảo vệ công lý, phê
phán hành vi tiêu cực, tham nhũng, vô trách nhiệm. Bên cạnh đó, một yêu cầu
rất nghiêm khắc đặt ra với các báo trong quá trình thông tin là khi đưa tin,
bình luận về hoạt động của các cơ quan tư pháp phải đảm bảo tính khách
quan, trung thực và phải chịu trách nhiệm về việc đưa tin, bình luận của mình.

1.1. giới thuyết Khái niệm và hạn định đối tượng khảo sát
Trước khi phân tích những vấn đề cụ thể đặt ra đối với báo chí nội
chính trong công cuộc cải cách tư pháp, chúng tôi xin nêu một số khái niệm
và cách hiểu về các hoạt động trong lĩnh vực tư pháp và lĩnh vực báo chí có
liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài.
1.1.1. Hoạt động tư pháp
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, khái niệm tư pháp được giải thích

các thiết chế chính trị và duy trì sự ổn định xã hội. Hoạt động tư pháp càng minh
bạch thì pháp luật càng có vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân.

11
ở nước ta, mối quan hệ giữa các sự việc diễn ra trong đời sống và các
cơ quan tư pháp là một vòng tròn của các mối quan hệ hai chiều của thiết chế
giữa cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Do nhiều
nguyên nhân khác nhau như bối cảnh lịch sử, năng lực, trình độ của các cán
bộ nhà nước mà ở Việt Nam, hệ thống tư pháp còn có rất nhiều bất cập. Điều
này được Đảng và Nhà nước thừa nhận và đang nỗ lực cải thiện và thể hiện rõ
nhất qua việc ban hành và thực hiện Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về cải
cách tư pháp năm 2002.

1.1.2. Nguyên nhân và động lực của cải cách tư pháp
Cải cách tư pháp là yêu cầu khách quan nảy sinh trong thực tế đời sống
xã hội của bất kỳ một thể chế nào, một thời đại nào. Xuất phát từ nhu cầu,
quyền lợi của giai cấp thống trị, các nhà nước phong kiến, tư sản cũng thường
xuyên đổi mới hoạt động tư pháp để củng cố địa vị và phát triển lợi ích giai
cấp, dân tộc. Trên con đường xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm nắm bắt các yêu cầu của thực tiễn
xã hội, từ đó xác định hoạt động cải cách tư pháp như một nhiệm vụ cấp bách
và lâu dài, vì lợi ích của nhân dân.
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc quản lý xã hội
bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo môi
trường ổn định cho phát triển kinh tế, xã hội càng được đề cao hơn bao giờ
hết. Do đó, bên cạnh những nhiệm vụ kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa
học, công nghệ… Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định
nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là giữ vững ổn định chính trị và trật tự
an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an

13
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đảng và Nhà nước cũng đã
có những giải pháp chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp.
Đặc biệt, Nghị quyết 08 là một văn kiện đề cập tương đối toàn diện và có hệ
thống những vấn đề liên quan đến cải cách tư pháp, xác định rõ bốn quan
điểm chỉ đạo và tám nhiệm vụ cơ bản nhằm xây dựng nền tư pháp đạt tới mục
tiêu công bằng, dân chủ, nghiêm minh, một nền tư pháp phục vụ nhân dân.
Trước và sau khi Nghị quyết 08 được ban hành, các nhà lập pháp, các luật gia
đã triển khai các hướng nghiên cứu nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận
và thực tiễn cho việc thực hiện những quan điểm và nhiệm vụ cải cách tư
pháp, tiến tới xây dựng các chiến lược cải cách tư pháp của đất nước. Khi
Nghị quyết 08 được ban hành, báo chí nội chính đã có những đóng góp tích
cực vào việc truyền bá rộng rãi những chủ trương và quá trình thực hiện Nghị
quyết này.
Để đạt được các yêu cầu và mục đích cải cách tư pháp, Nghị quyết 08
đã xác định 8 nội dung của cải cách tư pháp. Các nội dung này bao gồm:
Một là: Nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các
cơ quan và cán bộ tư pháp. Một trong các nhiệm vụ của nội dung này là nâng
cao chất lượng công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý tin
báo, tố giác tội phạm, tăng cường phối hợp giữa cơ quan chuyên trách điều tra
với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
để phục vụ tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nghiên cứu, đề xuất
các giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can
trong một số loại tội. Viện Kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công
tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố
tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan

14

Các phương tiện thông tin đại chúng cần tích cực tham gia vào việc
phát hiện vi phạm, tội phạm, biểu dương những cán bộ tư pháp dũng cảm đấu
tranh chống tội phạm, bảo vệ công lý, phê phán hành vi tiêu cực, tham nhũng,
vô trách nhiệm; khi đưa tin, bình luận về hoạt động của các cơ quan tư pháp
phải bảo đảm tính khách quan, trung thực và phải chịu trách nhiệm về việc
đưa tin và bình luận.
Xây dựng cơ chế để nâng cao hiệu quả của các hình thức giải quyết
tranh chấp khác như hoà giải, trọng tài nhằm góp phần xử lý đúng và nhanh
chóng những mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân và giảm nhẹ công
việc cho toà án và cơ quan nhà nước khác. Nghiên cứu việc xã hội hoá một số
hoạt động bổ trợ tư pháp.
Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của các tổ
chức xã hội và của nhân dân đối với công tác tư pháp. Công tác giám sát của
Quốc hội, của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan tư pháp tập trung vào
việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét
xử, thi hành án và giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về
lĩnh vực tư pháp.
Sáu là: Đẩy mạnh xây dựng pháp luật, giải thích, hướng dẫn, tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nghiên cứu khoa học về công tác tư
pháp. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tư pháp. Khẩn trương ban
hành Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Luật Thi hành
án, Pháp lệnh giám định tư pháp và một số luật, pháp lệnh khác làm cơ sở
pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp. Kịp thời ban hành những văn
bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh
Luật sư để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng,

16
nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tư pháp. Đối với những nội dung
của các luật, pháp lệnh cần giải thích thì Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giải
thích theo quy định của Hiến pháp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ

phát hành rộng rãi trong xã hội. [17,tr. 50]
Báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất, có lịch sử lâu đời nhất và có
thể coi là loại hình báo chí gốc đang ngày càng phát triển, giữ vai trò quan
trọng. Trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, càng
ngày càng có thêm nhiều loại hình báo chí mới, từ phát thanh, truyền hình,
đến báo điện tử. Tuy nhiên, không vì thế mà báo in bị triệt tiêu hay mất đi vị
trí của mình. Báo in có đặc điểm, ưu thế, hạn chế riêng, tồn tại một cách độc
lập, bình đẳng trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng.
Báo in ra đời từ cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Tại Việt Nam, báo in ra đời
muộn hơn do có những nguyên nhân khách quan về tình hình kinh tế, xã hội
của đất nước và điều kiện giao lưu quốc tế còn hạn chế. Những tờ báo đầu
tiên xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 19 được in bằng tiếng Pháp nhằm phục
vụ mục đích thống trị của thực dân Pháp. Đến cuối thế kỷ 19, tờ báo in bằng
chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời tại Sài Gòn. Trước năm 1975, có thể nói, báo in
Việt Nam chủ yếu là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, đoàn thể, phục
vụ mục đích cách mạng và công cuộc kháng chiến. Sau khi đất nước hoàn
toàn giải phóng, nền kinh tế bao cấp làm cho báo chí không có điều kiện phát
triển. Phần lớn nội dung và hình thức của báo in lúc này rất đơn điệu. Báo in
Việt Nam chỉ thực sự khởi sắc từ sau năm 1990 trở lại đây. Hiện nay, các ấn
phẩm báo in rất đa dạng. Hầu hết các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến
địa phương đều có báo, tạp chí làm cơ quan ngôn luận. Mặt khác, do báo chí

18
cũng là một hình thức kinh doanh đem lại nhiều lợi nhuận nên không ít tổ
chức đã mạnh dạn phát triển cơ quan ngôn luận vốn có thành những tờ báo
hấp dẫn công chúng và vượt lên hẳn mục đích tuyên truyền nội bộ ban đầu.
Trên phạm vi cả nước, đến năm 2005, Việt Nam đã có gần 14.000 nhà báo
chuyên nghiệp cùng hàng chục ngàn cán bộ kỹ thuật làm việc trong các loại
hình báo chí như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, thông tấn
xã. Báo chí ngày càng giữ vai trò to lớn, không thể thiếu trong đời sống kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status