Công chúng thế hệ Net với các phương tiện truyền thông đại chúng tt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ THU HÀ
(chữ hoa, BOLD, Times New Roman, cỡ 13) CÔNG CHÚNG THẾ HỆ NET VỚI CÁC
PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
(chữ hoa, đậm, Times New Roman, cỡ 18)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
(chữ hoa, không đậm, Times New Roman, cỡ 13) CÔNG CHÚNG THẾ HỆ NET VỚI CÁC
PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thị Thu Hương
Hà Nội, 2011

2.2.3. Mức độ và cách thức nghe phát thanh…………………………………… ….49
2.2.4. Mức độ và cách thức theo dõi truyền hình………………………………… 53
2.2.5. Tương quan giữa việc sử dụng mạng internet với
việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng khác ……………………… 59
2.3. Sự phân nhóm trong mẫu điều tra thế hệ Net và một số dị biệt trong cách thức
sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng giữa các phân nhóm……………… 63
2.3.1. Phân nhóm theo thị hiếu và giới tính……………………………………….…63
2.3.2. Phân nhóm theo môi trường học tập………………………………………….67
Tiểu kết chương 2…………………………………………………………………… 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI CÁC PHƯƠNG TIỆN
TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
3.1. Mẫu điều tra thế hệ Net có nhu cầu sử dụng các phương tiện truyền thông
đại chúng tương đối cao…………………………………………………………….…71
3.1.1. Nhu cầu sử dụng mạng internet……………………………………………….71
3.1.2. Nhu cầu theo dõi truyền hình……………………………………………….…75
3.1.3. Nhu cầu nghe phát thanh…………………………………………………… 76
3.1.4. Nhu cầu đọc báo in………………………………………………………….…77
3.2. Mạng internet có ảnh hưởng tới mức độ và cách thức sử dụng báo in, phát thanh
và truyền hình của mẫu điều tra thế hệ Net……………………………………………78
3.3. Thế hệ Net là tập hợp của các phân nhóm công chúng với các đặc trưng dị biệt 80
3.4. Một số đề xuất đối với các phương tiện truyền thông đại chúng……………….…81
Tiểu kết chương 3 …………………………………………………………………… 83
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………… 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………….87
PHỤ LỤC……………………………………………………………………………… 94
bộ của trường đại học Hong Kong, Trung Quốc [46]. Cuộc điều tra của Rolf
Schulmeister (2008) với 2098 sinh viên tại châu Âu đã gợi ý về sự tồn tại của các
2

phân nhóm (sub-group) trong số những người tham gia khảo sát và các phân nhóm
này có các xu hướng khác nhau trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông số
[72].
Về lịch sử nghiên cứu thế hệ Net tại Việt Nam: Theo sự tìm hiểu của các tác giả thì
cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam sử dụng thuật ngữ thế hệ
Net. Tuy nhiên, đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về nhóm công chúng trẻ
tại Việt Nam.
Phần lớn các nghiên cứu bài bản về truyền thông đại chúng chỉ mới được Viện Xã
hội học thực hiện trong khoảng hơn một chục năm trở lại đây, với những nghiên cứu
như Sinh viên Hà Nội trong giao tiếp đại chúng (Khảo sát tại Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Dân lập Thăng Long), do
tạp chí Xã hội học thực hiện năm 1998; hoặc các nghiên cứu theo đơn đặt hàng của
các tổ chức, ví dụ như các nghiên cứu về tạp chí Vì trẻ thơ, chương trình truyền hình
Vì trẻ em, báo Thiếu nhi dân tộc với công chúng trẻ em và Khảo sát các kênh truyền
thông hiện có và tác động của chúng đối với phụ nữ và trẻ em Việt Nam do UNICEF
(Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) tài trợ hoặc chương trình nghiên cứu hình ảnh trẻ em
trên báo chí và vấn đề quyền trẻ em do AMIC (Trung tâm Thông tin và Truyền thông
châu Á) tài trợ.
Bên cạnh đó, không thể không kể đến một số công trình nghiên cứu độc lập về
công chúng truyền thông, bao gồm công trình nghiên cứu quy mô của Trần Hữu
Quang, Truyền thông đại chúng và công chúng (nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ
Chí Minh) (2000); gần hơn là nghiên cứu Công chúng Hà Nội với việc đọc báo in và
báo điện tử của Nguyễn Thu Giang (2007). Cả hai công trình nghiên cứu trên đều
đáng tin cậy ở phương pháp nghiên cứu. Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng
có hệ thống và được trình bày rõ ràng trong báo cáo, giúp các nghiên cứu sau được kế
thừa.

tiện truyền thông đại chúng truyền thống và hiện đại đối với công chúng thế hệ Net.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là cách thức, mức độ, thói quen và nhu cầu
sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của nhóm công chúng trẻ, có sử
dụng mạng internet, đang sinh sống tại nội thành Hà Nội, được tác giả gọi là nhóm
công chúng thế hệ Net (sẽ được định nghĩa trong chương 1).
4

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, tác giả lựa chọn khách thể điều tra cụ
thể là 252 học sinh lớp 10, 11 và 12 của hai trường Phổ thông Trung học Việt Đức và
Chu Văn An, thành phố Hà Nội. Thời điểm điều tra là tháng 5 năm 2011.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận văn là những lý thuyết truyền thông đại chúng và xã hội
học về truyền thông đại chúng.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là việc điều tra bằng bảng hỏi (questionnaire) với 252
học sinh của hai trường Phổ thông Trung học Việt Đức và Chu Văn An, thành phố
Hà Nội vào tháng 5 năm 2011. Trên cơ sở những kết quả định lượng từ cuộc điều tra
này, tác giả tiến hành thảo luận nhóm tập trung (focus group) với nhóm thứ nhất, gồm
7 học sinh trường Việt Đức và nhóm thứ hai, gồm 7 học sinh trường Chu Văn An.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả của công trình nghiên cứu này phần nào phác họa chân dung nhóm công
chúng thế hệ Net của Việt Nam – nhóm công chúng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ
sự phát triển vũ bão của mạng internet toàn cầu. Những hiểu biết mới về nhóm công
chúng này tại Việt Nam chắc chắn sẽ gợi ý các nhà truyền thông về những cách tiếp
cận công chúng hiệu quả hơn.
Công trình này cũng phần nào đóng góp vào hệ thống lý luận ngành khoa học
truyền thông đại chúng tại Việt Nam, nhất là mảng nghiên cứu về công chúng truyền
thông đại chúng. Đây là mảng rất quan trọng, song tới nay vẫn chưa được quan tâm
nghiên cứu đúng mức.
7. Cấu trúc của luận văn

xuất hiện nhiều hướng nghiên cứu đa dạng. Chẳng hạn như các nghiên cứu về nội
dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trình truyền thông đại chúng,
quá trình sản xuất của các phương tiện truyền thông, nghiên cứu về tổ chức và lao
động của bản thân những người làm truyền thông…
Giai đoạn thứ tư mới bắt đầu từ khoảng năm 1995 đến nay. Giai đoạn này được
đánh dấu bằng sự bùng nổ của mạng internet toàn cầu. Bên cạnh đó còn là sự phát
triển và hội tụ đa tính năng truyền thông vào điện thoại di động, máy tính bỏ túi,
ipod…Chính do đặc điểm này mà việc nghiên cứu truyền thông tập trung vào tìm
hiểu mạng internet và tác động của nó đối với xã hội loài người.
1.1.2. Một số phương pháp nghiên cứu truyền thông đại chúng cơ bản
6

Trong khoảng một thế kỷ qua, hệ thống phương pháp nghiên cứu truyền thông đại
chúng đã phát triển khá đa dạng, chủ yếu được phân thành hai nhóm, các phương
pháp nghiên cứu định lượng và các phương pháp nghiên cứu định tính. Các phương
pháp nghiên cứu định lượng có thể kể đến là điều tra qua thư hay điều tra bằng bảng
hỏi trực tiếp. Một số phương pháp định tính phổ biến bao gồm phỏng vấn sâu, thảo
luận nhóm tập trung, phân tích nội dung hay thí nghiệm.
1.2. Vài nét về sự phát triển của mạng internet
Vài thập kỷ trở lại đây, sự phát triển của khoa học công nghệ đã đem đến cho xã
hội loài người những thay đổi vượt qua sự tưởng tượng của chính những người phát
minh ra chúng. Trong lĩnh vực truyền thông, sự ra đời của mạng internet, điện thoại
di động và các loại phương tiện tích hợp đa chức năng khiến cho việc truyền thông
của xã hội loài người có bước thay đổi lớn lao.
Kể từ khi World Wide Web (WWW) được Tim Berners Lee phát minh vào năm
1991, tới tháng 3/2011, đã có 30.2% dân số thế giới sử dụng mạng internet [67]. Có
thể nói, trong hai thập kỉ qua, mạng internet đã tạo ra một cuộc cách mạng trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống con người, mà trước nhất và ấn tượng nhất là trong lĩnh vực
truyền thông đại chúng. Cho tới nay, đã có rất nhiều các nghiên cứu lớn, nhỏ được
tiến hành nhằm tìm hiểu những vấn đề mà truyền thông internet đặt ra, đặc biệt là sự

1.3.4. Thế hệ Net
Thuật ngữ “thế hệ Net” được dùng trong luận văn này được định nghĩa bởi hai yếu
tố sau: Thứ nhất, đây là những người sinh trong khoảng từ năm 1985 đến 1999 (15
năm); Thứ hai, đây là những người có sử dụng mạng internet.
Tất nhiên việc lựa chọn khoảng năm sinh như trên để xác định thế hệ Net tại Việt
Nam của tác giả luận văn chỉ mang tính tương đối. Hi vọng với các nghiên cứu quy
mô hơn trong tương lai về cùng đề tài sẽ giúp hoàn thiện định nghĩa về thế hệ Net của
Việt Nam.
1.4. Các câu hỏi nghiên cứu
Luận văn này nhằm mục đích trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây về nhóm công
chúng thế hệ Net đang sinh sống tại nội thành Hà Nội:
- Những đặc điểm chung nổi bật trong cách thức sử dụng mạng internet của công
chúng thế hệ Net như thế nào?
8

- Những đặc điểm chung nổi bật trong cách thức tiếp nhận các loại hình truyền
thông truyền thống là báo in, phát thanh và truyền hình của công chúng thế hệ Net
như thế nào?
- Mạng internet có ảnh hưởng thế nào tới cách thức công chúng thế hệ Net tiếp
nhận các loại hình truyền thông truyền thống là báo in, phát thanh và truyền hình?
1.5. Các phương pháp điều tra
Phương pháp chọn mẫu cho khảo sát là chọn mẫu phi xác suất vì vậy kết quả của
khảo sát không có tính đại diện cho toàn bộ quần thể mẫu là thế hệ Net hiện đang
sinh sống tại nội thành Hà Nội.
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung (focus group): Thảo luận nhóm tập trung là
một phương pháp định tính, sử dụng các câu hỏi mở, các câu hỏi nối tiếp nhằm tìm
kiếm để thấu hiểu động cơ, cảm xúc và phản ứng của những người tham gia thảo
luận. Số lượng người tham gia thảo luận nhóm có thể dao động từ 6 tới 12 người. Số
lượng tối ưu được cho là từ 6 tới 8 người. [15, tr.287]
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này là công chúng thế hệ Net

điều tra lựa chọn Ở nhà là địa điểm hay sử dụng mạng internet nhất.
Nhìn chung, thời gian từ tối đến đêm là khoảng thời gian rảnh nhất của nhóm công
chúng thế hệ Net, khi hầu như không bị trùng vào lịch học trên lớp. Thời điểm sử
dụng mạng internet của nhóm công chúng này có thay đổi trong năm, khi lịch học
chính khóa và lịch học thêm thay đổi.
Có 56% mẫu điều tra có thời lượng sử dụng mạng internet trung bình theo ngày là
dưới 3 tiếng. Thảo luận nhóm tập trung cho thấy tần suất và thời lượng sử dụng mạng
internet trung bình của nhóm công chúng này có thay đổi trong năm. Nhóm công
chúng này có xu hướng sử dụng mạng internet với tần suất và thời lượng sử dụng
mạng trung bình cao hơn trong các dịp nghỉ hè hoặc nghỉ lễ.
Bên cạnh đó, điểm đáng lưu ý là có tới 22.2% mẫu điều tra có thời lượng sử dụng
mạng internet trung bình theo ngày từ 4 tiếng trở lên. Nếu xét tới quỹ thời gian của
một học sinh cấp ba, vào giai đoạn cuối năm học, thì thời lượng sử dụng mạng
internet 4 tiếng/ ngày là khá cao.
Có thể thấy sự khác biệt giữa nhóm công chúng nam và nhóm công chúng nữ trong
mức độ sử dụng mạng internet là không đáng kể, khi tỉ lệ sử dụng mạng internet gần
như hàng ngày và một đến vài lần mỗi tuần đều trên 90%. Nói cách khác, yếu tố giới
10

tính ảnh hưởng không đáng kể tới mức độ sử dụng mạng internet của công chúng thế
hệ Net.
2.2.1.2. Mục đích sử dụng mạng internet
Âm nhạc là một trong những sở thích hàng đầu của công chúng thế hệ Net, khi 145
lượt người (30.1%) đã chọn nghe nhạc là việc hay làm đồng thời với việc sử dụng
mạng internet.
Có tới 75.8% số người sử dụng mạng internet lướt web thường xuyên. Lướt web
được hiểu là hoạt động xem lướt qua nhiều trang web cùng một lúc. Các trang web
này bao gồm nhiều loại, từ trang web tin tức đến các trang web giải trí hay giáo dục.
Trong đó, cách gọi các trang tin tức không phân biệt các trang báo điện tử hay các
trang thông tin điện tử bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài. Thảo luận nhóm tập

nào thích thì nghe, hoặc cho vào di động hoặc ipod”.
Bảng 2.12: Các trang web hay vào nhất của mẫu điều tra thế hệ Net tại nội thành Hà
Nội
STT
Trang web
Số lượt
1
Kenh14.vn
137
2
Vnexpress.net
89
3
Dantri.com.vn
76
4
Zing.vn
63
5
24h.com.vn
26
Nguồn: Cuộc điều tra tháng 5/2011
Zing.vn cũng là một địa chỉ mạng quen thuộc của công chúng thế hệ Net. Hầu hết
những người tham gia thảo luận nhóm đều cho biết vào Zing chủ yếu để nghe nhạc và
tải nhạc về máy, chứ ít khi đọc tin hay tham gia mạng xã hội. Phiên bản mạng xã hội
của Zing được cho là có nhiều điểm giống với mạng xã hội Facebook nhưng không
hấp dẫn bằng. Những người có tài khoản mạng xã hội của Zing chủ yếu dùng tài
khoản này để chơi trò chơi chứ ít khi để kết bạn hay tương tác trên mạng xã hội.
Youtube.com cũng là một địa chỉ mạng quen thuộc với hầu hết công chúng thế hệ
Net trên thế giới. Với hai nhóm tham gia thảo luận, hầu hết đều cho biết thường vào

nhiều phụ thuộc khi muốn tiếp cận công chúng, thì trong thế kỉ này, vai trò trung gian
ấy có vẻ như đang dần chuyển dịch sang các công ty công nghệ.
Khi được đề nghị thảo luận về các điểm hạn chế của mạng internet, những người
tham gia thảo luận nhóm đã tương đối nhất trí về các điểm hạn chế sau:
- Lạm dụng mạng internet sẽ hại mắt.
13

- Lạm dụng mạng internet có thể khiến “đầu óc mụ mị”.
- Chất lượng đường truyền và dịch vụ mạng internet của Việt Nam đôi lúc chưa
thật sự tốt. Một số trang web rất khó vào.
- Nhiều báo điện tử/ trang thông tin điện tử hay lặp lại tin, bài của nhau, thậm chí
tới từng dấu chấm, dấu phẩy, có lúc trích nguồn, có lúc không. Vì vậy khi thông tin bị
sai, thì tất cả sẽ cùng sai, và hiếm khi có đính chính hay xin lỗi độc giả, mà chỉ đơn
giản là “coi như không có chuyện gì xảy ra”. Nếu độc giả viết bình luận (comment)
phản đối bên dưới bài viết thì nhiều báo điện tử/ trang thông tin điện tử sẽ đóng chức
năng bình luận.
Nhìn chung, tất cả những người tham gia thảo luận nhóm đều bày tỏ sự không
đồng tình, thậm chí phê phán lối “giật tít”, “câu khách” của nhiều trang tin tức hiện
nay.
Khi được đề nghị lựa chọn và thảo luận về hai mục đích vào mạng internet, hai
mục đích vào mạng được những người tham gia lựa chọn nhiều nhất là giao tiếp và
giải trí. Bên cạnh đó là các mục đích:
- Học và chơi
- Chat và nghe nhạc
- Chat và đọc truyện
- Chat và mua bán
Có thể thấy, giao tiếp và giải trí là nhu cầu hàng đầu của nhóm công chúng thế hệ
Net.
2.2.2. Mức độ và cách thức đọc báo in
Báo in là loại hình báo chí lâu đời nhất nhưng chỉ có 15.5% mẫu điều tra đọc báo

Âm nhạc là loại chương trình được nhóm công chúng thế hệ Net ưa thích và nghe
nhiều nhất trên sóng phát thanh (chiếm 87.9% mẫu điều tra có nghe phát thanh).
Thảo luận nhóm tập trung cũng cho thấy một đặc điểm chung trong mức độ nghe
phát thanh của công chúng thế hệ Net là: Tần suất nghe phát thanh không đều. Có sự
thay đổi trong tần suất nghe phát thanh của nhóm công chúng này, tùy từng giai đoạn.
Thảo luận nhóm tập trung cho thấy nhóm học sinh đi học bằng xe buýt hoặc ô tô
riêng của gia đình đều có tần suất nghe phát thanh thường xuyên hơn các nhóm học
sinh khác, cụ thể là nghe hệ phát thanh giao thông hoặc hệ âm nhạc thông tin giải trí
15

VOV3. Đây cũng là hai kênh phát thanh được mẫu điều tra thế hệ Net nghe nhiều
nhất.
2.2.4. Mức độ và cách thức theo dõi truyền hình
Theo cuộc điều tra tháng 5/2011 thì 100% mẫu điều tra thế hệ Net tại nội thành Hà
Nội đều sở hữu ti vi tại gia đình. Đây cũng là phương tiện truyền thông duy nhất có tỉ
lệ sở hữu tuyệt đối của mẫu điều tra.
Có tới 88.5% mẫu điều tra thế hệ Net tại nội thành Hà Nội xem truyền hình gần
như hàng ngày. Đây là loại hình báo chí truyền thông có tỉ lệ theo dõi gần như hàng
ngày cao nhất của mẫu điều tra. Mức độ và thói quen theo dõi truyền hình của người
thân trong gia đình có ảnh hưởng tới mức độ theo dõi truyền hình của công chúng thế
hệ Net.
Thời lượng theo dõi truyền hình trung bình theo ngày của mẫu điều tra, trong đó
46% mẫu điều tra xem truyền hình dưới 3 tiếng/ngày, trong khi đó, 24.4% xem
truyền hình từ 4 tiếng trở lên. Có thể nói, thời lượng theo dõi truyền hình trung bình
theo ngày của mẫu điều tra là tương đối cao.
Hầu như không có sự khác biệt trong mức độ theo dõi truyền hình giữa nhóm công
chúng nam và nhóm công chúng nữ. Nói cách khác, yếu tố giới tính ảnh hưởng không
đáng kể tới mức độ theo dõi truyền hình của công chúng thế hệ Net.
2.2.5. Tương quan giữa việc sử dụng mạng internet với việc sử dụng các
phương tiện truyền thông đại chúng khác

tiện này được xen kẽ với nhau.
Khi được hỏi về tần suất xem truyền hình và nghe phát thanh trên mạng internet,
kết quả cho thấy 67.9% người được hỏi hầu như không xem truyền hình trên mạng
internet và 94% người được hỏi hầu như không nghe phát thanh trên mạng internet.
Điều này cho thấy truyền hình và phát thanh tại Việt Nam chưa khai thác hiệu quả
mạng internet như một kênh để tiếp cận công chúng thế hệ Net.
2.3. Sự phân nhóm trong mẫu điều tra thế hệ Net và một số dị biệt trong cách
thức sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng giữa các phân nhóm
2.3.1. Phân nhóm theo thị hiếu và giới tính
Kết quả nghiên cứu ghi nhận sự phân nhóm trong mẫu điều tra theo thị hiếu đọc
báo và tạp chí. Công chúng thế hệ Net có thị hiếu tương đối đa dạng về các loại báo
và tạp chí thường đọc. Các báo và tạp chí được nhóm công chúng này chọn đọc nhiều
17

nhất không chỉ gồm các báo, tạp chí dành riêng cho học sinh, sinh viên như Hoa học
trò, 2! hay Trà sữa cho tâm hồn mà còn là các báo thông tin tổng hợp chính trị - văn
hóa – xã hội như Thanh niên, Hà Nội mới, Tiền phong, Tuổi trẻ Tp. Hồ Chí Minh,
các báo an ninh như An ninh thủ đô, An ninh thế giới hay Công an nhân dân. Bên
cạnh đó còn là các ấn phẩm về thể thao và giải trí như báo Bóng đá hay tạp chí
Truyền hình.
Về mức độ và cách thức đọc báo và tạp chí, nghiên cứu còn ghi nhận có sự phân
nhóm theo giới tính.
Các loại chương trình truyền hình được nhóm công chúng thế hệ Net quan tâm
theo dõi nhất là phim truyện, âm nhạc, trò chơi, hoạt hình, thời sự, giáo dục và thể
thao. Nhưng sự lựa chọn kênh truyền hình để theo dõi các nội dung trên là khá đa
dạng.
Công chúng thế hệ Net có sự phân nhóm theo thị hiếu khá sâu sắc trong mức độ và
cách thức sử dụng mạng internet. Và có thể thấy nhu cầu tiếp nhận và trao đổi thông
tin của nhóm công chúng này là tương đối cao khi số lượng các trang web thông tin
tổng hợp là nhiều nhất. Có thể thấy, ngoài các trang web bằng tiếng Việt, công chúng

Kenh14.vn là trang thông tin trực tuyến được mẫu điều tra thế hệ Net quan tâm
nhất. Các chủ đề thu hút sự quan tâm theo dõi của nhóm công chúng này nhất khi
lướt web là người nổi tiếng, âm nhạc, công nghệ, điện ảnh, thời trang. Bên cạnh đó,
kết quả điều tra cũng cho thấy, nhu cầu giao tiếp và tương tác của mẫu điều tra thế hệ
Net trên mạng internet là khá cao. Mạng xã hội được nhóm công chúng này ưa thích
nhất, nếu so sánh với blog và các diễn đàn trực tuyến. Trong đó, Facebook là mạng
xã hội đang được nhóm công chúng này ưa dùng nhất.
Phần lớn mẫu điều tra thế hệ Net thường xuyên nghe nhạc trực tuyến. Cách thức
nghe và sử dụng nhạc phổ biến của nhóm công chúng này là “nghe thử trên mạng,
hay thì tải về máy để khi nào thích thì nghe, hoặc cho vào di động hoặc ipod”.
Zing.vn và Youtube.com là hai trong số những trang web mà công chúng thế hệ
Net hay vào nhất. Nhiều người cho biết có thói quen lựa chọn vào Zing hay Youtube
từ các kết quả tìm kiếm của Google. Google hiện đang là trang web có ảnh hưởng
quan trọng tới lượng truy cập vào các trang web khác trên mạng internet.
Hai nhóm thảo luận đều bày tỏ sự không đồng tình, thậm chí phê phán tình trạng
“giật tít”, “câu khách” của nhiều trang tin tức hiện nay. Và mong muốn các trang tin
19

tức trên mạng internet sẽ thông tin một cách độc lập hơn và có trách nhiệm hơn. Đây
cũng là một vấn đề đang gây tranh luận rộng rãi từ góc độ những người làm báo,
quản lý báo chí hay công chúng tiếp nhận. Khi được đề nghị lựa chọn và thảo luận về
hai mục đích vào mạng internet, thì giao tiếp và giải trí là hai mục đích vào mạng
internet phổ biến nhất.
Kết quả điều tra của nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả điều tra của nhiều
công trình nghiên cứu của thế giới khi cho thấy công chúng thế hệ Net là một trong
những nhóm công chúng luôn đón nhận và sử dụng các loại công nghệ truyền thông
mới sớm nhất (early adopter). Có thể thấy, đây là nhóm công chúng có nhu cầu thông
tin, giao tiếp và giải trí rất cao. Và họ có tính tích cực nhất định trong việc tìm kiếm
đa dạng các nguồn thông tin, các kênh giải trí và các hình thức giao tiếp khác nhau
trên mạng internet.

nhóm người sở hữu báo in có mức độ đọc báo in cao hơn nhóm người không sở hữu
báo in. Và thói quen đọc báo, tạp chí của người thân và bạn bè sẽ khuyến khích nhóm
công chúng này đọc báo và tạp chí nhiều hơn.
Có thể thấy, tuy mức độ tiếp nhận thông tin từ báo in của nhóm công chúng này
hiện không cao bằng mức độ tiếp nhận từ mạng internet hay truyền hình nhưng nhóm
công chúng này vẫn có nhu cầu tiếp nhận thông tin từ báo in. Và nhu cầu này là khá
đa dạng. Nhóm công chúng thế hệ Net sẽ tích cực đọc báo, tạp chí hơn khi có điều
kiện tiếp xúc tốt hơn với loại phương tiện truyền thông đại chúng này.
3.2. Mạng internet có ảnh hưởng tới mức độ và cách thức sử dụng báo in, phát
thanh và truyền hình của mẫu điều tra thế hệ Net
Kết quả điều tra cho thấy, nhìn chung, mẫu điều tra thế hệ Net tại nội thành Hà Nội
có mức độ sử dụng mạng internet cao hơn hẳn mức độ đọc báo in và mức độ nghe
phát thanh. Xét tới quỹ thời gian rỗi, có thể thấy, quỹ thời gian rỗi dành cho các
phương tiện truyền thông đại chúng của nhóm công chúng này hiện chủ yếu được
chia sẻ giữa mạng internet và truyền hình. Mẫu điều tra thế hệ Net có mức độ sử
dụng mạng internet và mức độ theo dõi truyền hình đều rất cao và xấp xỉ nhau. Và
buổi tối là khung giờ vàng cho cả truyền hình lẫn mạng internet.
Nhưng trong những năm gần đây, khi mạng internet phát triển với tốc độ “chóng
mặt” thì thói quen sử dụng mạng internet đã có những ảnh hưởng rõ rệt tới thói quen
21

theo dõi truyền hình của nhóm công chúng này, mặc dù truyền hình đã có một lịch sử
phát triển lâu đời và đã định hình thói quen theo dõi truyền hình cho nhiều thế hệ
công chúng.
Kết quả khảo sát và thảo luận nhóm tập trung cho thấy mẫu điều tra có thói quen
đồng thời sử dụng nhiều phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau. Các thao tác
với từng loại phương tiện này được xen kẽ với nhau.
Khi được hỏi “Khi quan tâm theo dõi một thông tin hấp dẫn diễn ra trong nhiều
ngày, bạn ưu tiên theo dõi qua các phương tiện truyền thông như thế nào?”, nhóm
người lựa chọn mạng internet là ưu tiên cao nhất lên tới 60.7%, chiếm tỉ lệ cao nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status