ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẢI VÂN BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
(Khảo sát sự kiện sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên các tờ Đại biểu
Nhân dân, Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh, Thanh niên
từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2013) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Hà Nội - 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BÁO
CHÍ GIÁM SÁT, PBXH 9
1.1. Khái niệm giám sát và PBXH 9
1.1.1. Khái niệm giám sát 9
1.1.2. Khái niệm PBXH 10
1.2. Chức năng giám sát và PBXH của báo chí 20
1.2.1. Vai trò giám sát, PBXH của báo chí 20
1.2.2. Nguyên tắc và cách thức giám sát, PBXH của báo chí 25
1.2.3. Điều kiện để báo chí làm tốt chức năng giám sát và PBXH 29
1.3. Giới thiệu về các tờ báo khảo sát 35
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO CHÍ GIÁM SÁT, PBXH 42
2.1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và nội dung sửa
đổi, bổ sung 35
2.1.1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 Error!
Bookmark not defined.
2.1.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung Error! Bookmark not defined.
2.2. Giám sát, phản biện về nội dung vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng
TT
Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1: Thống kê và phân loại bài viết về nội dung
vai trò lãnh đạo của Đảng (Điều 4)
51
2
Bảng 2.2: Thống kê và phân loại bài viết về nội dung
Hội đồng Hiến pháp (Điều 120)
58
3
Bảng 2.3: Thống kê và phân loại bài viết về nội dung
các thành phần kinh tế và vai trò của kinh tế Nhà nước
(Điều 54)
71
4
Bảng 3.1: Phân loại tác giả của các bài viết
79
tác động mạnh mẽ hơn tới đối tượng tiếp nhận thông tin. Đây chính là kết
quả cuối cùng của mọi sự đổi mới mà báo chí hướng tới.
Quan sát mặt bằng báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, có
thể thấy nổi bật lên hai gương mặt nhật báo với lượng phát hành được cho là
cao nhất cả nước - báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là báo Tuổi
trẻ) và báo Thanh niên. Hai tờ báo này cùng được công chúng và giới trong
nghề đánh giá cao về tốc độ, tính độc đáo và mới mẻ của thông tin cũng như
chiều sâu của những phân tích bình luận. Còn Đại biểu nhân dân (ĐBND) tuy
không phải là tờ báo phát hành rộng rãi trên thị trường như các tờ báo khác
nhưng đây là tờ nhật báo chính thống của Quốc hội, tiếng nói của Quốc hội và
Hội đồng nhân dân, của đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước. Quốc hội là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, do đó tờ báo ĐBND có vai trò rất quan trọng, góp tiếng nói mạnh
mẽ trong quá trình hoạt động của Quốc hội nói chung, hoạt động lập hiến và
lập pháp nói riêng mà cụ thể là việc sửa đổi, xây dựng Hiến pháp mới vừa
qua.
Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp
luật của nước ta. Trước những yêu cầu mới để phát triển đất nước, nhiệm vụ
sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2001) một lần
nữa được đặt ra. Ngày 2/1/2013, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
chính thức công bố Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trên các phương tiện thông tin
đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Trong lần sửa đổi
này, rất nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước đã được lấy ý kiến nhân dân. Một
trong những kênh để người dân đóng góp vào dự thảo Hiến pháp một cách có
hiệu quả nhất đó chính là báo chí.
Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn “Báo chí với vấn đề giám
sát và PBXH” (khảo sát sự kiện sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên các tờ Tuổi
3
trẻ TP Hồ Chí Minh, Thanh niên và ĐBND từ tháng 1 đến tháng 12 năm
Đặng Thị Thu Hương, Tạp chí Cộng sản ngày 22/7/2013)… Tuy nhiên,
những bài viết này chủ yếu xem xét một cách tổng quát về PBXH trên bình
diện chung nhất và mang tính lý luận cao.
Cũng đã có rất nhiều khóa luận và luận văn của các sinh viên và học
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
nghiên cứu về các khía cạnh liên quan đến vấn đề này như:
- Luận văn “Báo chí với vấn đề kiểm soát quyền lực và PBXH” (khảo
sát qua các tờ báo in Lao động, Sài Gòn giải phóng, Thanh niên, Tiền phong,
Tuổi trẻ TP HCM) của tác giả Mai Thị Thúy Hường.
- Luận văn “PBXH về đổi mới giáo dục tiểu học trên báo in Việt Nam
hiện nay” (khảo sát báo Giáo dục và Thời đại, Tia sáng, Sài Gòn Giải Phóng,
Tuổi trẻ TP HCM, Hà Nội mới từ 2008 đến 2011) của tác giả Trần Thị Hoa.
- Luận văn “Tính PBXH của tác phẩm báo chí Việt Nam (Khảo sát qua
hai báo Tuổi trẻ TP HCM và Thanh Niên các năm 2006-2008)” của tác giả
Hoàng Thủy Chung.
- Luận văn Truyền thông đại chúng “Báo chí Thanh Hóa với việc thực
hiện chức năng giám sát xã hội” của tác giả Nguyễn Văn Bình.
- Khóa luận “Tính PBXH của tác phẩm báo chí thông qua loạt bài
“Đêm trước đổi mới” trên báo Tuổi trẻ năm 2005” của tác giả Phạm Văn Kiền.
- Khóa luận “Tính PBXH của báo chí Việt Nam qua loạt bài về vấn đề
trùng tu các di tích trên báo Tuổi trẻ” (từ tháng 1/2008 đến tháng 5/2009) của
tác giả Tô Thị Thúy Nga.
- Khóa luận “Ý nghĩa PBXH của thể loại phóng sự trên báo Thanh
Niên” (qua 2 chùm phóng sự ''Bát nháo chương trình liên kết" và ''Không để
5
tại chức thành thứ phẩm" đăng trên báo Thanh Niên tháng 11 và 12 năm
2010) của tác giả Nguyễn Thành Trung.
- Khóa luận “Tính PBXH thông qua phản hồi của công chúng trên báo
điện tử” (Khảo sát hai sự kiện: Quản lý hàng rong và phân luồng giao thông
1992 trên 3 tờ báo Tuổi trẻ, Thanh niên và ĐBND để một lần nữa khẳng định
và nhấn mạnh chức năng giám sát và PBXH của báo in nói riêng, báo chí nói
chung với những vấn đề của đời sống xã hội; từ đó rút ra những nhận xét, đề
xuất một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả giám sát và PBXH của báo chí.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Do hạn chế nhất định về thời gian và tài liệu nghiên cứu, trong khuôn
khổ luận văn này, tác giả tập trung đi sâu vào làm rõ một số nội dung sau:
- Nghiên cứu lý luận về vai trò giám sát và PBXH của báo chí, trong đó
nghiên cứu các quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề báo chí
giám sát, PBXH và đưa ra quan niệm về vấn đề này.
- Thống kê, phân loại các bài báo về góp ý sửa đổi Hiến pháp năm
1992, từ đó phân tích nội dung thông tin, hình thức thể hiện, nghệ thuật tổ
chức của các bài báo để thực hiện chức năng giám sát và PBXH.
- Đánh giá những thành công và hạn chế của các bài báo trong việc thực
hiện chức năng giám sát và PBXH về sự kiện sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Việc thực hiện chức năng giám sát và PBXH của báo chí qua sự kiện
sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Loạt bài về sự kiện sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên các tờ báo Tuổi
trẻ, Thanh niên và ĐBND trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2013.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu thông qua việc sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp như: thống kê, phân loại, khảo sát, tổng hợp, đối chiếu so sánh, phân
tích, phỏng vấn sâu…, trong đó các phương pháp đặc thù được sử dụng là:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân loại: được dùng để thống kê,
phân loại loạt bài có nội dung thực hiện chức năng giám sát và PBXH về sự
Chương 2: Thực trạng báo chí giám sát, PBXH (cách thức, nội dung
giám sát và PBXH trên từng tờ báo; rút ra những thành công và hạn chế…)
Chương 3: Một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả giám sát và
PBXH của báo chí (về nhận thức, về điều kiện, về kỹ năng và phương pháp ) 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
BÁO CHÍ GIÁM SÁT, PBXH
1.1. Khái niệm giám sát và PBXH
1.1.1. Khái niệm giám sát
Bộ Công cụ quản lý và giám sát du lịch cộng đồng của Mạng lưới du
lịch bền vững vì người nghèo SNV Việt Nam và Đại học tổng hợp Hawoai
(Mỹ) – trường đào tạo quản lý du lịch định nghĩa: “Giám sát là quá trình đo
lường thường xuyên một thứ gì đó, thường là thông qua sử dụng các chỉ số để
hiểu rõ hơn tình hình hiện tại cũng như một phần xu hướng trong quá trình
thực hiện”. Cách định nghĩa này của Bộ Công cụ quản lý và giám sát du lịch
cộng đồng là hiểu theo nghĩa đen của từ giám sát và giải thích nó ở nghĩa
thông thường nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng,
giám sát là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định
không”. Điều đó có nghĩa, giám sát bao gồm hai quá trình theo dõi và kiểm
tra. Cũng theo Từ điển này, theo dõi là chú ý theo sát từng hoạt động, từng
diễn biến để biết rõ hoặc có sự ứng phó, xử lý kịp thời. Theo dõi là một công
việc chuyên chú, miệt mài, vừa chuyên sâu, có nghề, vừa bao quát diện rộng
vừa chăm chú trọng tâm. Còn kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh
giá, nhận xét. Kiểm tra không tiến hành thường xuyên mà có thời điểm, trọng
điểm với chủ đích cụ thể. Như vậy, giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc bảo đảm cho hoạt động được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt
nghiên cứu khoa học của một đề tài, một công trình nghiên cứu…). Người
(hay cơ quan) phản biện nhận định về tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội
dung và hình thức thể hiện của công trình khoa học, phương pháp nghiên cứu,
11
kết luận, đóng góp, hạn chế… Cuối cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt
những yêu cầu đề ra, xếp loại…”. Đây là một khái niệm được đưa ra theo
đúng nghĩa đen của từ phản biện trên một phương diện rất cụ thể và được giải
thích theo một nghĩa thông thường nhất.
Theo nghĩa Hán - Việt, phản có nghĩa là nghĩ, xét lại
1
; biện là phân tích.
Nếu gắn phản với biện có nghĩa là xét các sự vật rồi phân định xấu, tốt, nó
gần nghĩa với tranh biện, biện bác. Theo nghĩa trên, có thể hiểu phản biện là
đặt lại, xét lại hoặc tự xét lại một sự việc, một vấn đề trên cơ sở lập luận, phân
tích khách quan, khoa học, có sức thuyết phục nhằm phát hiện hoặc đưa các
sự việc, vấn đề trở về đúng giá trị của nó.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Trưởng khoa Báo chí, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền: “Phản biện là thuật ngữ được dùng trước hết trong hoạt
động khoa học – phản biện khoa học, tức là đánh giá chất lượng một công
trình khoa học khi công trình được đưa ra trước hội đồng khoa học. Theo đó,
phản biện có nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công
nổi trội của công trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp
tục hoàn thiện; và cuối cùng khẳng định rằng công trình đó có đạt được những
tiêu chí khoa học cần thiết không. Như vậy, phản biện khác với phản bác.
Phản bác là dùng lý lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người
khác”
2
.
Phản biện có nội hàm rộng hơn so với phản bác. Trong quá trình phản
những khiếm khuyết, hạn chế của vấn đề một cách khoa học.
Từ đó, tác giả tổng hợp và đưa ra khái niệm: phản biện là một hoạt
động khoa học, đồng thời là phương pháp khoa học cần thiết để con người sử
dụng nhằm thể hiện vai trò làm chủ của mình đối với bản thân, tự nhiên và xã
hội. Trình độ làm chủ đó được biểu hiện qua nội dung vấn đề được nêu,
phương pháp tranh luận vấn đề và cách thức tổ chức tranh luận để đi đến
quyết nghị về nhận thức và ứng dụng vấn đề đó trong thực tiễn.
1.1.2.2. PBXH là gì?
Khái niệm phản biện từ chỗ ban đầu dùng để nhận xét, đánh giá chất
lượng một công trình khoa học đã dần mở rộng ra lĩnh vực chính trị - xã hội.
Khái niệm PBXH đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích, nhưng
trên thực tế còn có những ý kiến, cách hiểu khác nhau xuất phát từ những góc
13
nhìn khác nhau. Thời gian gần đây, khi PBXH được nêu ra và thu hút sự quan
tâm rộng rãi của dư luận thì đã xuất hiện nhiều sự giải thích nội hàm của khái
niệm này như:
- PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh,
khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một đề án (phương án, dự án) xã hội đã
được hình thành và công bố trước đó
3
.
- Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa,
chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn
và gần gũi với đời sống con người hơn
4
.
- Phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến
phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung
đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra
6
PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Trưởng khoa Báo chí, Học viện Báo chí và
tuyên truyền đưa ra quan niệm: “PBXH có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi
của xã hội – các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việc góp ý kiến cho các chủ
trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - văn
hóa – xã hội. Nhưng rường cột cho quá trình PBXH phải là đội ngũ trí thức –
những người có kiến thức am hiểu rộng và chuyên sâu về các lĩnh vực của đời
sống, có bản lĩnh bảo vệ chính kiến và tâm huyết vì sự phát triển bền vững
cộng đồng”
7
.
TS Trần Đăng Tuấn, nguyên phó giám đốc Đài truyền hình Việt Nam
thì định nghĩa: “PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện,
chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một vấn đề (phương án, dự án)
xã hội đã được hình thành và công bố trước đó”. Theo tác giả, PBXH được
thực hiện cả trong hai giai đoạn: giai đoạn chưa hình thành dự án và giai đoạn
đề án đã thực hiện nhưng bộc lộ những khiếm khuyết hoặc bất hợp lý cần phải
có sự PBXH để bổ sung, hoàn chỉnh.
Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm về PBXH như sau:
PBXH là sự phản hồi của xã hội đối với hệ thống lãnh đạo, quản lý thể hiện
qua những nhận xét, đánh giá, phân tích có căn cứ và có sức thuyết phục.
PBXH được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các chủ thể phản
biện; có chức năng chuyển tải nhu cầu, nguyện vọng của xã hội đến những
người lãnh đạo và quản lý; có tác dụng thúc đẩy nền dân chủ xã hội và củng 6
[23, tr. 239-240]
7
16
tiêu và lợi ích. PBXH và phản kháng xã hội tuy khác nhau về bản chất nhưng
lại có quan hệ với nhau. Phản kháng xã hội có thể xảy ra nếu không làm tốt
PBXH. Do đó, PBXH là một giải pháp để phát hiện và hóa giải mâu thuẫn,
tạo nên sự đồng thuận xã hội, phòng ngừa nguy cơ xảy ra phản kháng xã hội.
Có thể nói rằng, nếu khước từ PBXH sẽ tạo mầm mống cho phản kháng xã
hội. Ranh giới giữa PBXH và phản kháng xã hội có thể phân biệt về mặt học
thuật, nhưng trong thực tế biểu hiện của chúng phức tạp hơn rất nhiều. PBXH
có tính xây dựng, nhưng trong những trường hợp, tình huống cụ thể có thể bị
lợi dụng phục vụ cho các hoạt động phản kháng, ít nhất là trong quá trình tập
hợp lực lượng, tạo tình huống chính trị, gây áp lực dư luận xã hội.
PBXH cũng luôn luôn chịu sự chi phối bởi lợi ích các phe nhóm mà các
chủ thể PBXH đại diện. Do vậy, PBXH có vai trò rất quan trọng đối với việc
xây dựng chính sách bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các nhóm người trong xã
hội. Trong thể chế đa đảng, những lập luận, ý kiến đánh giá từ phía đảng đối
lập có ý nghĩa phản biện đối với đảng cầm quyền và nhờ đó đảng cầm quyền
thấy được những gì cần điều chỉnh nhằm duy trì vai trò quản trị xã hội. Việc
tổ chức các đoàn thể, hiệp hội xã hội nhằm tạo cơ hội cho các nhóm lợi ích
đều có khả năng tác động đến các nhà hoạch định luật pháp, chính sách.
Chẳng hạn, nếu như đại diện của hiệp hội các nhà sản xuất thường có xu
hướng tạo áp lực đối với Nhà nước về những chính sách có lợi cho họ như
tăng thuế nhập khẩu, giữ độc quyền thị trường… thì những người tiêu dùng
lại lập hiệp hội riêng của mình để tác động đến các chính sách về tự do giá cả,
chống độc quyền, giảm thuế nhập khẩu… Còn trong điều kiện chỉ có một
đảng duy nhất cầm quyền, phản biện thường diễn ra trong nội bộ đảng, trong
bộ máy nhà nước. Dù có những ưu điểm nhưng nó lại thiếu sự khách quan,
thiếu tác động cần thiết từ phía xã hội để kịp thời thay đổi những chính sách
lỗi thời, không còn phù hợp. Tuy đã được thảo luận trong nội bộ Đảng và cơ
8
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.135
9
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011, tr.246
10
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010, phần II, tr.381
11
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010, phần II, tr.384 18
Như vậy, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng
đã ghi rõ những vấn đề được phản biện rất rộng. Đối tượng phản biện là các
vấn đề thuộc đường lối, chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, biện
pháp thực hiện và quy định mà các cấp chính quyền đưa ra và quá trình thực
hiện có ảnh hưởng rộng rãi trong cộng đồng xã hội. PBXH có thể được thực
hiện với bất kỳ một phương án xã hội nào được công bố, cho dù mới phác
thảo và từ đâu: từ phía lực lượng lãnh đạo xã hội hay từ các lực lượng hoạt
động xã hội khác. Phương án xã hội nhằm chỉ bất cứ một kế hoạch, chủ
trương… có tính chất xã hội, liên quan đến quyền lợi và đời sống của đông
đảo mọi người trong quốc gia.
Lực lượng lãnh đạo trong xã hội có những đường lối, hệ thống các quan
điểm lãnh đạo về chính trị, kinh tế, xã hội cho từng giai đoạn, thể chế và pháp
chế hóa các chủ trương, quan điểm đó, đồng thời thường xuyên phải cụ thể
hoặc gián tiếp và có tính độc lập về tổ chức, hoạt động với các đối tượng
được/bị giám sát, phản biện. Trong điều kiện cụ thể hiện nay ở nước ta, với
chủ trương củng cố và mở rộng dân chủ XHCN, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, các chủ thể giám sát và PBXH bao gồm:
- Cá nhân (nhà khoa học, chuyên gia, nhân sỹ, trí thức )
- Tổ chức đoàn thể nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của mặt trận
- Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, hội, hiệp hội, liên hiệp hội…
- Các phương tiện truyền thông đại chúng
20
1.2. Chức năng giám sát và PBXH của báo chí
1.2.1. Vai trò giám sát, PBXH của báo chí
Bàn về vai trò phản biện của báo chí, C. Mác nhận xét: “trong hy vọng
và lo lắng, có điều gì báo chí nghe được ở cuộc sống, báo chí sẽ lớn tiếng loan
tin cho mọi người đều biết, báo chí tuyên bố sự phán xét của mình đối với
những tin tức đó – một cách gay gắt, hăng say, phiến diện, như những tình
cảm và tư tưởng bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó”
12
. Mác không phủ nhận
vai trò kiểm duyệt đối với báo chí, nhưng ông lưu ý rằng: “kiểm duyệt chân
chính bắt rễ từ chính bản chất của tự do báo chí, là sự phê bình. Phê bình là
một sự xét xử mà tự do báo chí sản sinh ra từ bản thân mình”
13
, được phân biệt với
“kiểm duyệt là sự phê bình với tư cách là độc quyền của chính phủ”
14
.
Trong suốt chiều dài lịch sử đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng dân
tộc, báo chí Việt Nam đã luôn thể hiện vai trò là một lực lượng quan trọng,