LUẬN VĂN:
tài là bộ phận tinh túy, cú giỏ trị nhất của nguồn nhõn lực quốc gia. Vỡ vậy, việc nghiên
cứu và phát triển nhân tài, đào tạo bồi dưỡng nhân tài, thu hút và sử dụng nhân tài đó trở
thành quốc sỏch của nhiều quốc gia.
Đảng và Nhà nước ta đang có nhiều chủ trương chính sách để thu hút người tài
phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Trên nhiều lĩnh vực, đã xuất hiện nhiều tấm
gương, các điển hình tiên tiến, các nhân tài. Họ đó cú những đóng góp rất đáng kể cho
đất nước. Việc cổ vũ các cá nhân, điển hình này là việc làm rất cần thiết, khơi dậy lòng tự
hào dân tộc, sự đam mê nghiên cứu khoa học, đam mê làm giàu chính đáng, cống hiến
sức trẻ cho đất nước.
Tuy nhiên hiện nay, chính sách trọng dụng người tài ở nước ta vẫn còn rất nhiều
bất cập: có lúc, có nơi người tài bị đố kỵ, không được trọng dụng, không có môi trường
làm việc chuyên nghiệp, các ngành, các cấp chưa có cơ chế thông thoáng, chế độ đãi ngộ
cho họ, chính sách thu hút người tài ở các địa phương chỉ là hình thức, không có thực
chất Chính vì vậy, người tài chưa phát huy được hết sức lực và trí tuệ của mình cho sự
nghiệp đổi mới.
Sự nghiệp cách mạng nào cũng cần đến những người tài dẫn dắt. Không có những
cá nhân ưu tú, cách mạng sẽ rất khó thành công. Chưa có thời đại nào chúng ta lại cần có
nhiều nhân tài và phải trọng dụng nhân tài như ở thời đại ngày nay. Bởi vỡ chớnh họ,
những nhõn tài là những cỗ mỏy cỏi quan trọng nhất sản xuất ra tri thức và biến tri thức
thành của cải vật chất và tinh thần cho toàn xó hội. Họ có năng lực vượt trội trong việc sử
dụng tri thức cho phát triển.
Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu đáng
mừng trên nhiều lĩnh vực thỡ chỳng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc
biệt là nguy cơ bị tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Lúc này, việc
cần người có tài đem tài năng và tâm huyết của mỡnh ra phục vụ đất nước, đưa đất nước
có những bước nhảy vọt lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Sự nghiệp đổi mới càng sâu
sắc và toàn diện càng đũi hỏi phải đổi mới tư duy triệt để; muốn vậy phải có tầm trí tuệ
rất cao. Tầm trí tuệ cao ấy phải có sự tham dự của tầng lớp trí thức ưu tú của dân tộc.
Tuy nhiên, như đó núi ở trờn, trong chớnh sỏch trọng dụng người tài ở nước ta
bên cạnh những thành tựu và tiến bộ vẫn còn nhiều bất cập, khiến người tài chưa được
càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước.
Điều đó khẳng định ý nghĩa thiết thực cũng như tính cấp thiết của việc nghiên
cứu về báo chí những năm gần đây trong tuyên truyền về vấn đề nhân tài và phát huy
nhân tài đất nước. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay.
Qua đó đề xuất những ý kiến đóng góp vào chủ trương, chính sách đào tạo, đãi ngộ, trọng
dụng nhân tài.
- Nghiên cứu các tác động xã hội của việc tuyên truyền trên báo chí đối với vấn
đề phát huy nhân tài đất nước hiện nay.
- Trên cơ sở khảo sát về tần số xuất hiện, nội dung và quan điểm tuyên truyền của
báo chí để từ đó rút ra một số kinh nghiệm, một số biện pháp chung nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động tuyên truyền về nội dung phát huy nhân tài đất nước phục vụ công cuộc
đổi mới. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại lợi ích về mặt lý luận báo chí cũng
- Là 3 tờ báo có lượng độc giả lớn nhất hiện nay, đặc biệt là các độc giả trẻ.
- Chọn 2 tờ báo viết và 1 tờ báo điện tử để khảo sát nhằm cân đối giữa các loại
hình báo chí.
Trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề tuyên truyền này trên 3 tờ báo trên, rút ra một
số kinh nghiệm trong vấn đề tuyên truyền về nội dung này trên báo chí.
Về thời gian: nghiên cứu các số báo ra trong năm 2005 tới nay.
Đây là 2 tờ báo ra hàng ngày và 1 tờ báo điện tử nên số lượng khảo sát khá lớn,
số lấy mẫu của báo in là gần 2000 số và gần 1000 số báo của báo Vietnamnet. 5. Phương pháp nghiên cứu
Thống kê, tổng hợp, khảo sát, phân tích, đánh giá… là những phương pháp
nghiên cứu được áp dụng để thực hiện luận văn này. Để hoàn thành luận văn, tác giả phải
tiến hành các bước:
- Tập hợp các tài liệu, các văn bản về chủ trương, đường lối, chính sách của
Chương 1:
Báo chí với nhiệm vụ tuyên truyền về vấn đề nhân tài và phát huy vai
trò của nhân tài trong xây dựng đất nước.
Chương 2:
Thực trạng của việc tuyên truyền về vấn đề nhân tài và sử dụng nhân
tài trên báo chí hiện nay.
Chương 3:
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về vấn đề nhân tài
và sử dụng nhân tài trên báo chí hiện nay.
bất cứ giai đoạn nào, vai trũ lịch sử của những cá nhân xuất chúng bao giờ cũng được
khẳng định. Chỉ những con người tài năng, đức độ mới được tạc ghi vào sử sách như
những người anh hùng. Họ là những nhân tài của đất nước. Chúng ta luôn nói về những
con người ấy với sự kính trọng và tôn thờ những con người đó có công lớn với non sông,
đất nước.
Ngày nay, khi nói đến sức mạnh của một quốc gia, mọi người đều thừa nhận
rằng, nguồn nhân lực, nhân tài là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất. Trong đú, nhõn
tài là bộ phận tinh tuý, cú giỏ trị nhất của nguồn nhõn lực quốc gia. Vỡ vậy, việc nghiờn
cứu và phỏt triển nhõn tài, đào tạo bồi dưỡng nhân tài, thu hút và sử dụng nhân tài đó trở
thành quốc sỏch của nhiều quốc gia. éể làm tốt được những việc đó, trước hết cần phải
hiểu rừ bản chất của vấn đề nhân tài và phát triển nhân tài.
đảm đương tốt chức trách được giao, là người làm việc có kế hoạch có sáng tạo ở mức độ
nhất định, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, là người có chủ kiến, bản lĩnh và
quyết đoán trong mọi tỡnh huống, là người biết nhỡn xa trụng rộng, cú bản lĩnh, tự tin và
thụng minh.
+ Mức độ 2: Con người tài năng. Là con người có những phẩm chất giống như
người có năng lực nhưng ở mức độ cao hơn. Họ luôn hoàn thành rất xuất sắc công việc,
dù bị nhiều khó khăn, trở ngại. Kết quả công việc của họ thường là rất kiệt xuất, hiếm có,
hiệu quả rất cao, ý nghĩa rất lớn, rất sỏng tạo, ớt người đạt được. Họ là người có tính
chiến lược, chiến thuật rất cao trong hoạt động, say mê, nhiệt tỡnh, tớch cực trong hoạt
động đó. Hiệu quả công việc của họ có ý nghĩa ở tầm cỡ quốc gia, quốc tế, có tác động
lớn đến xó hội.
+ Mức độ 3: Con người thiên tài. éõy là mức độ cao nhất của năng lực. Là người
tuyệt vời thông minh tài giỏi, sáng tạo độc đáo, có những phát minh sáng chế kiệt xuất,
có ý nghĩa lớn lao đối với toàn nhân loại trong cả một giai đoạn lịch sử loài người, tạo
nên những sự biến đổi có tính cách mạng trong đời sống xó hội. Cú thể gọi đó là con
- Nhân tài là người làm được những việc mà người khác không làm được. Với
cùng một tỡnh huống trong cuộc sống, người tài sẽ đưa ra cách giải quyết kịp thời, chính
xác, hiệu quả hơn những người khác! Bản chất của tài năng là sự thông minh hơn người.
Lê Quí Đôn đó khẳng định: "Trong công việc, cần nhất sự thông minh". Người thông
minh sẽ biết cách vượt qua những khó khăn trở ngại mà người khác không vượt qua
được. Người tài thường nhỡn ra những gúc khuất mà người khác không nhỡn thấu, có
khả năng đảm đương được những công việc khó khăn, phức tạp, có khả năng đóng góp
được nhiều cho sự nghiệp chung.
Nhân tài hiểu một cách bao quát nhất là người tài năng, có những phẩm chất
thiên bẩm, phi thường. Cho dù tiềm năng đó không được khai thác, phát triển và không
có cống hiến cho xó hội thỡ với nền tảng tri thức cơ bản, tư chất nổi trội hơn người vẫn
quan niệm họ là nhân tài.
Tiêu chí đánh giá một người là nhân tài rất khó cụ thể hóa. Thợ thuyền cũng có
anh thợ cả, thợ phụ. Một công nhân tinh thông nghề nghiệp, thông minh, sáng tạo, có
nhiều sáng kiến trong công việc, tiết kiệm hàng chục triệu đồng cho quốc gia cũng phải
sư, văn nghệ sĩ )
- Nhân tài trong lao động- sản xuất (công nhân, nông dân, thợ thủ công )
Nguyên khí quốc gia phải dựa vào cả ba nguồn nhân tài trên, trong đó nhân tài -
lónh đạo đóng vai trũ quyết định nhất đến sự thịnh suy của nguyên khí này.
Có tài chỉ là điều kiện cần. Có đức là điều kiện đủ. Người lónh đạo ngày nay phải
là người có cả đức và có tài! Như vậy mới hội đủ hết ý nghĩa của từ "nhân tài" bởi trong
"nhân tài" có chữ "nhân" - thể hiện phẩm chất đạo đức cao quý trong những người tài và
cũng là quan niệm của xó hội ta từ ngàn đời nay đối với người tài thực sự. Sự kết hợp hài
hoà giữa đức và tài sẽ làm nên một "nhân tài" theo đúng nghĩa. 1.1.2. Những đặc trưng của người tài
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Vì thế người tài thường hiếm. Để có một
người tài phải có quá trình học tập, rèn luyện, bồi dưỡng gian khổ của bản thân cá nhân
đó và của toàn xã hội.
Có thể khái quát các đặc trưng của nhân tài là:
hiền tài. Nhân tài đích thực có một số tính cách phổ biến: khiêm tốn, khiêm nhường và
chỉ xuất hiện khi có người trọng dụng.
Người tài muốn phát triển phải có môi trường tốt để họ phát huy hết khả năng, sở
trường của mình. Người tài đều sợ không có chỗ để thi thố tài năng và sức lực.
Một vài trong những biểu hiện của nhân tài là tính sáng tạo cao (do trời phú) và
sự đam mê công việc mà mỡnh yờu thớch. Đó là những người có thể cống hiến cả đời
mình cho sự nghiệp, cho ý tưởng mà mình đã theo đuổi. Nhân tài là những người luôn tạo
nên sự khác biệt, làm được những việc họ muốn làm, luôn lăn xả trong công việc, biết
đam mê và có kỹ năng thuần thục kèm theo tính sáng tạo.
Đọc truyện "Tam quốc" chúng ta đều biết, Lưu Bị ba lần đến lều tranh mới vời
được Khổng Minh ra giúp, hũng khụi phục cơ đồ nhà Hán. Trong khi đó, Từ Thứ làm tân
khách của Tào Tháo nhưng vỡ oỏn Tào giả thư của mẹ dụ mỡnh về khiến bà phải tự sỏt,
dự ở trong quõn Tào được đói đằng trọng thị vẫn ba năm không hiến một kế. Từ đó có
thể hiểu nhân tài bao giờ cũng lấy nghĩa khí làm đầu. Nhân tài thường là những người có
lòng tự trọng cao.
người rời đất nước ra đi không phải nhỏ. Có thể quy các hiện tượng trên vào mấy nguyên
nhân: do ý thức chớnh trị của cỏc nhân tài; đó là người có hoài bóo, ai cũng muốn cú đất
dụng vừ, muốn tỡm cơ hội thi thố tài năng; là con người ai cũng cần có cuộc sống thoải
mái.
Người có tài thường có những ý tưởng và việc làm táo bạo, mới mẻ bị người
xung quanh cho là điên rồ. Tài năng cũn là đối tượng của sự ganh ghét, sự ganh ghét sẽ
trở nên nguy hiểm khi kẻ ganh ghét là cấp trên, là những người có thế lực, có tiền bạc
hoặc những kẻ đê tiện lại xảo quyệt, nhiều người trở nên tuyệt vọng, thoái chí bỏ cuộc.
Nhiều tài năng đó thui chột bằng con đường ấy.
Có những người tài chỉ tập trung đi sâu vào một lĩnh vực chuyên môn, cũn những
lĩnh vực khỏc anh ta tỏ ra chàng màng, ngu ngơ, vụng về. Những người này nếu được
giao làm quản lý thường hay vấp váp. Lại có những người tài ngoài khả năng chuyên
môn của mỡnh, cũn quan tõm nghiờn cứu nhiều lĩnh vực liờn quan và khụng ớt người thể
hiện sự giỏi giang trên nhiều lĩnh vực. Người tài loại này nếu được giao làm quản lý sẽ
rất năng động và thành công.
loại chẳng đó từng cú những cụng trỡnh khoa học vĩ đại, những tác phẩm văn học nghệ
thuật bất hủ được sinh ra từ một bộ óc có trí tưởng tượng bay bổng và một trái tim nhân
hậu đó sao? Xin đừng nghĩ chỉ có những người hoạt động khoa học xó hội mới cần đến
những tố chất bay bổng bên trên hiện thực. Những chiếc máy bay phản lực, máy bay chở
khách, những chiếc ô tô du lịch sang trọng, những chiếc tàu thủy đẹp như những tũa biệt
thự nổi trờn biển khụng thể được sản xuất từ những cái đầu trọc phú, mà phải từ những
cái đầu lóng mạn, dư thừa trí tưởng tượng.
Người hiền tài có nhiều đặc điểm hiện diện thế. Nhưng nhận diện ra người hiền
tài và sử dụng được người hiền tài là cả một vấn đề lớn, không đơn giản chút nào. Bởi
trong cuộc sống, người ta dễ nhầm lẫn người chân tài (thực tài) với kẻ hư tài (bất tài).
Người tài thường hiện hữu trước đồng loại với tất cả những gỡ mỡnh cú. Kẻ bất tài
thường tạo ra một cái vỏ bọc mỹ miều để che đậy sự kém cỏi bên trong. Người tài nói thế
nào làm thế ấy. Kẻ bất tài sống lập lờ, hai mặt nói rất hay ho nhưng làm rất dở. Khi làm
dở thường tỡm cỏch ngụy tạo, đổ lỗi cho người khác. Cấp trên mà bất tài, hư tài thỡ khú
cú thể chấp nhận một người chân tài dưới quyền mỡnh, bởi kẻ bất tài thường có tầm nghĩ
Nguyờn Giỏp, nhà chớ sĩ yờu nước Huỳnh Thúc Kháng những tri thức lớn như: Tạ
Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Phan Anh,
Nguyễn Xiển những tài năng chuyên ngành danh tiếng như: Tôn Thất Tùng, Đặng Văn
Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Lương Định Của. Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Tụy, Nguyễn Văn
Hiệu, Vừ Tuyờn Hoàng với phẩm chất toàn diện của mỡnh, họ đó chứng minh rừ ràng
tài cao phải đi đôi với đức trọng.
Tài năng và đạo đức là hai lĩnh vực độc lập với nhau, nhưng lại có mối quan hệ
rất mật thiết. Một số người nhầm lẫn những yếu tố của tài năng với phẩm chất của đạo
đức. Họ thường cho rằng kiên trỡ, lũng quyết tõm, tớnh tớch cực trong cụng việc, là
những yếu tố được xem xét khi đánh giá tài năng. Trong thực tế đó là những phẩm chất
của đạo đức.
Những yếu tố khả năng về thực chất khác với đạo đức. éú thường là những phẩm
chất của trí tuệ (trí thông minh, khả năng suy xét, phán đoán, trí nhớ), lượng tri thức, vốn
sống, kinh nghiệm, sức làm việc, sức khoẻ, sự khéo léo, mềm mại, linh hoạt của công tác,
những đặc điểm về mặt sinh lý, cơ thể (như chiều cao, hỡnh thức cơ thể, độ tinh nhạy của
triển.
Những yếu tố của tài năng chịu sự chi phối của đạo đức. Chúng thường hỡnh thành trong
kiờn trỡ tập luyện, trong nỗ lực rốn luyện, trong thái độ trung thực và tích cực hoạt động.
éạo đức tốt sẽ góp phần phát triển những yếu tố trên, làm cho giá trị mức độ của tài năng
ngày càng gia tăng.
Nếu con người có các yếu tố tài năng, có những hiệu quả hoạt động cao nhưng lại
thiếu những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của nhân cách hay có những thói hư tật xấu, tài
năng của họ sẽ bị giảm giá trị hoặc bị thoái hoá đi, hoặc gây ra những hậu quả tai hại cho
xó hội. Những người có tài năng cao mà phẩm chất đạo đức xấu thỡ càng gõy tỏc hại xấu
cho xó hội, và càng dễ bị mọi người lên án. Nếu có tài mà không có đức sẽ vô cùng nguy
hiểm cho xó hội. Trong trường hợp này, họ không được gọi là nhân tài.
khinh người là có tài, không phải ai có tài là tất yếu trở thành kẻ vô kỷ luật, kẻ lập dị. Tài và
tật là hai phẩm chất không có cấu trúc liên kết tất yếu. Dĩ nhiên, không thể phủ nhận hoàn
toàn được hiện tượng này tuy nhiên, có một tỷ lệ nào đó người có tật kèm theo hoặc tài với
tật kết với nhau. Đó là theo sự phát triển đa dạng của người tài. Có người thấy mỡnh cú tài
càng muốn học tập vươn lên thêm. Song cũng có người thấy mỡnh tài lại sinh ra thỏa
món, chây lười.
Rừ ràng phải phõn biệt tinh tế giữa tài và tật, phải hiểu đầy đủ nội hàm độc lập
của nó và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Điều kỳ diệu của người lónh đạo, của cộng
đồng là sử dụng được, phát huy được tài mà không khuyến khích tật, hạn chế tật, xóa bỏ
tật mà không bóp chết tài.
Người tài, nói một cách chính xác và công bằng, phải là những người vừa có tài
Bác Hồ của chúng ta đó hội tụ được nguyên khí quốc gia khi Đảng ta chỉ từ hai
bàn tay trắng làm nên mới làm nên sự nghiệp rạng rỡ như hôm nay. Bởi văn hóa Hồ Chí
Minh là môi trường cho các nhân tài như Trường Chinh, Lê Duẩn, Vừ Nguyờn Giỏp,
Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Vừ Văn Kiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Ngọc Thạch,
Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Lương Định Của rộ nở như sao đầu hôm.
Một thế hệ biết đổi vinh hoa phú quí và cả "giang sơn sự nghiệp" riêng để mưu
cầu hạnh phúc cho dân tộc và vinh quang cho đất nước. Thật là hạnh phỳc cho nhõn dõn
ta bởi cú lónh tụ Hồ Chớ Minh mà văn hóa dân tộc ta mới được tiếp tục phát triển đến
đỉnh cao rạng rỡ như vậy.
Bước vào thế kỷ 21 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang phát triển sâu
rộng, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đang diễn ra với quy mô rộng
khoa học thay thế cho lực lượng sản xuất cơ khí. Từ sự phỏt triển kinh tế chỉ vỡ lợi nhuận
chuyển sang định hướng phát triển đồng thuận giữa kinh tế - xó hội - mụi trường.
Ngày nay tri thức có thêm chức năng cực kỳ quan trọng là dùng tri thức để tạo ra
tri thức mới. Thuật ngữ kinh tế tri thức (knowledge based economyke) đó được tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) gồm trên 30 nước công nghiệp phát triển chính thức
sử dụng từ năm 1995 đó là: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh
truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống". Chớnh vỡ vậy nhõn tài và lao động tri thức đó trở
thành một lực lượng sản xuất mới, giữ vai trũ quyết định hơn cả vốn và tài nguyên. Trờn
thế giới tài nguyờn ngày càng cạn kiệt, cũn tri thức và sức sáng tạo của con người là vô
hạn. Tri thức là vốn quý nhất của nền kinh tế tri thức, tri thức là sản phẩm của trớ tuệ con
Chính sách đối với kẻ sỹ là hũn đá thử vàng đối với sự phát triển của một dân
tộc, là môi trường cho hạt giống hưng thịnh của quốc gia nảy mầm và phát triển. Môi
trường trong sạch thỡ kẻ sĩ đầy đàn, quốc gia hưng thịnh; môi trường ô nhiễm thỡ kẻ sĩ
thưa thớt, quốc gia suy vong.
Ba đội ngũ trụ cột cho công cuộc phát triển của một quốc gia là các nhà lãnh đạo,
giới doanh nhân và tầng lớp trí thức.
Khỏt vọng, tầm nhỡn và tư duy của ba đội ngũ này có ảnh hưởng quyết định đến
khát vọng, tầm nhỡn và tư duy của dân tộc. Trong mỗi đội ngũ này, sự đóng góp có tính
đột phá của cá nhân có thể tạo nên những bước nhảy vọt cho công cuộc phát triển. Nhà
chính trị Đặng Tiểu Bỡnh, với sự đột phá về tầm nhỡn và tư duy, đó đưa Trung Quốc
thoát khỏi vũng tối tăm mê muội để trở thành một quốc gia có tốc độ đổi thay kỳ vĩ, làm
nổ thông tin và khoa học - kỹ thuật của thế kỷ 21 này cũn cần cả những người có khả
năng hỡnh thành những quan điểm mới, ý tưởng mới, khuynh hướng mới (Opinion
Shapers hay Trend Setters) như nghĩ ra các festival, các game, các thời trang, các loại
nhạc cũng như các món ăn mới… để tạo nhu cầu sôi động và khi đó, kinh doanh mới
phong phú được!
Suy cho cùng sự tồn vong của dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào cách sử dụng trí
thức. Để tạo điều kiện cho nhân tài được phát triển, điều đầu tiên là phải trọng dụng
(chính sách chiêu hiền đói sĩ). Trọng dụng trước hết là kính trọng rồi mới sử dụng. Ngày
xưa Lưu Bang lập đài bái kiếm Hàn Tín, Lưu Huyền Đức ba lần cầu Gia Cát Lượng, Lê
Thái Tông lập Quốc Tử Giám (1442) đúc văn bia ghi công trạng kẻ sỹ tại Văn miếu,
Nguyễn Huệ thân hành lên núi thỉnh xin cao kiến La Sơn Phu Tử. Gần hơn, Tiến sỹ (ông
nước
Cách đây hơn 60 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh cả nước nhân
ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bức thư của Bác Hồ có
đoạn: "
Nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên
tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của
các em
".
Trong bài "
Tỡm người tài đức
" ngày 20.11.1946 Bác Hồ đó viết những lời tõm
huyết:
Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có người tài. Trong
số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vỡ chớnh phủ
nghe khụng đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất
sụng khụ cạn. Cõy phải cú gốc rễ, khụng cú gốc thỡ cõy khụ hộo. Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thỡ tài giỏi cỏch mấy cũng khụng lónh đạo được nhân
dân
".
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: Nếu cái gốc của người cách mạng
là đạo đức thỡ cỏi gốc của đạo đức là ở chữ Tâm: "Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài".
Bác nhấn mạnh: Có tài mà không có đức thỡ vụ dụng, cú đức mà không có tài thỡ làm
việc gỡ cũng khú; người cách mạng mà không có đạo đức cách mạng thỡ giỏi đến mấy
cũng không lónh đạo được nhân dân. Không có đạo đức cách mạng, không có "cái tâm"
thỡ trước sau cái "đạo đức giả" che giấu đến mấy cũng bị tai, mắt nhân dân phát hiện.
Những người có tài mà không có đức khụng những vụ dụng mà cũn rất nguy hiểm nếu
như họ giữ những chức vụ quan trọng.
Rừ ràng, đức và tài luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau trong
nhận thức tư tưởng, hoạt động thực tiễn. Mối quan hệ giữa đức và tài như sự ràng buộc,
đi liền nhau: Có cái này phải có cái kia và cái kia chứa đựng trong cái này. Đức và tài là
hai tiêu chuẩn không thể thiếu của người cán bộ. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc.
Người rất coi trọng cả đức và tài. Có tài phải có đức, có tài mà không có đức, tham ô, hủ hóa
chỉ có hại cho đất nước. Có đức mà không có tài chẳng làm gỡ được thỡ khụng giỳp ớch cho
ai. Người nêu rừ kiến thiết cần cú nhân tài dẫu tại nước ta nhân tài tuy chưa nhiều lắm
nhưng chỳng ta khộo lựa chọn, khộo phõn phối, khộo dụng thỡ nhân tài ngày càng phát
triển thêm nhiều.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục, đào tạo, phát
hiện nhân tài, Người cũn coi trọng chớnh sỏch sử dụng nhân tài. Nhờ có tấm lũng thật sự
trọng dụng nhân tài nên Bác đó tập hợp được đội ngũ trí thức từ nước ngoài về phục vụ
sự nghiệp kiến quốc như: bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, kỹ sư Trần Đại
Nghĩa, giáo sư Lê Văn Thiêm, tướng Nguyễn Sơn, Tạ Quang Bửu và nhiều trí sĩ khác
gắn bó, đem hết tài năng để xây dựng đất nước, phục vụ kiến quốc.
Trong tư tưởng của Hồ chủ tịch, quan trọng nhất là nước phải độc lập, dân phải
tự do. Sức mạnh để dành độc lập tự do là lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc. Với
Hồ Chủ tịch, cán bộ có ý nghĩa quyết định với phong trào, nên Người luôn chọn người có
đạo đức, có tư cách, có tài, dù người đó có là Đảng viên hay không. Nhiều người đó phõn
việc làm cụ thể. Bác cho rằng, để phát huy sự sáng tạo của trí thức, cần đưa họ vào phong
trào cách mạng, đi vào đời sống nhân dân, coi đó là trường học lớn để học tập, rèn luyện
và trưởng thành. Người đũi hỏi trớ thức cỏch mạng phải là những người vừa có đức, vừa
có tài. Cán bộ lónh đạo và quản lý phải được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên để có tri
thức sõu rộng trờn nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực mỡnh đang phụ trách, có như vậy mới
có thể hoàn thành công việc ngày càng tốt. Chính nhờ tư tưởng sáng suốt của Bác mà đến
nay phần lớn con em giai cấp công nhân, nông dân được đào tạo trở thành những cán bộ
lónh đạo, cán bộ khoa học tài năng, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc.
Tư tưởng với những nguyên lý giáo dục Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục, đào
tạo nhân tài để lại cho chúng ta đến nay vẫn cũn nguyờn giỏ trị, vẫn sỏng mói tớnh khoa
học và cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là những bài học vô cùng
quý giá để chúng ta học tập, và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt làm tốt hơn nữa công tác đào tạo,
bồi dưỡng thế hệ trẻ, lựa chọn nhân tài đáp ứng nhu cầu cao của công cuộc đổi mới vỡ sự
phồn vinh của đất nước.
những ưu thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trỡnh độ công nghệ
tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng
dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu
mới của khoa học công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Muốn làm được điều đó không có con đường nào khác Đảng và Nhà nước ta phải
tập trung vào việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài có đủ năng lực, trí
tuệ, có khả năng sáng tạo nắm bắt và làm chủ các tri thức của thời đại để hội nhập quốc tế
trong bối cảnh toàn cầu hóa và tiến vào nền kinh tế tri thức.
Bài học lớn từ những thử thách lịch sử là Đảng ta biết hội tụ nhân tài, biết lắng
nghe những ý kiến khác nhau, để tỡm ra con đường đi phù hợp nhất. Trí tuệ của Đảng là
kết tinh trí tuệ của toàn dân tộc, hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nguồn sinh lực ấy
không thể có nếu chỉ duy trỡ quyết định một chiều từ trên xuống, bao biện, nghĩ thay, làm
thay, mà thiếu không khí bàn luận dân chủ ngay trong nội bộ Đảng, phát huy tiềm lực của
ba triệu đảng viên.
Hơn thế, là một chính đảng cầm quyền, được giao trọn vẹn quyền lực của nhân
Có thể nói, một thành công quan trọng của Đảng là đó quy tụ được những trí tuệ
lớn nhất thời đại chung lo sự nghiệp vỡ nước, vỡ dõn. Thế nờn, cú anh kỹ sư công chính
Phạm Ngọc Lễ bỏ công việc của một tổng công trỡnh sư với mức lương 5 cây vàng/
tháng giữa Pa-ri hoa lệ để lên tàu về nước, nhập vào cuộc kháng chiến gian khổ, hi sinh
của dân tộc. Nhờ đó, chúng ta có một chuyên gia chế tạo vũ khí Trần Đại Nghĩa với
những xưởng quân giới ẩn trong vùng sâu, trang thiết bị cũn đơn sơ nhưng sức sáng tạo
diệu kỳ.
Những trí thức phong kiến như cụ Huỳnh Thỳc Khỏng, cụ Phan Kế Toại, cụ
Phạm Khắc Hũe cũng nguyện một lũng đi theo cách mạng, để được thảnh thơi làm dân
một nước tự do. Những văn nghệ sỹ lóng tử phong trần như Nguyễn Bính, Xuân Diệu,
ngang tàng như Nguyễn Tuân cũng tỡm thấy ý nghĩa đời mỡnh trong dũng chảy lịch sử,
trong dũng thỏc cỏch mạng mà Đảng ta khởi xướng.
Như vậy, có thể khẳng định rằng: Chế độ chính trị nước ta không đố kỵ với
người tài, hoàn toàn có thể là đất dụng vừ của người tài, nhân dân ta luôn có truyền thống
tôn vinh người tài. Chỉ xin nhớ lại thời Cách mạng tháng Tám, bao nhiêu người tài đó