BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ QUẢNG BÁ DU LỊCH HẠ LONG - Pdf 20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ
---------------
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ QUẢNG BÁ
DU LỊCH HẠ LONG
(KHẢO SÁT TẠP CHÍ DU LỊCH, BÁO TUỔI TRẺ VÀ QUẢNG NINH,… NĂM 2007)
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài:
Trong thời đại ngày nay, du lịch không còn là điều xa lạ đối với
con người. Mỗi ngày, dòng khách du lịch trên thế giới đã, đang và sẽ
tỏa đi muôn nơi để khám phá những điều kỳ bí, mới mẻ ở các chân
trời mới. Hiện nay, du lịch được đánh giá là ngành công nghiệp vàng,
cung cấp nguồn lợi nhuận lớn cho nhiều quốc gia.
Ở Việt Nam, tiềm năng du lịch là rất lớn. Đó là những điểm du
lịch tự nhiên như các bãi tắm tuyệt đẹp dọc 3260km đường bờ biển
Bắc - Nam như: Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Nha Trang, Vũng Tàu…,
hay các hang động caxtơ tự nhiên lung linh, huyền ảo say đắm lòng
người như động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), “Nam Thiên đệ
nhất động” Phong Nha, Kẻ Bàng… Ngoài ra, du lịch văn hóa - lịch sử
cũng thu hút được đông đảo sự chú ý của du khách như Cố đô Huế,
thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An… Nụ cười Việt Nam cùng khẩu
hiệu “Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỷ mới” đang là hình ảnh
gây ấn tương, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cho phát
triển du lịch Việt Nam.
Nhắc đến du lịch Việt Nam không thể không nhắc tới Vịnh Hạ
Long - niềm tự hào của nhân dân cả nước. Hạ Long hội tụ đầy đủ
những yếu tố thiên tạo và nhân tạo - điều mà các điểm du lịch khác
khó có được. Đó là vẻ đẹp thuần kết, huyền diệu của tự nhiên, từ bãi

lịch đúng hướng, phù hợp xu thế phát triển của đất nước.
3
Chính vì vậy khi lựa chọn đề tài “Báo chí với vấn đề quảng bá
du lịch Hạ Long”, người viết một lần nữa muốn khẳng định hiệu quả
truyền thông báo chí trong việc phát triển du lịch Hạ Long và đóng
góp của báo chí trong cuộc bình chọn Vịnh Hạ Long là một trong 7
kỳ quan thiên nhiên thế giới.
Đề tài “Báo chí với vấn đề quảng bá du lịch Hạ Long” cố gắng
tiếp cận, tìm hiểu vấn đề ở những giá trị thực tiễn mà báo chí đã,
đang làm được đối với vấn đề quảng bá du lịch, hình ảnh Hạ Long;
đồng thời mở ra có tính dự đoán những đóng góp của ngành trong
tương lai. Tính thời sự nóng hổi của đề tài trong hôm nay và chắc
chắn còn gợi mở nhiều khía cạnh trong tương lai.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Đề tài đi vào vấn đề có ý nghĩa thực tiễn xã hội, khẳng định
tính chất hoạt động báo chí trong cuộc sống cụ thể và đạt hiệu quả.
Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế của báo chí đối với
vấn đề phát triển tiềm năng du lịch Hạ Long trong năm vừa qua; bài
nghiên cứu này có thể đưa ra một số giải pháp kiến nghị cho báo chí
trong công tác hỗ trợ cho ngành Du lịch nói riêng và các mặt đời
sống khác nữa phát triển qua đó phát huy hơn nữa vai trò to lớn của
báo chí.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: đề tài nhằm nghiên cứu hình ảnh Vịnh Hạ Long,
ngành du lịch Hạ Long được truyền tải trên các phương tiện truyền
thông báo chí ở nước ta .
- Phạm vi: Nghiên cứu thực trạng của ngành du lịch Hạ Long
được đăng tải trên một số tờ báo năm 2007, cụ thể:
4
+ Báo Quảng Ninh

Chương II: Vai trò của báo chí đối với du lịch nước ta nói
chung và du lịch Hạ Long nói riêng.
Đi sâu phân tích, đánh giá tổng hợp làm nổi bật những nội
dung, vấn đề mà báo chí truyền tải về vấn đề du lịch (sơ qua) đặc biệt
là về du lịch Hạ Long, đồng thời nhìn nhận, đánh giá những ưu điểm
cũng như hạn chế của báo chí đối với công tác quảng bá du lịch Hạ
Long thời gian qua.
Chương III: Những giải pháp, kiến nghị để báo chí phát huy vai
trò hơn nữa trong việc quảng bá du lịch Hạ Long.
Nội dung của bài nghiên cứu được trình bày theo các chương
mục nêu trên.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN DU LỊCH VÀ DU LỊCH HẠ LONG
1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DU LỊCH
Trên thế giới, bùng nổ du lịch là một tất yếu khách quan cùng
với sự tăng trưởng kinh tế, xu thế hoà nhập, với nhu cầu tối thượng
của con người là hiểu chính mình và hiểu thế giới xung quanh. Như
vậy, du lịch nếu hiểu theo nghĩa bao quát có thể là quá trình tiếp cận
để cảm nhận “cái đẹp”, để tìm tới điều “thiện” và “tiến bộ”. Cố gắng
đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về du thật là khó bởi với mỗi góc
độ tiếp cận khác nhau, sẽ có những cách hiẻu khác nhau. Trong một
văn bản có tính quy phạm nhất của ngành du lịch hiện nay, du lịch
được hiểu là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một khoảng thời gian nhất định. Tất nhiên, khái niệm trên chỉ
có tính chuyên ngành vì vậy cần đưa ra một cách hiểu rộng rãi hơn
cho tất cả mọi người. Với quan điểm ấy, các học giả biên soạn “Bách
khoa toàn thư Việt Nam” tách thuật ngữ du lịch ra thành 2 phần để
định nghĩa:
* Nghĩa thứ nhất: giống như trong Pháp lệnh du lịch coi du lịch

Du lịch sinh thái là du lịch hường về thiên nhiên xanh với nhiều
mục tiêu khác nhau như ngắm cảnh, tắm biển, săn bắn, leo núi, nghỉ
dưỡng, chữa bệnh.
8
Ở Việt Nam cũng có tiềm năng thiên nhiên phong phú đa dạng
để phát triển du lịch và sinh thái. Trên các phương tiện thông tin đại
chúng thường xuyên giới thiệu các điểm du lịch sinh thái, tạo sức
cuốn hút mạnh mẽ với công chúng cùng khám phá cảnh quan thiên
nhiên kì vĩ của núi rừng Việt Nam, cảnh sắc bình yên của làng quê
Việt Nam với những miệt vườn cây trái miền Nam, hệ thống kênh
rạch, bản sắc Tây Bắc rẻo cao.
Du lịch văn hóa là loại du lịch mà du khách muốn được thẩm
nhận bề dày lịch sử, bề dày văn hóa của một đất nước thông qua các
di tích lịch sử, di tích văn hóa, những phong tục tập quán cổ truyền
( các giá trị văn hóa phi vật thể): Lễ hội, tín ngưỡng, trang phục, điều
kiện sinh hoạt.
Hiện nay, du lịch văn hóa được coi trọng ở tất cả các nước. Nó
mang sắc thái riêng của mỗi quốc gia trong phát triển du lịch.Chúng
ta có một nền văn hóa phong phú, độc đáo và đặc sắc để phát triển du
lịch, trải dài theo suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, phân bố rộng
khắp trên phạm vi cả nước, bao gồm những giá trị văn hóa vật thể và
phi vật thể.Trong đó có các “ nguyên liệu” của du lịch văn hóa cần
được giữ gìn và phát huy bởi xu thế du lịch văn hóa là trở về với giáo
dục. Như vậy “ nguyên liệu” cho phát triển du lịch văn hóa là yếu tố
văn hóa:
Cụ thể:
• Di tích lịch sử
• Di tích văn hóa
• Phong tục tập quán
• Các loại hình nghệ thuật

vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng di sản thiên
nhiên được thế giới có diện tích 434 km² bao gồm 775 đảo, như một
hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu gỗ ( phía tây), hồ Ba Hầm
( phía Nam), đảo Cống Tây ( phía Đông), vùng kế bên là khu vực
đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ văn hóa Thông tin xếp
hạng năm 1962.
Những ai từng đến vịnh Hạ Long đều có cảm giác như đi giữa
một thế giới động vật trải qua hàng ngàn năm hóa đá, mỗi đảo có
một hình thù kì lạ. Đảo trên vịnh Hạ Long có chỗ quần tụ lại, nhìn
xa ngỡ chồng chất lên nhau, nhưng cũng có chỗ đảo đứng dọc ngang,
xen kẽ nhau tạo thành tuyến chạy dài hàng chục kilômét như một
bức tường thành vững chãi ngăn mặt biển với chân trời.
Vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thế giới lần thứ 1 vì
giá trị thẩm mĩ, Hạ Long có vẻ đẹp tạo dáng cực kì phong phú của
đảo đá với quy mô khác nhau phân bố trên diện rộng hàng ngàn
kilômét vuông. Bên cạnh đó là vẻ đẹp của các hang động, hệ sinh
thái đa dạng, quý hiếm.
Theo thống kê của ban quản lí vịnh Hạ Long, trong 1969 đảo
vịnh Hạ Long có đến 1921 đảo đá ngoài dáng vẻ kì lạ trầm mặc như
một pháo đài đá soi bóng xuống mặt vịnh, còn mang trên mình một
thảm thực vật đặc trưng, phong phú và tuyệt diệu cho đến nay vẫn là
tấm màn bí mật với nhiều người. Trong báo cáo của văn phòng tổ
chức bảo tồn thiên nhiên quốc gia cho biết thảm thực vật trên đảo đá
của Hạ Long gồm hơn một ngàn loài. Thiên nhiên đá vôi với môi
trường độc đáo cho thấy 7 loài thực vật chỉ có thể thích nghi với
11
điều kiện sống trên các đảo Bái Tử Long mà chưa thấy nơi nào khác
trên thế giới như Thiên Tuế Hạ Long, cọ Hạ Long, khổ cử đại
nhung…Đặc biệt, trên đảo của vịnh Hạ Long, mấy năm gần đây, các
nhà khoa học đã phát hiện một giống trúc mọc ngược khác với các

trên mặt nước ( hòn Rồng), đảo thì lại giống một ông lão đang ngồi
câu cá ( hòn Ông Lã Vọng), hòn Cánh Buồm, hòn Trống Mái, hòn
Lư Hương… Tất cả trông rất thực, thực đến kinh ngạc. Hình dáng
những đảo đá kỳ diệu ấy biến hóa khôn lường theo góc độ ánh sáng
trong ngày và theo góc nhin. Tiềm ẩn trong hang Đầu Gỗ, hang Sửng
Sốt, động Tam Cung… Đó thực sự là những lâu đài của tạo hóa giữa
chốn trần gian.
Du ngoạn trên vịnh Hạ Long, du khách thường chú ý vào chân
các đảo đá, chỗ mấp mé mặt nước. Ở đây bao đời qua biển cả đã cần
cù chạm khắc vào chân đảo nhiều hình thù kỳ dị, tầng tầng lớp lớp,
trông xa tựa bức phù điêu lượn quanh chân đảo. Trải qua hàng triệu
năm, với sự tác động của nước biển, hình thù chạm khắc trên chân
đảo hằn sâu khiến nhiều chân đảo trở nên muôn hình muôn vẻ. Nhà
thơ Reny Alay ( New Zealald) khi đến thăm các đảo đá trên vịnh Hạ
Long đã làm một bài thơ có tựa đề “ Hạ Long”, bài thơ có câu : “
Trên mặt biển Đông Nam / Mỗi đỉnh một kỳ quan”.
• Đặc điểm về lịch sử - văn hóa.
Theo những nhà nghiên cứu về văn hóa và lịch sử vịnh Hạ
Long thì các đảo của vịnh Hạ Long có tên gốc là tên chữ nôm do
những người làm nghề chài lưới, Sơn tràng, lính đồn trú sinh sống
trên vùng biển Hạ Long từ xa xưa phát hiện và đặt tên như hòn Oản,
13
hòn Dù Dì, hòn Ghềnh Đám… Trải qua bao biến cố của tự nhiên và
lịch sử, một số không ít đảo mất tên gốc nôm, mang tên âm mới Hán
Việt hoặc tên tiếng Hoa và tiếng Pháp như Tuần Châu, Minh Châu,
Cẩu Thầu Chảy, Cống Tàu, Êcăng, Latáp… Đảo trên vịnh Hạ Long
được đặt tên căn cứ vào hình dáng ( giống người hoặc vật nào thì đặt
tên của người hoặc vật đó), hay căn cứ vào sự tích dân gian, sự kiện
lịch sử ( núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ) hoặc căn cứ vào những đặc sản
có trên đảo hay vùng biển quanh đảo để đặt tên ( Ngọc Vừng, hòn

gió lớn, vịnh Hạ Long có hàng ngàn hòn đảo như tường thành ngăn
sóng và bão lớn. Tàu thuyền trên vịnh không chỉ kà phương tiện đánh
cá mà còn là nhà của ngư dân, là nơi ăn ngủ và thờ cúng tổ tiên.
Những người dân chái trên vịnh Hạ Long gắn bó cả cuộc đời với
những con thuyền của họ từ khi sinh ra, lớn lên, lấy vợ gả chồng và
cho đến cả khi trở về cõi vĩnh hằng.
Bao đời nay, con thuyền của dân chài Hạ Long vẫn thế, dù to
hay nhỏ đều có 3 khoang: khoang mũi, khoang giữa và khoang sau.
Trong đó khoang giữa là khoang chính có mui chắc chắn và cố định
để thờ tự ông bà và cũng là nơi ngủ của bố mẹ và con cái nhỏ.
Khoang mũi là nơi để ngư cụ, thả lưới và giăng câu. Khoang sau
thường có mui là nơi ngủ của con cái lớn chưa lập gia đình, và khi
lập gia đình thì 2 bên gia đình phải gom góp làm một thuyền mới cho
đôi trẻ.
Hiện nay, dấu xưa còn đọng lại của làng chài cổ là những câu
hát giao duyên xưa vẫn còn được lưu truyền đến hôm nay mà lớp
thanh niên nam nữ làng chài hầu như ai cũng thuộc như lối hát đúm,
15
hò biển và hát đám cưới. Đám cưới của vịnh Hạ Long cũng độc nhất
vô nhị vì theo phong tục chỉ ăn tản, người dân chài không đi đánh cá.
Và những đêm trăng ấy, biển Hạ Long lung linh và huyền ảo. Thuyền
nhà trai đến thuyền nhà gái đón dâu, thay bằng những lời chào hỏi,
chúc tụng là những câu hát đối vui vẻ. Nếu nhà trai hát thắng thì nhà
gái mới chịu mở ngõ cho thuyền mình làm lễ gia tiên và đón dâu. Và
tất nhiên, bao giờ nhà trai cũng thắng và nhà gái bao giờ cũng giả vờ
thua.
• Đặc điểm kinh tế - xã hội
Hạ Long là trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng
Ninh. Hạ Long cũng là một đỉnh của tam giác công nghiệp miền Bắc
Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.

khẩu chủ yếu là than và hải sản, hàng nhập khẩu là xăng dầu, máy
móc, sắt thép, phương tiện vận tải. Hạ Long là đầu mối buôn bán các
mặt hàng công nghiệp, lương thực, thực phẩm cho sản xuất và tiêu
dùng của vùng mỏ và vùng du lịch. Chợ Hạ Long I là trung tâm buôn
bán lớn nhất của thành phố. Ngoài ra, thành phố còn đang xây dựng
nhiều công trình lớn như: chợ Hạ Long II ( hay còn gọi là chợ Long
Tòng); trung tâm thương mại An Hưng Plaza, khu đô thị Hạ Long,
khu trung tâm thương mại Cột 5.
- Về giao thông
Hạ Long nằm trên quốc lộ 18 nối từ Bắc Ninh tới cửa khẩu
Móng Cái đã được nâng cấp. Từ Hạ Long có thể đến Uông Bí và theo
17
đường quốc lộ 10 tới quốc lộ 1 xuyên Việt tại thành phố Ninh Bình
cũng sẽ được nâng cấp thành đường cao tốc theo chương trình “ hai
hành lang, một vành đai kinh tế”. Thành phố còn có những bãi đỗ cho
trực thăng và thủy phi cơ; hiện nay có máy bay trực thăng hàng tuần
đưa khách đi du lịch từ Hà Nội tới Bãi Cháy. Thành phố có ga đầu
đường sắt Kép – Hạ Long sẽ nối đến cảng Cái Lân.
- Về du lịch
Hạ Long là thành phố du lịch; một trung tâm du lịch lớn của
miền Bắc và Việt Nam. Gắn liền với vịnh Hạ Long, phường Bãi Cháy
và các phường Tuần Châu, Hùng Thắng đang là vùng phát triển các
khách sạn nhà hàng và xây dựng các công trình du lịch. Ở bờ biển bãi
cháy, bãi tắm đã được tu bổ và một công viên vui chơi giải trí đã
được hình thành.
b) Tổng quan về du lịch Hạ Long.
- Các loại hình du lịch ở vịnh Hạ Long:
Khi khám phá vịnh Hạ Long, khách du lịch trong và ngoài nước
ưa thích tham gia những loại hình sau:
+ Du lịch thăm quan: Du khách được ngắm cảnh, thăm quan các

phòng), khách sạn Bưu Điện ( 3 sao – 115 phòng)… Trong tương lai,
ngành du lịch Hạ Long sẽ có thêm nhiều khách sạn quốc tế hiện đại,
các khu vui chơi giải trí khác hình thành tại Hạ Long.
- Những thành tựu của du lịch Hạ Long hiện nay:
19
Theo viện nghiên cứu và phát triển du lịch Việt Nam cho biết,
số lượng khách du lịch đến Quảng Ninh, chủ yếu đến với vịnh Hạ
Long, liên tục đạt tốc độ tăng bình quân 14%/ năm, trong đó chủ yếu
là khách quốc tế. Cách đây 7 năm, tổng lượng khách du lịch đến
Quảng Ninh chỉ đạt 1,9 triệu lượt, nhưng đến cuối năm 2006 đã vượt
con số 3 triệu. Còn năm 2007, lượng khách du lịch tăng khoảng 35%
so với năm ngoái với tổng thu từ phí tham quan du lịch đạt trên 43 tỉ
đồng.
Còn riêng Hạ Long, năm 2006, Hạ Long đón trên hơn 1,9 triệu
lượt khách du lịch, doanh thu đạt trên 980 tỉ đồng, trong đó phải kể
đến việc khai thông 2 tuyến du lịch đường biển với Trung Quốc ( Hạ
Long – Bắc Hải, Hạ Long – Hải Nam ). Những tháng đầu năm 2007,
lượng khách du lịch đến thành phố vẫn ở mức ổn định, 6 tháng đạt
1035 triệu lượt, trong đó khách quốc tế là 564 nghìn lượt, doanh thu
du lịch là 561 tỉ đồng, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm trứoc. Thành
phố tổ chức thành công lễ hội du lịch Hạ Long hàng năm với nhiều
hình thức mới la, thu hút đông đảo khách du lịch.
20
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VỚI DU LỊCH NƯỚC TA
NÓI CHUNG VÀ DU LỊCH HẠ LONG NÓI RIÊNG.
I. VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI DU LỊCH NÓI CHUNG.
2.1. Vai trò báo chí đối với du lịch nói chung.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hóa nhân loại báo chí
được xem là một hiện tượng xã hội. Báo chí ra đời do nhu cầu thông
tin - giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người. Từ khi ra đời đến

chúng tiếp nhận với vẻ đẹp hấp dẫn nhất, từ đó lôi cuốn du khách,
khơi dậy trí tò mò muốn khám phá vẻ đẹp của điểm du lịch. Dần
dần, du lịch sẽ ngày càng phát triển.
Thực tế đã chứng minh, nhiều vẻ đẹp còn tiềm ân,r hoang sơ,
chưa được con người đầu tư khám phá. Nhưng dưới con mắt tinh tế,
nhạy bén của nhà báo, vẻ đẹp nơi đó được khai phá và đưa tới đông
đảo quần chúng đồng thời những dự án phát triển du lịch sẽ được đầu
tư để phát triển du lịch nơi đây. Việt Nam còn có tiềm năng về du
lịch rất lớn, vì thế báo chí cần tăng cường vai trò hơn nữa trong việc
phát hiện, phát triển những tiềm năng du lịch cho đất nước.
Với khoảng cách địa lý rộng lớn, nếu không có các phương tiện
truyền thông đại chúng thì các địa điểm du lịch sẽ khó được nhiều
người biết đến, ngay giữa các vùng, địa phương trong một quốc gia,
ấy là chưa nói tới trên phạm vi quốc tế. Thử đặt một ví dụ, nếu không
có báo chí thì liệu đông đảo người dân Việt Nam có biết tới “Kinh đô
ánh sáng” Pari, tới tháp nghiêng Pari (Ý), hay nhân dân thế giới có
22
biết tới Vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bàng, Nha Trang…?
Câu trả lời hẳn là không quá khó. Như vậy, có thể nói báo chí phát
triển cũng là nấc thang phát triển vượt bậc của nganỳ du lịch hiện
đại: du lịch quốc tế. Bất kỳ một quốc gia hay một địa điểm du lịch
nào, muốn phát triển ngành du lịch thì không thể không tác rời sự vận
động của nó với báo chí.
Không chỉ dừng lại ở ca ngợi, biểu dương vẻ đẹp của những địa
điểm du lịch, báo chí còn thực hiện đúng mực chức năng của mình;
phản ánh thực tế những điam điểm du lịch còn hạn chế, các tour du
lịch còn yếu kém, hay thái độ của du khách đối với hoạt động du lịch
đều được báo chí tiếp thu, đăng tải, phân tích. Để từ đó rút ra được
những bài học kinh nghiệm trong khâu tổ chức, điều hành, nâng cao
nghiệp vụ du lịch, đưa ngành ngày càng phát triển trong giai đoạn

Người Việt Nam đi du lịch nước ngoài năm 2005 ước khoảng
900 nghìn lượt
1
. Hơn 10 năm về trước, Du lịch Việt Nam đứng vào
hàng thấp nhất khu vực, nhưng hiện nay Việt Nam đã đuổi kịp và
vượt Philippin, Lào, Mianma…; chỉ còn sau Malayxia, Singapo, Thái
Lan và Inđônêxia. Theo đánh giá, hiện nay Việt Nam là một trong
những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế
giới. “năm 2004, du lịch Việt Nam được Hội đồng du lịch và lữ hành
thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174
nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới
1
.
Những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ngành Du lịch
ngày càng trở nên hợp lý. Chính vì vậy, nganỳ đã phát triển mạnh mẽ
và giữ vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội. Hiệu quả, tác động lợi
ích của ngành du lịch tới đời sống xã hội ngày càng rõ nét. Hoạt động
1
Theo Tạp chí kinh tế và dự báo số 5/2007
24
du lịch đã thúc đẩy các ngành khác phát triển, tạo và khả năng tiêu
thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ. Mỗi năm, hàng chục lễ hội
truyền thống được khắc phục, tổ chức dần di vào nề nếp và lành
mạnh, phát huy được thuần phong mỹ tục, nhiều làng nghề thủ công
truyền thống được khôi phục và phát triển, tạo têm các điểm tham
quan du lịch. Du lịch phát triển còn làm góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghè ở nhiều địa
phương. Đồng thời, du lịch phát triển sẽ tạo thêm nguồn thu để tu
tạo, các di tích và nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư giữ gìn, phát huy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status