ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THUỶ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG
CỦA BÁO CHÍ VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
(Khảo sát VOV Giao thông, VTV, Hà Nội Mới 2008 – 2010) LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Báo chí học
Nội…………………………… 16
1.1.6. Các yếu tố trong quá trình truyền thông…………………………… 17
1.1.7. Quá trình truyền thông……………………………………………….19
1.1.8. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả truyền thông về ATGT đường bộ……20
1.1.9. Sự tiếp nhận thông tin của công chúng………………………………23
1.2. Vai trò của báo chí trong công tác truyền thông về an toàn giao
thông ………… 28
1.2.1. Báo chí là kênh tạo lập, định hướng và hướng dẫn dư luận về an toàn
giao thông………………………………………………………………… 28
1.2.2. Báo chí là kênh cung cấp kiến thức, thông tin hữu hiệu, về tình hình
ATGT …………………………………………………………………………… 30
1.2.3. Báo chí là công cụ quản lý xã hội về ATGT………………………… 31
- Chương 2: Thực trạng công tác truyền thông của báo chí về an toàn giao
thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội………………………… ……………….34
2.1. Đặc điểm tình hình chung giao thông đường bộ trên địa bàn Thủ đô
Hà Nội ………………………………………………………………………… 34
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
2
2.2. Khái quát về bốn báo… ……………… ……………….……………36
2.2.1. Báo in Hà Nội Mới và Báo điện tử Hà Nội Mới…………… … 36
2.2.2. Kênh VOV Giao thông…………………………………………………….36
2.2.3. Chuyên mục "Tin tức giao thông" - VTV1……………………………37
2.3. Nội dung truyền thông chủ yếu về an toàn giao thông đường bộ của
bốn báo … ………………………………………………………………………38
2.3.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hoá giao thông……… 39
2.3.2. Vấn đề tai nạn giao thông; ùn tắc giao thông………………… …46
2.3.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông………………………………… 50
2.3.4. Công tác quản lý phương tiện, bến bãi và người lái…………………53
2.3.5.Công tác thiết lập trật tự, kỷ cương và tổ chức, điều hành giao thông.56
Trang
01.
Bảng [2.1]: Các ấn phẩm của Báo Hà Nội Mới
36
02.
Bảng [2.2]: Một vài nét về Kênh VOV Giao thông FM91MHZ
37
03.
Bảng [2.3]: Khung Chương trình trên Kênh VOV Giao thông
78
04.
Bảng [2.4]: Mức độ theo dõi thông tin ATGT trên báo chí của công chúng
82
05.
Bảng [2.5]: Đánh giá của công chúng về nội dung thông tin ATGT
trên báo
83
06.
Bảng [2.6]: Đánh giá của công chúng về tính chính xác, kịp thời của
thông tin ATGT trên báo
83
07.
Bảng [2.7]: Đánh giá của công chúng về sự hấp dẫn của thông tin
ATGT trên báo
84
04.
Biểu đồ [2.4]: Miêu tả mức độ quan tâm của thính giả gọi tới VOV
Giao thông
81
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thủ đô Hà Nội "là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia,
trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế”. [11, tr.3]
Nhằm tạo thêm thế và lực cho Thủ đô Hà Nội, Quốc hội nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá XII) đã thông qua Nghị quyết số 15 về mở rộng địa
giới hành chính Thành phố Hà Nội. Từ ngày 01/8/2008, Nghị quyết chính thức có
hiệu lực, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển của Thủ đô.
Là một trong số ít Thủ đô nghìn năm tuổi, hiện nay, Hà Nội là 1 trong 17 thủ
đô và thành phố có diện tích lớn nhất thế giới, với 3.344,7 km2; 29 đơn vị hành
chính cấp huyện, 577 đơn vị cấp xã; là một đô thị có mật độ dân số cao, tổng dân số
hơn 6,5 triệu người. Trong quá trình xây dựng, phát triển, bên cạnh những thành tựu
to lớn đã đạt được, Hà Nội cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do quá
trình đô thị hoá, trong đó, có vấn đề về an toàn giao thông còn nhiều bất cập: Hạ
tầng giao thông của Hà Nội còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ
đô; diện tích đường giao thông mới chiếm khoảng 7% - 8% diện tích đất đô thị; hệ
thống cầu vượt dành cho người đi bộ qua đường còn quá ít; số lượng phương tiện
giao thông cá nhân gia tăng quá nhanh (khoảng 12% - 15%/năm); mật độ giao thông
của các phương tiện trên đường lớn, nhiều chủng loại phương tiện cùng tham gia
trên đường, trong đó, lượng xe máy chiếm tỷ lệ tới 62%; công tác quản lý về trật tự
toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội” (khảo sát Kênh VOV Giao thông,
Chuyên mục “Tin tức giao thông” - kênh VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Hà
Nội Mới điện tử, Báo in Hà Nội Mới, trong thời gian từ năm 2008 – 2010). Thông qua
khảo sát, đánh giá, chúng tôi hy vọng sẽ rút ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả
truyền thông của báo chí về an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Có thể nêu một số khoá luận về đề tài báo chí với vấn đề an toàn giao thông
phạm vi cả nước như:
- Báo chí với việc tuyên truyền thực hiện Nghị định 36CP, năm 1996 của tác
giả Phạm Minh Dương (khảo sát Báo Nhân dân từ 5/1995 - 5/1996).
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
6
- Báo chí với vấn đề trật tự an toàn giao thông đường bộ, năm 2003 của tác giả Ngô
Thị Bích Thao (khảo sát Báo Giao thông vận tải, Bạn đường từ năm 2000 - 3/2003).
- Báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh và báo Lao động với vấn đề trật tự an
toàn giao thông đường bộ, năm 2004 của tác giả Phùng Minh Tuấn (khảo sát từ năm
2001 - 4/2004).
- Vai trò của báo chí trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường
thuỷ nội địa, năm 2005, Luận văn Thạc sỹ của tác giả Hà Thị Hồng Vân, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền (khảo sát Báo Lao động, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Bạn
đường, Cà Mau và Tạp chí Cánh buồm, từ năm 2003 - 2004).
Về an toàn giao thông trên địa bàn Hà Nội có một số đề tài:
- Báo Hà Nội Mới với công tác tuyên truyền về Nghị định 36 CP, năm 1996
của tác giả Hồ Trí Dũng (khảo sát Báo Hà Nội Mới và Hà Nội Mới chủ nhật năm
1/8/1995 - 1/8/1996).
- Báo Nhân dân và Hà Nội Mới với việc thực hiện Nghị định 36CP của Chính
phủ về lập lại trật tự đô thị và an toàn giao thông trên địa bàn Hà Nội, năm 2006 của
tác giả Vũ Thị Xuân Sinh (khảo sát năm 1995 - 1996).
- Báo chí với vấn đề trật tự an toàn giao thông trên địa bàn Hà Nội hiện nay,
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác truyền thông, hiệu quả truyền thông về an
toàn giao thông đường bộ của: Kênh VOV Giao thông, Chuyên mục “Tin tức giao
thông” - kênh VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Hà Nội Mới điện tử, Báo in
Hà Nội Mới (sau đây gọi tắt là bốn báo).
Thời gian từ năm 2008 - 2010.
Không gian: Trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu công tác truyền
thông, hiệu quả công tác truyền thông về an toàn giao thông đường bộ của bốn báo
trên địa bàn Hà Nội.
Mục đích trọng tâm và quan trọng nhất của luận văn là từ những vấn đề mang
tính lý luận soi vào thực tiễn nhằm phân tích hiệu quả truyền thông và đề xuất giải
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
8
pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông của báo chí về an toàn giao thông
đường bộ ở Thủ đô Hà Nội.
Qua đó, luận văn mong muốn được gửi đến đội ngũ lãnh đạo các cơ quan
quản lý, cơ quan báo chí, đội ngũ biên tập, phóng viên theo dõi lĩnh vực giao thông
nói chung và đường bộ nói riêng những thông tin tham khảo để trong thời gian tới
có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác truyền thông của báo chí về an toàn giao
thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của
công chúng và công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp uỷ, chính quyền thành phố Hà Nội
về an toàn giao thông đường bộ.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn triển khai
những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Sưu tầm, khái quát tất cả những tin, bài liên quan đến vấn đề an toàn giao thông
đường bộ trên địa bàn Hà Nội của bốn báo trong thời gian từ tháng 01/2008 đến
12/2010.
- Nhận xét, đánh giá về nội dung, hình thức truyền thông an toàn giao thông
hạn chế trong công tác truyền thông an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Hà
Nội của bốn báo, luận văn góp thêm tiếng nói, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác truyền thông của báo chí về vấn đề này trong thời gian tới.
Luận văn sẽ có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng,
nhà quản lý báo chí, các cơ quan báo chí, các nhà báo, các bạn sinh viên và những
người quan tâm đến đề tài này.
7. Cấu trúc của luận văn: Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo
và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chƣơng 1: Truyền thông về an toàn giao thông và vai trò của báo chí
- Chƣơng 2: Thực trạng công tác truyền thông của báo chí về an toàn giao
thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội
- Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông của báo chí về
an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Hà Nội
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
10
Chƣơng 1:
TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG
VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ
1.1. Truyền thông về an toàn giao thông
1.1.1. Khái niệm:
- Truyền thông: Từ tiếng Anh: Communication, có nghĩa là sự truyền đạt,
thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông…
Thuật ngữ Truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune”, có nghĩa
là chung hay cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường,
phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với
cộng đồng, xã hội.
Có nhiều khái niệm, định nghĩa về truyền thông, nhưng có thể hình thành
khái niệm chung về Truyền thông, đó là:
một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông
không chỉ đơn lẻ mà nằm trong một tổng thể có tính thống nhất, đồng bộ, có liên
quan chặt chẽ và tác động qua lại với nhau.
Tóm lại, hiệu quả truyền thông là kết quả của một chu trình khép kín, trong
đó, các yếu tố truyền thông liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, không
thể xem nhẹ yếu tố nào. Muốn truyền thông ATGT đạt hiệu quả cao, cần phải nắm
vững các bước, các khía cạnh và các yếu tố, phát huy khả năng, lợi thế của các yếu
tố trong quá trình truyền thông, phải có phương thức truyền thông khoa học, hợp lý
để đạt được hiệu quả tối đa, trong khi chi phí tối thiểu.
1.1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Thành phố về công tác truyền
thông an toàn giao thông đường bộ
Trong quá trình phát triển, Hà Nội đã và đang phải đối mặt với khó khăn rất
lớn, ảnh hưởng tới sự phát triển, đó là tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông. Hàng
năm, tai nạn giao thông làm chết và bị thương hàng chục nghìn người, gây thiệt hại
lớn về tài sản của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh
tế - xã hội, thu hút đầu tư nước ngoài, an sinh xã hội và để lại hậu quả hết sức
nghiêm trọng, lâu dài cho nhiều gia đình và xã hội.
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
12
Một trong những giải pháp quan trọng mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang chỉ
đạo quyết liệt để kiềm chế tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông, đó là đẩy mạnh
công tác truyền thông, phổ biến giáo dục pháp luật về ATGT tới các cấp uỷ Đảng,
chính quyền và tới các tầng lớp nhân dân, nhất là những người tham gia giao thông
nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông và
nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, toàn xã hội đối với
công tác này. Như vậy, công tác truyền thông, giáo dục, phổ biến về ATGT có vai
trò hết sức quan trọng.
Công tác truyền thông, giáo dục, phổ biến pháp luật về ATGT đường bộ là
nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Nhà nước đề cấp, quán triệt trong nhiều văn bản.,
của người Hà Nội hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội”, với mục
tiêu mọi công dân Thủ đô chấp hành tốt luật lệ giao thông”.
Kế hoạch số 62/KH-UBND, ngày 13/8/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố
Hà Nội triển khai thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ-CP của Chính phủ về một số
biện pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông trên địa
bàn thành phố Hà Nội, nêu ra bảy nhóm nội dung và giải pháp chính. Trong đó, nêu
rõ: Chú trọng tuyên truyền, giáo dục trong các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội, cơ
quan, đơn vị, trường học và gia đình, nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc về ý thức tự
giác chấp hành pháp luật ATGT, tích cực tham gia bảo đảm trật tự ATGT, tạo thành
phong trào toàn dân xây dựng “Nếp sống văn minh đô thị” và “Văn hóa giao thông
của người Hà Nội”, lập lại trật tự ATGT trên địa bàn Thành phố một cách bền vững,
thiết thực hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Triển khai thực hiện Nghị quyết 16/2008/NQ-CP, ngày 31/7/2008 của Chính
phủ, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND,
ngày 03/12/2008 “Về từng bước khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông trên địa
bàn Thành phố”. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cũng đã ban hành văn bản số
2841/UBND yêu cầu Ban ATGT Thành phố, các sở, ngành và quận, huyện, thị xã
tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ. Sở
GTVT có trách nhiệm chủ trì xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện tuyên
truyền, phổ biến Luật Giao thông đường bộ và Nghị định số 34/2010/NĐ-CP của
Chính phủ; đồng thời phối hợp với Công an Thành phố rà soát, lập kế hoạch thực
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
14
hiện luật và các văn bản liên quan phù hợp với đặc điểm, tình hình giao thông Thủ
đô; Ban ATGT Thành phố chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành ủy, Sở
Thông tin và Truyền thông… tổ chức tuyên truyền pháp luật về giao thông theo
hướng dẫn của Bộ GTVT và Ủy ban ATGT quốc gia. Các quận, huyện, thị xã tổ
chức phát động phong trào thực hiện nếp sống văn hóa giao thông và gương mẫu
thực hiện các quy định, quy tắc về giao thông khi tham gia giao thông trong toàn thể
chặn và đẩy lùi được tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông hiện nay,…
Thông qua truyền thông còn nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm, hiệu quả
công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, công tác quản lý nhà nước của chính quyền
các cấp trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm ATGT, có biện pháp
hữu hiệu chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên, liên tục theo lĩnh vực, nhiệm vụ được
phân công.
Tóm lại, mục đích truyền thông ATGT trước tiên là nâng cao sự hiểu biết
pháp luật về trật tự ATGT, hình thành lòng tin vào sự cần thiết đối với pháp luật.
Thứ hai là hình thành tình cảm tôn trọng pháp luật; thái độ không khoan nhượng đối
với các hành vi vi phạm trật tự ATGT; thói quen ứng xử theo các quy định của pháp
luật và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác bảo đảm trật tự
ATGT. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu quan trọng là: Giảm trên cả 3 tiêu chí:
số vụ tai nạn giao thông, số người chết, người bị thương vì giao thông, tiến tới một
xã hội không còn tai nạn và ùn tắc giao thông; lập lại trật tự ATGT một cách bền
vững.
1.1.4. Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông của báo chí về an
toàn giao thông đường bộ
Trên thực tế, việc đánh giá hiệu quả truyền thông về ATGT nói chung và
ATGT đường bộ của báo chí nói riêng rất khó khăn, phức tạp, liên quan đến nhiều
lĩnh vực; vừa phải đánh giá định tính khi xem xét sự cải thiện của tình hình ATGT,
sự tuân thủ pháp luật của người tham gia giao thông, vừa phải đánh giá định lượng
khi xét giá trị bằng tiền chi phí, đầu tư cho công tác tuyên truyền (bóc tách chi phí
đầu tư, phân bổ cho công tác truyền thông), mức độ hài lòng của công chúng đối với
tờ báo, hay chương trình…
Mặt khác, việc lượng hoá hiệu quả truyền thông về ATGT đường bộ không
phải lúc nào cũng đánh giá, định lượng được bằng con số cụ thể, chính xác tuyệt đối
hoặc lượng hóa bằng tiền. Kết quả có thể thể hiện trực tiếp hay gián tiếp. Ví dụ:
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
16
17
qua các chiến dịch truyền thông, các hoạt động về giao thông như: “Tháng an toàn
giao thông”, hoặc thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội (căn cứ
nhu cầu, nguyện vọng, đặc điểm của các đoàn viên, hội viên, các tổ chức đoàn thể
tổ chức truyền thông ATGT phù hợp với tâm lý của từng loại đối tượng của tổ chức
mình).
Các hoạt động truyền thông ATGT ngày càng phong phú. Mỗi loại hình đều
có ưu điểm, thế mạnh riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác truyền thông nói
chung về ATGT. Báo chí là một trong những hình thức truyền thông được thành
phố Hà Nội quan tâm, đánh giá cao. Báo chí đã và đang trở thành công cụ quan
trọng trong công tác truyền thông ATGT nói chung, đường bộ nói riêng trên địa bàn
Hà Nội.
Tuy nhiên, các hình truyền thông, giáo dục, phổ biến pháp luật ATGT nói
chung vẫn còn những hạn chế như: còn mang tính thời vụ, hình thức. Đối với công
tác truyền thông trên báo chí nói riêng, số lượng tin, bài phản ánh về công tác này
còn chưa nhiều, chưa thường xuyên, chưa thực sự sâu sắc, chưa tương xứng với tầm
quan trọng của công tác bảo đảm trật tự ATGT, chưa đáp ứng yêu cầu công tác
truyền thông trên địa bàn Thành phố.
1.1.6. Các yếu tố trong quá trình truyền thông
Để tiến hành truyền thông, cần có các yếu tố sau:
Nguồn (Source), hoặc người gửi cung cấp (sender) đó là yếu tố khởi xướng
việc thực hiện truyền thông. Đó có thể là một cá nhân nói, viết, vẽ hay làm động
tác. Yếu tố khởi xướng có thể là một nhóm người, một tổ chức truyền thông như cơ
quan đài phát thanh, truyền hình, báo chí, thông tấn, vv…
Thông điệp (Message) là yếu tố thứ hai của truyền thông.
Thông điệp có thể bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng
trên không trung hoạch bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và
trình bày ra một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả
bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp (nguồn) và người tiếp nhận đều hiểu được.
nắm vững các yếu tố trên, nếu không, sẽ khó thực hiện hoặc hiệu quả sẽ không đạt
như mong muốn.
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
19
Mục đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được cặn kẽ
thông điệp và có những hành động tương tự. Nói một cách khác, người cung cấp,
khởi xướng truyền thông khi chuyển thông điệp cho người tiếp nhận mong muốn họ
biết được mình muốn thông tin gì, muốn việc làm của mình ảnh hưởng đến thái độ
và cách xử sự của người tiếp nhận.
Biết được đối tượng truyền thông cũng là một yếu tố hết sức quan trọng để
tạo nên hiệu quả trong quá trình truyền thông. Đối tượng của truyền thông là con
người. Mỗi người có thể trả lời, đáp ứng thông điệp của người khởi xướng tuỳ theo
xu hướng, thái độ, trình độ học vấn, địa vị xã hội của riêng họ. Vì vậy, biết đối
tượng không phải là đơn giản. Nó đòi hỏi người truyền thông phải đi sâu vào bản
chất, nhu cầu, nghiên cứu kỹ đối tượng, dùng chính ngay ngôn ngữ của đối tượng để
làm giảm bớt những rào chắn ngăn cách đến mức thấp nhất. Quá trình truyền thông
là quá trình hai chiều.
Người khởi xướng (nguồn) và người tiếp nhận (người đọc, người nghe,
người xem) phải kết hợp với nhau để tạo nên những cái chung. Người truyền thông
không thể xem cái mình biết là cái cuối cùng, phải chú ý tới phản ứng và sự trả lời
của người tiếp nhận. Chu kỳ: Người cung cấp Thông điệp Người tiếp nhận,
được gọi là quá trình phản hồi (Feedback) một yếu tố quan trọng trong quá trình
truyền thông.
1.1.7. Quá trình truyền thông
Quá trình truyền thông chia làm hai giai đoạn
Quá trình A - nguồn (Source) có thể là một người, một tổ chức, một cơ quan
chuyển một thông điệp cho đối tượng trong đó chứa đựng những thông tin mã hoá
(encode) là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó diễn đạt một nội
dung thông điệp. Thông điệp (message), là những thông tin thực sự được chuyển
mạnh, hiệu quả của nó khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi.
1.1.8. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả truyền thông về an toàn giao
thông đường bộ
Mô hình truyền thông ATGT của báo chí:
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
21
Cũng như truyền thông về các vấn đề khác, quá trình truyền thông ATGT của
báo chí diễn ra theo những bước nhất định, có thể khái quát qua mô hình như sau:
Nhiễu (Noise)
SsS
Phản hồi(Feedback)
E (effect): Hiệu quả, kết quả của quá trình truyền thông
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả truyền thông ATGT:
Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước: Đây là nhân tố
rất quan trọng liên quan đến sự ổn định của cả một quá trình thực hiện công tác giao
thông nói chung, truyền thông về ATGT nói riêng. Nếu như chủ trương, chính sách
đồng bộ, chặt chẽ, thì việc thực hiện sẽ thông suốt, việc tuân thủ pháp luật được
nghiêm minh. Ngược lại, nếu như chủ trương, chính sách còn chồng chéo, mâu
thuẫn, thiếu đồng bộ, thì việc tổ chức thực hiện sẽ vướng mắc, chậm chễ, thiếu
thống nhất, tạo những kẽ hở pháp luật, dẫn đến việc tuân thủ pháp luật không
nghiêm, hay vi phạm pháp luật.
Đặc biệt, việc xác định rõ vai trò của công tác truyền thông nói chung, vai trò
của báo chí nói riêng đối với công tác này trong các văn bản của Đảng và văn bản
quy phạm pháp luật của Nhà nước sẽ tạo cơ sở quan trọng cho các cơ quan chức
năng và các cơ quan báo chí có căn cứ tổ chức thực hiện công tác truyền thông về
ATGT nói chung, đường bộ nói riêng.
công việc; phụ thuộc vào sự thành thục của kỹ năng và ở mức độ cao hơn nữa là
phụ thuộc vào kỹ xảo, nghệ thuật trong giải quyết công việc. Làm được khâu này sẽ
giúp thực hiện công việc tiết kiệm được thời gian hơn mà vẫn tạo ra được sản phẩm
theo đúng yêu cầu, hay sản phẩm có chất lượng, hiệu quả cao hơn.
Sự đầu tư về tài chính, trang thiết bị kỹ thuật và khả năng ứng dụng công
nghệ thông tin vào sản xuất chương trình, quy trình làm báo: Muốn làm bất cứ một
công việc gì cũng phải có tài chính để chi phí cho mọi hoạt động của cơ quan, tổ
chức; về mua sắm trang thiết bị cơ sở vật chất, về lương thưởng, đào tạo, bồi
dưỡng…. Việc đầu tư tài chính, trang thiết bị cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ
hiện đại và việc sử dụng tối đa công năng, công suất của trang thiết bị cũng là yếu
tố đảm bảo hiệu quả của công tác truyền thông trật tự ATGT. Để xây dựng hệ thống
đảm bảo cho việc thu thập và xử lý thông tin nhanh chóng, kịp thời, công việc vận
hành được trôi chảy, tiết kiệm thời gian, công sức, các cơ quan báo chí cần phải
Luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí học
23
tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến vào việc sản xuất
chương trình, quy trình làm báo, in ấn, phát hành,
Đối tượng truyền thông (công chúng): Công chúng vừa là mục đích vừa là
đối tượng của truyền thông. Mỗi đối tượng công chúng có một đặc điểm riêng về
trình độ, nhận thức, văn hoá, ngôn ngữ, tâm lý, nhu cầu khác nhau. Nếu quá trình
truyền thông không nắm được đối tượng thì không đạt được mục đích đề ra. Công
chúng còn là người tham gia trực tiếp vào quá trình truyền thông. Sự tương tác của
công chúng đối với quá trình truyền thông làm cho thông tin phong phú hơn, sinh
động hơn và chính xác hơn.
Phương thức tổ chức thực hiện: Phương thức truyền thông của báo chí là
hoạt động sử dụng các yếu tố để đạt mục tiêu và phát huy tối đa tiềm năng, thế
mạnh của mỗi loại hình báo chí trong công tác truyền thông. Để công tác truyền
thông ATGT của báo chí có chất lượng, hiệu quả, quá trình tổ chức, triển khai thực
hiện cần được thực hiện theo trình tự, sự phối kết hợp khoa học, hợp lý giữa các bộ
công chúng bị phá vỡ. Điều đó dẫn đến tình trạng là không có khả năng chuyển
thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực. Nếu một tác phẩm báo chí đã được
công chúng đọc nhưng họ không rút ra được những giá trị của tác phẩm và nêu lên
những tiêu chuẩn cho hành động thì chắc chắn rằng tính chất phản ánh và tính chất
hướng dẫn của thông tin chưa đạt được yêu cầu như mong muốn.
Thông tin hiện thực là những thông tin được nhà báo sáng tạo và được công
chúng tiếp nhận qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ là “người
nhận thứ hai” (nghe người đã từng nghe, xem, đọc, kể lại).
Chính vì vậy, việc đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện
thực là là rất cần thiết để đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ giữa nhà báo và
công chúng. Thông tin trong báo chí có quan hệ trực tiếp đến “nguyên tắc” cung cấp
thông tin, đến nhưng yêu cầu nghiệp vụ báo chí và những nguyên tắc tác động lẫn
nhau của các mặt nói trên.
Sự tiếp nhận thông tin của công chúng:
Mỗi thông điệp truyền thông hoàn chỉnh, được phát qua kênh truyền, đến
người nhận là một quá trình chuyển từ thông tin tiềm năng sang thông tin hiện thực.
Vì thế, hiệu quả của hoạt động báo chí (của từng tác phẩm riêng biệt, các chương