Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiền Giang là một tỉnh thuộc miền Tây Nam bộ, trong những năm qua, d-
ới tác động của nền kinh tế thị trờng, Tiền Giang đang có những chuyển biến mạnh
mẽ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-văn hóa-xã hội... Bên cạnh những mặt tích cực
đã đợc ghi nhận, tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn cũng diễn biến phức tạp
hơn, với phơng thức thủ đoạn phạm tội tinh vi, nguy hiểm hơn. Trong đó, những tội
phạm rất nghiêm trọng hoạt động có tổ chức xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt là
tội cớp tài sản. Hiện nay ở Tiền Giang, tội phạm cớp tài sản có tổ chức không chỉ
xảy ra vào ban đêm ở những nơi vắng vẻ ít ngời qua lại, mà còn xảy ra ngay vào
ban ngày ở thị trấn, thị tứ, nơi có dân c đông đúc, gây lo lắng trong d luận quần
chúng nhân dân, ảnh hởng không tốt đến tình hình trật tự xã hội tại địa phơng.
Theo báo cáo của Công an tỉnh Tiền Giang, trong 5 năm từ 2002 đến
2006, tại địa bàn tỉnh Tiền Giang xảy ra 188 vụ cớp tài sản. Trong số này, có 161
vụ cớp tài sản do các băng nhóm đối tợng hoạt động phạm tội có tổ chức gây ra,
chiếm tỉ lệ 85,64%. Qua nghiên cứu hồ sơ các vụ án cớp tài sản có tổ chức đã xảy
ra trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhận thấy, đa số đối tợng phạm tội, nhất là các đối
tợng cầm đầu đều đã có tiền án, tiền sự, thậm chí có nhửừng ủoỏi tửụùng đang có
lệnh truy nã trên toàn quốc; phạm vi hoạt động phạm tội rộng, liên tuyến, liên tỉnh;
cách thức gây án táo bạo nhng cũng rất tinh vi, xảo quyệt. Đáng chú ý hơn, những
công cụ, phơng tiện, hung khí mà các đối tợng phạm tội cớp tài sản có tổ chức sử
dụng để gây án rất nguy hiểm nh: súng, lựu đạn, mã tấu, thuốc gây mê, dao các
loại, xe gắn máy phân khối lớn...Do tính chất nguy hiểm nh vậy, nên hành vi cớp
tài sản của các băng nhóm phạm tội có tổ chức không những xâm phạm quyền sở
hữu tài sản của ngời khác mà còn đe dọa gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ
của công dân đợc pháp luật bảo vệ. Đặc biệt, mỗi khi bị phát hiện bắt giữ, các đối
1
tợng phạm tội luôn tỏ ra ngoan cố, quanh co, tìm mọi cách để che dấu tội phạm,
che dấu đồng bọn, tiêu hủy chứng cứ...
Do những đặc điểm nêu trên nên công tác điều tra các vụ án cớp tài sản
do băng nhóm phạm tội có tổ chức gây ra hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, tốn
nguyên nhân của nó. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động điều tra các vụ án cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền
Giang.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu cần phải giải quyết
một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Khảo sát nắm đợc những tình hình có liên quan đến công tác điều tra các
vụ án cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
- Làm rõ tình hình và đặc điểm hình sự của tội phạm cớp tài sản có tổ chức
trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong thời gian từ năm 2002 đến 2006, những vấn đề
tác động đến quá trình điều tra đối với tội phạm này.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá làm rõ việc vận dụng các phơng pháp,
chiến thuật điều tra tội phạm cớp tài sản có tổ chức mà cơ quan cảnh sát điều tra
công an tỉnh Tiền Giang tiến hành trong 5 năm qua, từ naờm 2002 - 2006, làm rõ
những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công, hạn chế đó.
- Dự báo có cơ sở khoa học về diễn biến tình hình tội phạm này trong thời
gian tới. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều
tra tội phạm cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
3
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Nghiên cứu về công tác điều tra các vụ án cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn
của cụ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động của các băng, nhóm tội
phạm cớp tài sản có tổ chức và thực trạng tiến hành các biện pháp phát hiện, điều
tra loại tội phạm này của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang, trong
thời gian 5 năm, từ năm 2002 - 2006.
5. Phơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phơng pháp luận
công tác phát hiện, điều tra của lực lợng CSĐT công an tỉnh Tiền Giang
2.1 Tình hình tội phạm cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ
năm 2002 - 2006
2.2 Thực trạng công tác phát hiện, điều tra tội phạm cớp tài sản có tổ chức trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang
Chơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra các vụ án
cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
3.1 Dự báo tình hình tội phạm cớp tài sản có tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền
Giang
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra các vụ án cớp tài sản có
tổ chức trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
5
Chơng 1
Nhận thức về tội phạm cớp tài sản có tổ chức
và hoạt động phát hiện, điều tra
1.1 Nhận thức về tội phạm cớp tài sản có tổ chức
1.1.1 Khái niệm về tội phạm cớp tài sản trong Bộ luật hình sự nớc
CHXHCN Việt Nam
Theo khoản 1, điều 8 Bộ luật Hình sự nớc CHXHCN Việt Nam năm 1999
qui định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc qui định trong Bộ luật
hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã
hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm
những lĩnh vực khác của pháp luật xã hội chủ nghĩa."
Trong những giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau, qui định về tội phạm
nói chung, cũng nh những tội phạm cụ thể nói riêng cũng có những điểm khác
nhau. Trớc đây, trong Bộ luật Hình sự nớc CHXHCN Việt Nam năm 1985, tội
4- Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mời tám
năm đến hai mơi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỉ lệ th-
ơng tật từ 61% trở lên hoặc làm chết ngời;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
7
5- Ngời phạm tội có thể bị phạt tiền từ mời triệu đồng đến một trăm triệu
đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm c trú từ một
năm đến năm năm.
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội phạm cớp tài sản
Cớp tài sản là tội phạm mang tính chất nguy hiểm cao nhất trong các tội
xâm phạm sở hữu và là tội danh đợc xếp đầu tiên trong chơng XIV của Bộ luật
Hình sự nớc CHXHCN Việt Nam.
Sở hữu là một quyền thiêng liêng đợc Nhà nớc bảo hộ. Quyền sở hữu tài sản
đợc qui định và bảo hộ trong Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật
khác. Trong Bộ luật Hình sự, quyền sở hữu tài sản đợc bảo hộ và qui định tại ch-
ơng XIV, trong đó tội phạm và hình phạt cụ thể đối với tội cớp tài sản đợc qui định
tại điều 133.
Theo qui định của điều luật, tội phạm cớp tài sản có một số đặc điểm pháp
lý sau:
* Khách thể của tội phạm: cớp tài sản đợc hiểu là dùng vũ lực, đe dọa dùng
ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho ngời bị tấn công lâm vào tình
trạng mất khả năng chống cự nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, tội cớp tài
sản cùng lúc xâm phạm hai khách thể của tội phạm: đó là quyền sở hữu và tính
mạng, sức khỏe của công dân đợc pháp luật bảo vệ.
* Mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi khác làm
cho ngời bị tấn công lâm vào tình trạng mất khả năng chống cự nhằm mục đích
chiếm đoạt tài sản.
công lâm vào tình trạng không thể chống cự đợc nhằm mục đích giữ bằng đợc tài
sản y vừa lấy đợc. Ví dụ, một ngời lén lút đột nhập vào nhà dân để trộm cắp tài
9
sản, sau khi lấy đợc tài sản thì bị chủ nhà phát hiện nên đã rút dao đe dọa sẽ đâm
chủ nhà nếu chống cự nhằm cố ý giữ bằng đợc tài sản vừa lấy. Nh vậy, ngời này đã
phạm tội cớp tài sản.
* Mặt chủ quan của tội phạm: tội cớp tài sản đợc thực hiện do lỗi cố ý trực
tiếp nhằm mục đích vụ lợi. Ngời phạm tội biết rõ tài sản mà mình dùng vũ lực để
chiếm đoạt là tài sản của ngời khác nhng vẫn cố ý muốn chiếm đoạt, biến tài sản
của ngời khác thành tài sản của mình.
* Chủ thể của tội phạm: là ngời đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm
hình sự.
* Hình phạt: Điều luật qui định tội cớp tài sản có 4 khung hình phạt:
- Khung 1: qui định hình phạt tù từ ba năm đến mời năm, áp dụng đối với
trờng hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng (khoản 1).
- Khung 2: qui định hình phạt tù từ bảy năm đến mời lăm năm, áp dụng đối
với trờng hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung tăng nặng qui định tại
khoản 2, cụ thể bao gồm: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm nguy
hiểm; sử dụng vũ khí, phơng tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; gây thơng tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỉ lệ thơng tật từ 11% đến 30%;
chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng đến dới hai trăm triệu đồng;
gây hậu quả nghiêm trọng.
- Khung 3: qui định hình phạt tù từ mời hai năm đến hai mơi năm, áp dụng
đối với trờng hợp phạm tội trong các trờng hợp sau đây: gây thơng tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỉ lệ thơng tật từ 31% đến 60%; chiếm đoạt
tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả
rất nghiêm trọng.
- Khung 4: qui định hình phạt tù từ mời tám đến hai mơi năm, tù chung thân
hoặc tử hình, áp dụng đối với các trờng hợp: gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của ngời khác mà tỉ lệ thơng tật từ 61% trở lên hoặc làm chết ngời; chiếm
Vấn đề tội phạm có tổ chức trong những năm gần đây đợc lực lợng CSND
nói riêng, cũng nh các ngành t pháp nói chung rất quan tâm, và cũng đã có nhiều
nhà khoa học nớc ta nghiên cứu. Với các góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã
đề cập tới tội phạm có tổ chức ở khái niệm, thủ đoạn hoạt động, cơ cấu tổ chức của
chúng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá
tội phạm có tổ chức nói chung, cha đi sâu nghiên cứu về từng tội phạm cụ thể. Vì
vậy, cách nhìn nhận, đánh giá trong thực tiễn thế nào là một tội phạm có tổ chức
còn có nhiều quan điểm khác nhau. Nhng nhìn chung, ta thấy tội phạm có tổ chức
có những nét nổi bật lên nh sau :
+ Tội phạm có tổ chức không phải là tội danh cụ thể, cũng không chỉ đơn
thuần là hành vi của một số ngời, trong đó có ngời thừa hành, kẻ giúp sức, xúi giục
... nh điều Điều 20- BLHS 1999 qui định, mà đó là hiện tợng gồm hàng loạt các
hành vi khác nhau trong quá trình thực hiện tội phạm của những ngời mà hành vi
phạm tội đã trở thành hoạt động thờng xuyên và đợc che giấu bằng nhiều vai trò
hợp pháp khác nhau.
+ Về hình thức : Tội phạm có tổ chức có cơ cấu rõ ràng và có mối liên kết
chặt chẽ giữa các thành viên trong băng nhóm, hoạt động của tội phạm này thờng ở
mức độ nghiêm trọng trở lên, do một nhóm đối tợng gây ra, hoạt động phạm tội ở
nhiều lĩnh vực khác nhau.
+ Về phơng thức, thủ đoạn hoạt động : có tổ chức, rất tinh vi xảo quyệt, đôi
lúc táo bạo và đợc che giấu bằng nhiều hình thức, vỏ bọc khác nhau.
+ Tội phạm có tổ chức còn có mối quan hệ rộng rãi, luôn tìm cách mua
chuộc, cấu kết chặt chẽ với các phần tử thoái hoá biến chất trong cơ quan Nhà n-
ớc, chính quyền ở cơ sở, các đơn vị kinh tế... để hoạt động phạm tội.
12
+ Có sự liên kết giữa các địa bàn, các ổ nhóm, các đối tợng với nhau để hoạt
động phạm tội, không chỉ ở phạm vi trong nớc mà còn hoạt động xuyên quốc gia...
Nh vậy, tội phạm có tổ chức có thể hiểu là những băng, nhóm tội phạm có
cơ cấu chặt chẽ, do những tên có nhiều tiền án, tiền sự cầm đầu; có kỷ luật, hoạt
động mang tính chất chuyên nghiệp, liên tục, trên địa bàn rộng, gây thiệt hại lớn
sống, qua lại; quy luật sinh hoạt của chủ tài sản và những ngời xung quanh...
Chúng xây dựng kế hoạch, thời gian, phơng thức, thủ đoạn gây án; công cụ, phơng
tiện gây án; nơi tiêu thụ tài sản chiếm đoạt đợc cũng nh các phơng thức đối phó khi
bị phát hiện, truy bắt...
+ Đối tợng cầm đầu: đối tợng cầm đầu, chủ mu trong các băng, nhóm tội phạm
này thờng là những tên có nhiều tiền án, tiền sự. Tên cầm đầu phải có uy lực đối với
các đồng phạm khác, chúng điều hành mọi hoạt động từ giai đoạn chuẩn bị, đến khi
tiến hành gây án, cũng nh việc tiêu thụ, ăn chia tài sản chiếm đoạt đợc.
+ Trong các băng, nhóm tội phạm cớp tài sản có tổ chức thờng tồn tại các
quy ớc riêng rất chặt chẽ do tên cầm đầu đặt ra. Nếu tên nào trong băng, nhóm vi
phạm các quy ớc này sẽ bị xử lí nghiêm khắc nh: cắt phần ăn chia, tra tấn, thậm chí
có thể bị thủ tiêu.
+ Địa bàn hoạt động của các băng, nhóm tội phạm cớp tài sản có tổ chức rất
rộng. Chúng hoạt động trên nhiều tuyến, nhiều địa bàn và thậm chí có những băng,
nhóm hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố khác nhau.
+ Thủ đoạn hoạt động của các băng, nhóm tội phạm này rất tinh vi, phức
tạp. Chúng thay đổi liên tục tùy thuộc vào từng băng, nhóm khác nhau, và từng
thời gian, địa điểm khác nhau.
Trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, việc nhận diện loại tội phạm này
đôi lúc rất phức tạp, phải chờ đến khi kết thúc điều tra vụ án ta mới xác định đợc
14
chính xác đó có phải là vụ án cớp tài sản có tổ chức hay không. Bởi vì có những vụ
án khi xảy ra, khách quan nhìn thấy chỉ có một đối tợng thực hiện, nhng phía sau
đó còn có kẻ chủ mu vạch kế hoạch, kẻ giúp sức để tiêu thụ tài sản...Vì vậy, khi
nghiên cứu cũng nh trong thực tiễn đấu tranh với loại tội phạm này, chúng ta phải
có cách nhìn nhận, đánh giá chính xác để từ đó xây dựng giả thuyết, vạch kế
hoạch, lựa chọn phơng pháp, chiến thuật điều tra phù hợp nhằm mang lại hiệu quả
cao nhất.
1.2 Hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm cớp tài sản có tổ chức
1.2.1 Chủ thể tiến hành hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm cớp tài
"Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp để xác
định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những
chứng cứ xác định có tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị
can, bị cáo". BLTTHS cũng qui định rõ về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ
quan điều tra, Thủ trởng cơ quan điều tra, Điều tra viên, các biện pháp ngăn chặn,
các hoạt động điều tra. Cụ thể, tại khoản 1, điều 110 BLTTHS qui định: "Cơ quan
điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội thuộc
thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân và Cơ quan điều
tra của Viện kiểm sát nhân dân". Ngoài ra BLTTHS còn qui định trong lực lợng
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiển sát nhân dân, ngoài các cơ quan
điều tra đợc qui định trong điều 110 của Bộ luật này thì điều 111 còn qui định một
số cơ quan khác cũng có chức năng tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui
định của pháp luật.
Căn cứ Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đợc ủy ban thờng vụ Quốc hội
thông qua ngày 20/8/2004, qui định về tổ chức bộ máy, thẩm quyền điều tra cụ thể
của Cơ quan điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Bộ đội biên phòng, Hải
16
quan, Kiểm lâm, lực lợng Cảnh sát biển và các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra nh sau:
- Tổ chức của cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an gồm có Cục cảnh sát
điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý
kinh tế và chức vụ, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Văn phòng cơ
quan cảnh sát điều tra.
- Tổ chức cơ quan điều tra cấp tỉnh gồm có Phòng cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức
vụ, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Văn phòng cơ quan cảnh sát
điều tra.
- Tổ chức cơ quan điều tra cấp huyện gồm có Đội cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức
vụ, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Bộ máy giúp việc của cơ quan cảnh
tỉnh Tiền Giang là lực lợng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh Tiền Giang.
1.2.2. Những vấn đề cần chứng minh trong hoạt động phát hiện, điều tra
tội phạm cớp tài sản có tổ chức
Quá trình chứng minh tội phạm là quá trình tiến hành những biện pháp điều
tra theo qui định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh
giá, sử dụng chứng cứ để chứng minh tội phạm. Những vấn đề phải chứng minh
trong vụ án hình sự là hệ thống các tình tiết của vụ án mà cơ quan tiến hành tố tụng
cần phải làm rõ để giải quyết vụ án theo đúng qui định của pháp luật.
Căn cứ điều 133 Bộ luật hình sự qui định về tội Cớp tài sản và điều 63 Bộ
luật TTHS qui định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, ở giai
18
đoạn khởi tố, điều tra loại tội phạm này, lực lợng CSĐT TP về TTXH cần làm rõ
những vấn đề sau đây:
- Có hành vi cớp tài sản xảy ra hay không
Đây là vấn đề trớc tiên cần phải tiến hành chứng minh, điều tra làm rõ. Với
những bớc điều tra ban đầu, Cơ quan CSĐT phải thu thập những tài liệu, chứng cứ
để chứng minh là có hành vi Cớp tài sản xảy ra hay không? Hay chỉ là một vụ báo
tin giả, một vụ dựng hiện trờng giả, thậm chí có thể là do ngộ nhận từ một vụ việc
ẩu đã đánh nhau...Để chứng minh vấn đề này cần dựa vào kinh nghiệm và các biện
pháp nghiệp vụ điều tra, căn cứ vào những dấu hiệu pháp lý đặc trng đợc qui định
trong cấu thành tội phạm cớp tài sản.
- Thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm cớp tài sản
Làm rõ thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm là cơ sở tiến hành các hoạt động
điều tra ban đầu, truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng. Phải làm rõ địa điểm xảy ra
tội phạm có đặc điểm gì, chẳng hạn là nơi vắng vẻ hay là khu dân c, địa hình và
các đờng giao thông nh thế nào. Đồng thời cũng cần biết rõ thời gian xảy ra vụ án,
ban ngày hay ban đêm, khuya hay sớm...Nắm rõ những vấn đề này sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để nhận định đối tợng gây án, có kế hoạch điều tra, truy bắt phù hợp. Để
làm rõ vấn đề này cần tiến hành lấy lời khai ngời bị hại, ngời làm chứng, hỏi cung
bị can...
Vì vậy cần làm rõ nhân thân, lý lịch, các mối quan hệ, các đặc điểm tâm lý, bệnh
lý cá nhân của ngời thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, cũng cần làm sáng tỏ
ngời thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm hay không? Tức ngoài ngời trực
tiếp thực hiện hành vi phạm tội ra, còn có ngời chủ mu, ngời xúi giục hay ngời
giúp sức để gây án không? Vụ phạm tội có tổ chức không? Để làm rõ vấn đề này
20
cần tiến hành lấy lời khai ngời bị hại, ngời làm chứng, hỏi cung bị can, trích lục
tiền án tiền sự, xác minh lý lịch bị can...
- Động cơ, mục đích phạm tội
Động cơ và mục đích phạm tội cớp tài sản đợc phản ánh ở động cơ t lợi cá
nhân và mục đích chiếm đoạt tài sản. Để làm rõ vấn đề này cần đánh giá đặc điểm
hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của thủ phạm và giá trị tài sản mà thủ phạm
định chiếm đoạt hoặc đã chiếm đoạt thông qua việc hỏi cung bị can, lấy lời khai
ngời bị hại, ngời làm chứng.
- Nguyên nhân, điều kiện phạm tội
Trong quá trình điều tra cụ án cớp tài sản, việc làm rõ nguyên nhân điều
kiện phạm tội có ý nghĩa rất lớn đến việc phòng ngừa và ngăn chặn loại tội phạm
này trong thời gian tới.
Trong thực tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến phạm tội cớp tài sản nh do
nghiện ma túy, cờ bạc, do thích lối sống ăn chơi, lời lao động, do việc quản lý,
giáo dục kém ở một số gia đình và đoàn thể, chính quyền ở một số địa phơng...Các
nguyên nhân này cộng với những điều kiện nh sự mất cảnh giác của bị hại, đêm
tối, đờng vắng sẽ thuận lợi để tội phạm cớp tài sản phát sinh.
- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đợc qui định cụ
thể tại điều 46 và 48 Bộ luật hình sự. Các tình tiết này sẽ làm căn cứ để Tòa án
quyết định áp dụng khung hình phạt, mức độ xử lý cho từng ngời phạm tội khi xét
xử vụ án. Vì vậy, trong quá trình điều tra phải thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ,
làm rõ mọi vấn đề có liên quan đến vụ án và ngời thực hiện hành vi phạm tội để
phục vụ công tác xét xử. Đảm bảo thực hiện đúng đờng lối đấu tranh của Đảng và
22
Việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm cớp tài sản trong bất cứ trờng
hợp nào cũng phải đợc tiến hành khẩn trơng, nhanh chóng, khai thác kịp thời, triệt
để mọi thông tin có liên quan để phục vụ công tác điều tra. Đồng thời phải chấp
hành nghiêm chỉnh những yêu cầu của pháp luật về thủ tục và thời gian tiếp nhận
tin. Sau khi tiếp nhận tin, điều tra viên phải báo ngay với thủ trởng, phó thủ trởng
cơ quan CSĐT và khẩn trơng tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh nhằm đề
ra kế hoạch và biện pháp điều tra thích hợp.
Sau khi kiểm tra, xác minh xác định vụ cớp theo tin báo, tố giác thực tế đã
xảy ra, đã có tài liệu chứng cứ và những yếu tố cấu thành tội phạm cớp tài sản theo
qui định tại khoản 1 điều 133 Bộ luật hình sự thì đề xuất với lãnh đạo có thẩm
quyền ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra. Trong trờng hợp ngời
phạm tội bị bắt quả tang thì đề xuất lãnh đạo ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm
giam bị can, đề nghị VKSND cùng cấp phê chuẩn để tiến hành điều tra.
- Khám nghiệm hiện trờng
Khám nghiệm hiện trờng là một nội dung rất quan trọng trong điều tra vụ
án cớp tài sản. Để phát hiện, ghi nhận, thu giữ và khai thác triệt để những dấu vết,
vật chứng tại hiện trờng, công tác khám nghiệm cần có sự tham gia chặt chẽ của
ngời báo tin, ngời phát hiện hoặc ngời bị hại. Bởi vì những ngời này có thể cung
cấp cho lực lợng khám nghiệm những thông tin cụ thể về diễn biến sự việc, nơi để
lại dấu vết, cũng nh những thay đổi tại hiện trờng. Đó là cơ sở để cho công tác
khám nghiệm đợc tiến hành một cách khoa học, có định hớng, đảm bảo phát hiện,
ghi nhận đầy đủ các dấu vết của tội phạm phục vụ công tác điều tra tiếp theo.
Đối với từng địa điểm, định hình nơi xảy ra vụ cớp tài sản khác nhau, việc
khám nghiệm hiện trờng cũng có những bớc tiến hành khác nhau cho phù hợp, nh-
ng chung qui lại công tác khám nghiệm hiện trờng vụ cớp tài sản cần làm rõ một
số vấn đề nh: chú ý phát hiện, ghi nhận, thu giữ đầy đủ các dấu vết, đồ vật có liên
quan đến vụ án để lại tại hiện trờng thể hiện hớng đến, hớng tẩu thoát của thủ
23
phạm trớc và sau khi gây án; đặc điểm,vị trí cụ thể những công cụ, phơng tiện, đồ
trộn? Hớng tẩu thoát của thủ phạm sau khi thực hiện hành vi cớp tài sản?
Trong trờng hợp ngời bị hại bị thơng nặng, mê man, bất tỉnh, có thể bị tử
vong do hành vi sử dụng vũ lực của thủ phạm, thì sau khi cấp cứu và đợc sự đồng ý
của bác sĩ, điều tra viên cần lấy lời khai ngay với sự tham gia của cán bộ y tế. Nếu
không có khả năng hỏi thật chi tiết do ngời bị hại quá mệt thì có thể hỏi ngắn
nhằm thu thập những tài liệu cơ bản nhất về vụ án cớp nh thời gian, địa điểm xảy
ra vụ án, công cụ, phơng tiện, vũ khí mà thủ phạm sử dụng gây án, tài sản bị chiếm
đoạt. Trong trờng hợp này có thể sử dụng kết hợp máy ghi âm. trong tình huống bị
hại bị thơng quá nặng không thể khai báo đợc thì điều tra viên cần tìm và xác định
ngời đầu tiên đã phát hiện, cấp cứu ngời bị hại để làm rõ ngời bị hại nói gì với họ
về vụ cớp, họ đã phát hiện và đa ngời bị hại đi cấp cứu trong trờng hợp nh thế nào;
ngoài họ ra có ai cùng có mặt ở đó, cùng phát hiện và đa ngời bị hại đi cấp cứu.
Những tài liệu thu đợc trong tình huống này là một trong những cơ sở để xác định
vụ cớp có xảy ra thật hay không, làm căn cứ để tiến hành các hoạt động điều tra
tiếp theo.
- Lấy lời khai ngời làm chứng, ngời biết việc
Khi vụ cớp tài sản xảy ra, điều tra viên cần chú ý phát hiện và tìm gặp
những ngời làm chứng, ngời biết việc đầu tiên để lấy lời khai của họ về những vấn
đề có liên quan đến vụ án. Thông thờng ngời làm chứng, ngời biết việc là những
ngời có mặt ở khu vực xung quanh hiện hiện trờng nơi vụ cớp xảy ra, nơi thủ phạm
chuẩn bị gây án hoặc trên đờng tẩu thoát. Nội dung cần hỏi đối với ngời làm
chứng, ngời biết việc cũng tơng tự nh đối với bị hại. Tuy nhiên cần làm rõ thêm về
nguyên nhân phát hiện, hoàn cảnh thời gian và khoảng cách nơi ngời biết việc
chứng kiến vụ cớp so với địa điểm vụ cớp xảy ra, để đánh giá tính chính xác của
25