1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG MAI TRÂN
ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CHO KÊNH PHÁT THANH KINH TẾ
CHUYÊN BIỆT TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI NHÂN DÂN TPHCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: BÁO CHÍ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2011
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1: 12
2.4.2 Hiệu quả từ sự quan tâm của thính giả: 40
TIểU KếT: 40
4
CHƢƠNG 3: 42
ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG KÊNH KINH TẾ CHUYÊN BIỆT TẠI ĐÀI TIẾNG NÓI NHÂN
DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 42
3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và xu hƣớng phát triển của kinh tế thành phố Hồ Chí Minh 42
3.2. Nhu cầu và thói quen sử dụng các phƣơng tiện truyền thông đại chúng của ngƣời dân thành
phố Hồ Chí Minh 44
3.3 Chiến lƣợc phát triển của Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM 45
3.4 Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhân lực của Đài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh 46
3.4.1 Điều kiện cơ sở vật chất của Đài: 46
3.4.2. Tổ chức bộ máy và nhân lực của Đài: 50
TIểU KếT: 53
CHƢƠNG 4: 54
MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CHO MỘT KÊNH PHÁT THANH CHUYÊN BIỆT VỀ KINH TẾ
TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI NHÂN DÂN TPHCM 54
4.1. Xây dựng nội dung kênh phát thanh chuyên về kinh tế 54
4.1.1. Đối tƣợng của Kênh FM Kinh tế VOH: 54
4.1.2. Nội dung thông tin trên kênh FM Kinh tế VOH: 55
4.2. Xây dựng Chƣơng trình khung cho kênh FM Kinh tế VOH: 56
4.2.1. Khung giờ Vàng từ 6h-7h, 11h -12h, 17h-16h, 21h-22h: 57
4.2.2. Các bản tin kinh tế đầu giờ: 58
4.2.3. Chuyên mục hƣớng đến đối tƣợng là ngƣời lao động, các bà nội trợ, ngƣời tiêu dùng. 58
4.2.4. Tƣờng thuật trực tiếp tình hình giao dịch chứng khoán hàng ngày: 60
4.2.5. Tổ chức các gameshow trên kênh FM Kinh tế VOH 61
4.2.6. Những chƣơng trình đào tạo những kiến thức kinh tế từ xa: 63
nhân, đang lấn dần sang cả lĩnh vực văn hóa tinh thần mà tiêu biểu là lĩnh vực thông tin. Việc
xây dựng các kênh phát thanh chuyên biệt rõ ràng đang đi theo một hƣớng hết sức đúng đắn
và đã giúp phát thanh tiếp tục phát triển. Đây cũng chính là một xu thế mới của phát thanh
hiện đại.
Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2006, một kênh phát thanh chuyên biệt mới ra đời trên
sóng đài Tiếng nói Việt Nam với tên gọi Xone FM, phục vụ chủ yếu là âm nhạc và thông tin
cho đối tƣợng thính giả từ 16 đến 35. Tiếp nối sự thành công của kênh phát thanh chuyên biệt
này, gần đây, kênh FM giao thông VOV, Kênh giao thông đô thị của Đài Tiếng nói nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh ( Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM) cũng đã ra đời. Hai kênh phát
thanh mang tính chuyên biệt này đã đƣợc đánh giá cao và thu hút nhiều thính giả nghe đài.
Xét từ góc độ lĩnh vực, thì truyền thông chuyên biệt về kinh tế đang ngày càng khẳng
định vị thế của mình. Từ ngày 8/4/2009, kênh truyền hình chuyên biệt về lĩnh vực kinh tế, tài
chính InfoTV chính thức đƣợc phát sóng. InfoTV là kênh truyền hình ra đời theo chủ trƣơng
6
xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình, với sự kết hợp giữa Truyền hình Cáp Việt Nam và
Công ty Truyền thông Đại Dƣơng. Là kênh truyền hình chuyên biệt về kinh tế tài chính đầu
tiên của cả nƣớc đƣợc phát sóng trên hệ thống truyền hình cáp và kỹ thuật số vệ tinh DTH
của Đài truyền hình Việt Nam, sau 3 năm lên sóng, InfoTV đã thu hút đông đảo sự quan tâm
của khán giả. FBNC (Financial Business News Channel) là một kênh truyền hình mới của
TPHCM dành cho giới kinh doanh, nói về thông tin kinh tế, tài chính ngân hàng, chứng
khoán và đời sống, kinh nghiệm kinh doanh. Bên cạnh đó, kênh InvestTV - kênh truyền hình
chuyên biệt tại Việt Nam về lĩnh vực đầu tƣ, kinh tế và những vấn đề kinh tế xã hội đã và
đang trở thành công cụ truyền thông, là cầu nối giữa doanh nghiệp trong nƣớc với các nhà
đầu tƣ nƣớc ngoài; là diễn đàn để các nhà đầu tƣ bày tỏ ý kiến về những khó khăn, thuận lợi
và những vƣớng mắc trong quá trình triển khai về mặt thủ tục hành chính, qua đó sẽ góp phần
hoàn thiện khung pháp lý cho các hoạt động sản xuất kinh doanh; cung cấp thông tin mang
tính thời sự và đảm bảo sự minh bạch của thông tin thị trƣờng, hỗ trợ và hƣớng dẫn cho các
nhà đầu tƣ có tầm nhìn tổng quát về thị trƣờng, tƣ vấn, định hƣớng cho các nhà đầu tƣ theo
thanh chuyên biệt.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, các kênh phát thanh chuyên biệt đã đƣợc hình thành từ những năm 50
của thế kỷ trƣớc, và bởi vậy, đã có khá nhiều công trình, sách vở nghiên cứu về vấn đề này…
Tuy nhiên, những tài liệu, sách vở về phát thanh nƣớc ngoài, đặc biệt là phát thanh chuyên
biệt đƣợc dịch ở Việt Nam hiện nay là rất hạn chế.
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, đã có khá nhiều tài liệu, bài viết, công trình nghiên
cứu liên quan đến phát thanh. Một số sách về phát thanh ở Việt Nam do Đài Tiếng nói Việt
Nam xuất bản, trong đó, có nhiều cuốn nêu bật truyền thống và lịch sử Đài TNVN nhƣ “Đài
Tiếng nói Việt nam: nửa thế kỷ một chặng đường” (1995), “Trong lòng tôi- Tiếng nói Việt
nam” (2000), “55 năm phát thanh đối ngoại” (2000), “60 năm Tiếng nói Việt Nam, (2005)….
Phần nhiều sách, báo về phát thanh ở Việt nam viết về những vấn đề lý luận chung của phát
thanh hoặc các ấn đề về thể loại phát thanh hoặc nghiệp vụ thực hiện chƣơng trình phát thanh
trực tiếp, nhƣ “Báo Phát thanh” ( 2002) ; “Lý luận báo phát thanh” (2003), “Phát thanh trực
tiếp” (2007), Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh ( tài liệu tham khảo của Đài
TNVN) , “Cẩm nang giành cho người quản lý phát thanh” (tài liệu tham khảo của Đài
TNVN), Nội san nghiệp vụ phát thanh, hay công trình Mối quan hệ giữa phát thanh và công
chúng phát thanh trong thời đại Internet- Luận án TS của Đặng Thị Thu Hƣơng.…
Một số khóa luận và luận văn cũng quan tâm đến phát thanh Việt Nam, nhƣng chủ
yếu đi sâu phân tích, tìm hiểu thực trạng vận dụng các thể loại phát thanh, thực trạng sản xuất
chƣơng trình, hoặc nghiên cứu một vấn đề đƣợc chuyển tải trên làn sóng phát thanh nhƣ phát
thanh về giáo dục, thể thao, văn hóa, kinh tế… Đơn cử nhƣ khóa luận “Tin trên sóng phát
8
thanh” của Đồng Mạnh Hùng, “ Đổi mới thông tin trên sóng phát thanh đài TNVN” của
Nguyễn Hữu Tiến hay “Một vài đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả báo nói từ thực tiễn Đài
TNVN” của Dƣơng Thị Bảo Ngọc.
Những tƣ liệu, sách và các khóa luận đều có những giá trị rất quan trọng trong nghiên
cứu về phát thanh. Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có đề tài nào ở cấp tƣơng đƣơng nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích lý thuyết và thực tiễn phát thanh chuyên biệt ở thế giới và
Việt Nam hiện nay. Rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của các kênh phát thanh chuyên biệt,
từ đó xây dựng ý tƣởng hình thành kênh phát thanh chuyên biệt trên Đài Tiếng nói nhân dân
TPHCM.
Không chỉ nghiên cứu về kênh phát thanh, luận văn còn nghiên cứu về tình hình thông tin
kinh tế trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt trên làn sóng Đài Tiếng nói
nhân dân TPHCM để thấy rõ đây là một nhu cầu rất cần thiết hiện nay.
Trong luận văn, tác giả đã phân tích các điều kiện cần và đủ để xây dựng kênh phát thanh
kinh tế chuyên biệt tại Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM trong giai đoạn 2010-2015.
5. Phƣớng pháp nghiên cứu:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tƣ liệu lịch sử và tài liệu thứ cấp: thu thập và hệ thống hóa
các văn bản, tài liệu, các khóa luận nghiên cứu, báo, tạp chí, văn bản đề án phát triển Đài
Tiếng nói nhân dân TPHCM giai đoạn 2010-2015 về lĩnh vực phát thanh.
- Phƣơng pháp quan sát trực tiếp: quan sát các quy trình sản xuất chƣơng trình tại đài,
tìm hiểu, đánh giá thực trạng và điều kiện vật chất để Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM xây
dựng kênh phát thanh chuyên biệt.
- Phƣơng pháp phỏng vấn chuyên gia: phỏng vấn sâu các nhà báo phát thanh để thu thập
kinh nghiệm xây dựng chƣơng trình phát thanh hiện đại. Thu thập thông tin từ các doanh
nghiệp, chuyên gia kinh tế … - nhóm công chúng „đích‟ của chƣơng trình để tìm hiểu về nhu
cầu của công chúng đối với thời lƣợng, nội dung cần có trong kênh phát thanh chuyên biệt.
- Phƣơng pháp phân tích nội dung: phân tích, so sánh, đánh giá về nội dung và hình
thức kênh phát thanh chuyên biệt nhƣ VOV Giao thông, VOH Giao thông Đô thị và XoneFM
để chỉ ra sự khác biệt đối với những kênh tổng hợp.
- Tổng hợp tất cả các quan điểm lý luận, thực tiễn liên quan đến đề tài từ các tài liệu
10
khoa học, báo chí …
- Vận dụng những kiến thức lý luận, báo chí truyền thông, phát thanh hiện đại.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Nhu cầu và thói quen sử dụng các phƣơng tiện truyền thông đại chúng của ngƣời dân
TPHCM
- Chiến lƣợc phát triển của Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM.
- Điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực của Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM.
Chƣơng 4 – Mô hình lý thuyết về kênh phát thanh kinh tế chuyên biệt trên Đài Tiếng
nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất về nội dung kênh FM kinh tế VOH
- Đề xuất về Chƣơng trình khung cho kênh FM Kinh tế VOH
12
CHƢƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊNH PHÁT THANH CHUYÊN
BIỆT VÀ VẤN ĐỀ THÔNG TIN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Trong chƣơng này, luận văn sẽ đúc kết tài liệu trong và ngoài nƣớc để xây dựng cơ sở
nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu mô hình kênh kinh tế chuyên biệt trên Đài Tiếng nói
nhân dân tphcm, từ góc độ báo chí học. Nội dung cụ thể của chƣơng 1 gồm: lịch sử hình
thành kênh phát thanh chuyên biệt trên thế giới và ở Việt Nam, khái niệm, đặc trƣng và thế
mạnh của phát thanh chuyên biệt và các dạng kênh phát thanh chuyên biệt; và cuối cùng là
giới thiệu một số kênh phát thanh chuyên biệt ở Việt Nam hiện nay và vấn đề thông tin kinh
tế trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng (PTTTĐC) ở Việt Nam.
chúng.
Ở Anh, ngay từ những năm 1950, trƣớc sức ép cạnh tranh của truyền hình, phát thanh
đã chuyển từ kênh chƣơng trình tổng hợp sang kênh định dạng, có nghĩa là chuyển từ việc
„phục vụ tất cả mọi ngƣời‟ sang dạng phát thanh có tính hƣớng đích, và phục vụ nhu cầu của
các nhóm công chúng nhỏ. Phát thanh chuyên biệt, với cấu trúc chƣơng trình theo định dạng
ra đời, với sự khởi đầu rực rỡ của Top 40.
Phát thanh chuyên biệt chính là tiền đề để Toffler (1996, tr.174) khái quát thành hiện
tƣợng „phi đại chúng hóa truyền thông đại chúng‟ và sau này đƣợc Hendy (2000) và
Priestman (2002) gọi là „truyền thông hẹp‟ (narrowcasting). Hiện tƣợng này tạo cho ngành
công nghiệp phát thanh „đại chúng‟ một diện mạo mới.
1.1.2 Lịch sử hình thành kênh phát thanh chuyên biệt tại Việt nam:
So với sự hình thành và phát triển trên lĩnh vực phát thanh, ở Việt Nam hiện nay, các
kênh phát thanh vẫn đa phần đƣợc thiết kế theo dạng kênh tổng hợp, đặc biệt là ở hệ thống
phát thanh địa phƣơng. Ngay ở Đài TNVN, cho đến năm 2003, hệ thống Hệ phát thanh mới
đƣợc định hình rõ nét. Trong đó ngày 7/9/2003: Hệ thời sự Chính trị Tổng hợp (VOV1) đƣợc
phát sóng; ngày 22.10.2003: thành lập Hệ văn hóa và đời sống xã hội (VOV2); ngày
22.10.2003: thành lập Hệ âm nhạc – thông tin – giải trí (VOV3); đến ngày 24.8.2004: thành
lập Hệ phát thanh Dân tộc (VOV4), ngày 6.9.2005: thành lập Hệ phát thanh đối ngoại
(VOV5).
Đài TNVN với 5 Hệ chƣơng trình phát thanh đƣợc xây dựng theo xu hƣớng hiện đại
phục vụ mọi tầng lớp xã hội là một bƣớc tiến lớn cho ngành phát thanh Việt Nam. Đài TNVN
đã tăng cƣờng sử dụng công nghệ phát thanh hiện đại, tăng tính tƣơng tác; tăng thêm chƣơng
trình, nâng cao chất lƣợng nội dung tuyên truyền; hàng ngày phát sóng trên 200 giờ với hơn
200 chƣơng trình phát thanh. Cho đến nay, phát thanh Việt Nam đã hình thành hệ thống phát
thanh truyền thanh 4 cấp: trung ƣơng, tỉnh/ thành phố, huyện, và xã/phƣờng. Cả nƣớc có hơn
14
8000 đài, trạm truyền thanh cơ sở, với 97 ngàn loa dùng đƣờng dây hữu tuyến, 9500 loa
không dây, với đội ngũ phát thanh cơ sở lên đến 15000 ngƣời.
15
động trong quá trình tiếp nhận. Hơn nữa nhu cầu phát triển tự thân của các đài phát thanh
cũng đang thúc đẩy phát thanh truyền thống đổi mới để chiếm lĩnh công chúng. Trên con
đƣờng phát triển đó, phát thanh đã mở ra cho mình một hƣớng đi mới đó là phát triển các
kênh phát thanh chuyên biệt. Khái niệm về kênh phát thanh chuyên biệt cho thấy rõ sự
chuyên biệt chính là kênh phát những chƣơng trình với những nội dung thông tin dành riêng
cho những nhóm công chúng nhỏ và nhóm công chúng có nhu cầu riêng, sở thích riêng. Qua
kênh phát thanh chuyên biệt thính giả nghe Đài có thể tự quyết định và lựa chọn những gì họ
quan tâm, cần và muốn nghe.
Phát thanh chuyên biệt có phải là phát thanh hiện đại hay không?
Phát thanh chuyên biệt chính là phát thanh hiện đại. Bới thứ nhất, phát thanh chuyên
biệt phục vụ đúng nhu cầu thông tin của một nhóm ngƣời trong xã hội, và vì vậy luôn thu hút
sự quan tâm của nhóm công chúng „đích‟.
Thứ hai, các kênh phát thanh chuyên biệt thƣờng xây dựng các chƣơng trình mở để
thính giả có thể tham gia trực tiếp vào nội dung chƣơng trình, làm tăng tính đời thƣờng của
chƣơng trình, tính gần gũi của phát thanh, làm cho phát thanh giống nhƣ ngƣời bạn, một diễn
đàn nơi mà mọi ngƣời có thể chia sẻ quan niệm, ý kiến. Các chƣơng trình mở có một đặc
điểm đó là thông tin ở đó không chỉ do phóng viên cung cấp mà do cả công chúng, những
ngƣời tham gia vào chƣơng trình phát thanh cung cấp. Bởi vậy nguồn tin sẽ đa dạng hơn.
Hơn thế thông tin ở đây có tính chân thực, khách quan và đời thƣờng, nên có khả năng thu
hút thính giả theo dõi nhiều hơn. Sự góp mặt, đóng góp công sức của công chúng vào chƣơng
trình thì sẽ tạo nhiều thông tin mới, thông tin đắt giá. Bên cạnh đó, trách nhiệm về thông tin
đƣợc chia đều cho cả phóng viên lẫn ngƣời trực tiếp cung cấp. Tuy nhiên các chƣơng trình
mở đòi hỏi phải có một êkíp thực hiện chuyên nghiệp, có trình độ, có khả năng ứng biến cao
và các phƣơng tiện, trang thiết bị hiện đại.
Thứ ba, tính hiện đại của phát thanh chuyên biệt và cũng chính là lợi thế của phát
thanh so với các loại hình báo chí khác chính là nhanh, chính xác. Nếu nhƣ báo in bị hổng
thông tin 24 giờ thì từ số ra ngày hôm trƣớc tới số ra ngày hôm sau, các sự kiện, sự việc diễn
động đƣợc lƣu giữ trong các băng dữ liệu. Để có thể có đƣợc chất lƣợng âm thanh tốt thì phải
luôn có kho dự trữ âm thanh phát thanh sử dụng tiếng động hiện trƣờng nhằm tạo sự hấp dẫn
cho nội dung, tính chân thực, thuyết phục cho thông tin của mình. Khi tiếng động hiện trƣờng
đƣợc sử dụng tốt sẽ tạo ra giao diện lớn đối với thính giả, tạo sự sinh động cho tác phẩm. Nó
giúp truyền tải ý đồ của tác giả và khả năng liên tƣởng của độc giả đƣợc nâng cao hơn. Do
không đƣợc phụ trợ bởi hình ảnh nên việc sử dụng tiếng động trong phát thanh có thể kích
17
thích, khơi gơi khả năng tƣởng tƣợng cho thính giả - và điều này góp phần làm nên thành
công của phát thanh.
Thứ năm, kết hợp giữa thông tin đời thƣờng, thông tin giải trí và thông tin chuyên
ngành. Tức là cần chú trọng tới nội dung của chƣơng trình. Đây là yếu tố quan trọng hàng
đầu quyết định tới việc thành bại của chƣơng trình phát thanh. Khi xây dựng kịch bản cho
chƣơng trình phát thanh thì nên chú ý kết hợp các yếu tố sao cho thật phù hợp. Để phản ánh
đa dạng cuộc sống, đáp ứng đƣợc yêu cầu thông tin của công chúng thì phát thanh phải lựa
chọn thông tin để phản ánh sao cho thật hiệu quả. Thông tin ấy không chỉ thiên về một lĩnh
vực mà phải phản ánh đa diện về cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thông tin. Do đó việc kết hợp
các yếu tố trên là vô cùng quan trọng.
Nếu thông tin đời thƣờng cung cấp cho công chúng những tin tức về cuộc sống xung
quanh thì thông tin giải trí đáp ứng nhu cầu tinh thần và thông tin chuyên ngành sẽ cung cấp
kiến thức, định hƣớng, hoạch định và có những giải pháp phù hợp về những vấn đề có chuyên
môn, chuyên biệt cho công chúng.
Với những phƣơng thức thể hiện và nội dung cần quan tâm với những phƣơng thức
hiện đại có thể thấy kênh phát thanh chuyên biệt chính là một xu hƣớng phát triển chung của
ngành phát thanh thế giới và trong nƣớc. Để phát thanh phát triển theo hƣớng hiện đại thì
không nên áp dụng một cách khô cứng khuôn mẫu theo các phƣơng thức phát thanh truyền
thống mà phải biết chủ động, linh hoạt, sáng tạo song cũng phải tập trung theo đúng chủ đích,
đối tƣợng mà mình hƣớng đến.
1.2.2: Đặc trưng và thế mạnh của kênh phát thanh chuyên biệt:
thanh tổng hợp, trong 24h, có những thời điểm rất thuận tiện và phù hợp với nhiều nhóm
công chúng nhƣng các Đài phát thanh lại không thể đáp ứng nhu cầu của họ cùng một lúc mà
phải có sự lựa chọn, ƣu tiên cho chƣơng trình có khả năng thu hút nhiều thính giả nhất. Với
kênh phát thanh chuyên biệt, những chƣơng trình cụ thể hóa chỉ dành riêng cho nhóm đối
tƣợng mà họ hƣớng đến. Do đó thông tin tập trung và thính giả có thể nghe bất cứ lúc nào.
- Thứ ba, không cần công chúng phải tìm đến mình, phát thanh ngày nay tìm đến công
chúng. Trƣớc hết, là từ sự hiện hữu của máy thu thanh ở mọi nơi, mọi lúc. Sau đó, là nội
dung chƣơng trình. Chƣơng trình phát thanh luôn xác định nhóm công chúng mục tiêu hay
công chúng chuyên biệt của đài mình. Thính giả không cần phải „nhớ‟ đến chƣơng trình dành
cho mình trong dòng chảy tuyến tính của chuỗi âm thanh trong các kênh phát thanh „tổng
hợp‟, mà giờ đây, bất cứ lúc nào, bật kênh phát thanh ƣa thích, công chúng thính giả cũng có
thể hƣởng thụ đƣợc thông tin và giải trí theo cách mà mình mong đợi. Thiết kế của phát thanh
định dạng sẽ chi phối cả cách xây dựng nội dung chƣơng trình, cũng nhƣ tổ chức sản xuất
chƣơng trình.
19
Các dạng kênh phát thanh chuyên biệt.
Vào giữa thập kỷ 50, do sự cạnh tranh của truyền hình, thính giả nghe đài bắt đầu
giảm sút đáng kể. Điều này khiến cho các nhà sản xuất chƣơng trình phát thanh phải thay đổi
tƣ duy để thu hút công chúng thính giả. Hàng loạt các dạng chƣơng trình chuyên biệt ra đời,
bao gồm „Đồng quê‟, „Tin tức và Trò chuyện‟ (News/talk), Rock, Nhạc trẻ đƣơng đại,
Urban (nhạc thành thị), Nhạc cổ điển cho ngƣời cao tuổi (Oldies và Nostalgia)
(MacFarland 1997, tr.74-82; Hendy 2000, tr.100-1). Theo Busby (1988, tr.227), có khoảng 24
dạng format chƣơng trình phát thanh đang đƣợc sử dụng ở Mỹ.
Hiện nay, các kênh phát thanh chuyên biệt trên thế giới chủ yếu tập trung vào các
kênh giải trí, ca nhạc, thƣơng mại, mua sắm. Các kênh phát thanh chuyên biệt thƣờng có hình
thức thể hiện dƣới dạng các chƣơng trình talkshow, hoặc các chƣơng trình có thời lƣợng đáp
ứng thông tin, yêu cầu thính giả chứ không phân chia theo từng múi thời gian chặt chẽ cố
định nhƣ các kênh tổng hợp.
Báo chí Việt Nam sau hội nhập đã mang nhiều sắc thái mới, đa dạng hóa thông tin
trong nƣớc và quốc tế, có những ảnh hƣởng mạnh mẽ đến đời sống của ngƣời dân Việt Nam.
Báo chí một mặt đã chuyển tải những tin tức quan trọng về chủ trƣơng, chính sách của Nhà
nƣớc đến mọi tầng lớp nhân dân. Mặt khác, báo chí là diễn đàn để ngƣời dân phản ánh, đối
thoại, góp ý với các chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc.
Trong hơn 20 năm đất nƣớc đổi mới vừa qua, báo chí kinh tế đã nhanh nhạy tuyên
truyền và cổ vũ các tầng lớp nhân dân thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nƣớc; cổ vũ các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến trong xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo; góp phần tích cực ổn định tình hình chính trị,
xã hội, tăng cƣờng kỷ cƣơng, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nƣớc, thực hiện dân chủ hoá đời
sống, phát huy vai trò giám sát xã hội và công luận
Có thể nói, báo chí có vai trò quan trọng đối với hoạt động và sự phát triển của doanh
nghiệp. Mối quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp, doanh nghiệp và báo chí là mối quan hệ
tƣơng hỗ cùng phát triển vì mục tiêu chung của đất nƣớc. Thông tin từ báo chí luôn có tính
hai mặt, nếu nhƣ đó là sự phản ánh trung thực, tích cực thì nó sẽ có tác dụng hữu hiệu, thúc
đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Ngƣợc lại, nếu những thông tin thiếu căn cứ, phản ánh
không khách quan thì sẽ làm tổn hại đến hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp, thậm chí kìm
hãm sự phát triển doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp rất cần có sự hỗ trợ thông tin từ báo
chí với những bài viết khách quan, phản ánh chính xác sự việc. Cũng nhƣ vậy, doanh nghiệp
cần chủ động hợp tác cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí tác nghiệp, đây
vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của doanh nghiệp.
Báo chí và các phƣơng tiện truyền thông đại chúng về lĩnh vực kinh tế là diễn đàn để
21
doanh nghiệp bày tỏ ý kiến quan điểm của mình đối với Đảng, Nhà nƣớc; từ đó nhận đƣợc
những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nói cách khác, báo
chí là cầu nối quan trọng giữa Đảng và Nhà nƣớc với ngƣời lao động, ngƣời tiêu dùng. Báo
chí là nơi tập hợp các ý kiến, nguyện vọng của cộng đồng doanh nghiệp để đề đạt với cơ quan
Nhà nƣớc, góp phần làm cho thể chế kinh tế sát với thực tế hoạt động của doanh nghiệp và
kinh tế nhƣng lại thiếu nhãn quan chính trị (đây là yếu tố chi phối rất lớn đến nền kinh tế) nên
dễ rơi vào chông chênh, thiếu thuyết phục và thƣờng là không đƣa ra đƣợc những giải pháp
để bình ổn tình hình cũng nhƣ hóa giải khó khăn.
Hiện tại, riêng Truyền hình Việt Nam đã có rất nhiều chƣơng trình và sân chơi về kinh
tế nhƣ: Tạp chí kinh tế cuối tuần, Lựa chọn cuối tuần trên VTV1 và rất nhiều chƣơng trình
kinh tế chuyên sâu trên VTV2. Với VTV3 vốn xƣa nay đƣợc biết tới là kênh “thể thao - giải
trí và thông tin kinh tế” thì đến nay mảng “thông tin kinh tế” vẫn hơi chìm. Tuy nhiên, do nhu
cầu thông tin ngày càng cao, ngƣời phụ trách kênh cho biết, tới đây yếu tố này sẽ đƣợc tăng
cƣờng và thể hiện dƣới nhiều hình thức mới mẻ .Còn với VTC, các chƣơng trình kinh tế cũng
đang xuất hiện ngày càng nhiều. VTC có Doanh nghiệp 24 giờ phát sóng hàng ngày với thời
lƣợng 60 phút .Cùng với đó là các chƣơng trình khác nhƣ Bản tin tài chính, Khoảnh khắc
vàng Các chƣơng trình kinh tế trên HTV của Hà Nội và TPHCM cũng ngày một nhiều và
đa dạng hơn.
Thông tin nhiều, kiến thức nhiều nhƣng vẫn gây cảm giác thiếu. Đơn giản nhất là
thời lƣợng cho một số chƣơng trình không phát sóng mà nhƣ kiểu “bị đuổi”. Cũng từ những
nhu cầu cần thông tin mà từ các chuyên mục nhỏ mà các Đài truyền hình đã phát triển và xây
dựng nhiều kênh dành riêng cho lĩnh vực kinh tế, tài chính . Có thể điểm qua một số kênh
nhƣ:
*Infotv - Ra đời từ tháng 3.2007, VCTV9-Info TV là kênh truyền hình chuyên biệt về
kinh tế tài chính và chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam. Cập nhật thông tin trực tiếp từ sàn
giao dịch chứng khoán Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh liên tục hàng ngày và những phân
tích, đánh giá của các chuyên gia hàng đầu về thị trƣờng chứng khoán. VCTV9 - Info TV
cung cấp thông tin kinh tế, tài chính trong và ngoài nƣớc, phân tích những tác động, hiệu quả
thông tin, giúp cho khán giả có cái nhìn toàn cảnh về tình hình kinh tế, tài chính tại Việt nam
và thế giới. Hiện nay, Truyền hình Cáp Việt Nam có 9 kênh truyền hình với hơn 1,6 triệu hộ
thuê bao. Trong đó, kênh VCTV9-InfoTV có doanh thu từ quảng cáo tài trợ cao nhất so với
các kênh khác của Truyền hình cáp Việt Nam. Điều đó chứng tỏ kênh này đang đƣợc giới
doanh nhân và các nhà đầu tƣ quan tâm.
* Lên sóng từ ngày 15.3.2009, VITV đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ và hiện
đang là một kênh thị trƣờng kinh tế - tài chính chuyên sâu hàng đầu ở Việt Nam. Kênh truyền
bằng. InvestTV đã trở thành công cụ truyền thông, là cầu nối giữa doanh nghiệp trong nƣớc
với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài; là diễn đàn để các nhà đầu tƣ bày tỏ ý kiến về những khó
khăn, thuận lợi và những vƣớng mắc trong quá trình triển khai về mặt thủ tục hành chính, qua
đó sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho các hoạt động sản xuất kinh doanh; cung cấp
thông tin mang tính thời sự và đảm bảo sự minh bạch của thông tin thị trƣờng, hỗ trợ và
24
hƣớng dẫn cho các nhà đầu tƣ có tầm nhìn tổng quát về thị trƣờng, tƣ vấn, định hƣớng cho
các nhà đầu tƣ theo những phân tích đánh giá chuyên nghiệp để nhà đầu tƣ có thể đƣa ra
những quyết định đúng đắn, mang tính kịp thời trong đầu tƣ…
Nhìn chung, các kênh truyền hình kinh tế này đều có các chuyên mục với nội dung
phong phú, nhiều màu sắc sinh động. Các thông tin về kinh tế không chỉ đơn điệu là những
hình ảnh, bài viết với phần trình bày đơn thuần của biên tập viên, phát thanh viên mà còn có
những “cửa sổ” với những thông tin, chỉ số, biểu đồ minh họa. Tuy nhiên, truyền hình về kinh
tế lại có một hạn chế là ngƣời xem phải ở nơi cố định, phải tập trung vào màn hình, và không
phải ai cũng có điều kiện để có thể xem truyền hình. Mà điều đáng nói là các kênh truyền
hình chuyên biệt chủ yếu là phát trên hệ thống truyền hình cáp. Với những đối tƣợng là ngƣời
dân, sinh viên, học sinh thì có thể họ sẽ không đủ điều kiện để mua sắm những thiết bị, lắp
đặt hệ thống cáp và thậm chí là trả phí để hòa mạng cáp hàng tháng.
Về lĩnh vực phát thanh: hầu hết các Đài đều có chuyên mục về kinh tế. Đài Tiếng nói
nhân dân TPHCM cũng có thời lƣợng dành cho chƣơng trình kinh tế 60 phút mỗi ngày. Nhƣ
vậy là quá ít so với yêu cầu thông tin tuyên truyền kinh tế. Và cũng quá ít so với vị trí và tầm
quan trọng của kinh tế so với các ngành khác và so với vị trí kinh tế của cả nƣớc.
Tiểu kết:
Trong cuộc sống hiện đại, nhu cầu đƣợc thông tin và tiếp cận thông tin của công
chúng ngày càng tăng và đòi hỏi cao. Với thời gian phát triển đáp ứng nhu cầu thông tin dành
cho quảng đại công chúng, nhƣng chỉ với những kênh, chƣơng trình tổng hợp thì khó có thể
thỏa mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng. Hiện nay, ngƣời nghe không còn thụ