ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************* HOÀNG THỊ HẢI YẾN TRAO ĐỔI THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA
GIỚI TRẺ VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2011 –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
(KHẢO SÁT MẠNG FACEBOOK, ZING ME VÀ GO.VN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
Chuyên ngành: Báo chí học
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*************
HOÀNG THỊ HẢI YẾN TRAO ĐỔI THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA
GIỚI TRẺ VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2011 –
1.2.2.Tại Việt Nam 12
1.3.Một số đặc điểm và tính năng của Mạng xã hội…………………………… 16
1.3.1.Đặc điểm Mạng xã hội 16
1.3.2.Một số tính năng chính của Mạng xã hội 17
1.4.Các loại Mạng xã hội phổ biến 20
1.4.1.Cá nhân làm trung tâm 20
1.4.2.Mối quan hệ làm trung tâm…………………………………… 20
1.4.3.Nội dung làm trung tâm 20
1.5.Mối quan hệ giữa Mạng xã hội và báo chí 20
1.6.Nhu cầu trao đổi của giới trẻ Việt Nam trên Mạng xã hội 24
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG TRAO ĐỔI THÔNG TIN CỦA GIỚI TRẺ VIỆT
NAM TRÊN MẠNG XÃ HỘI TỪ NĂM 2010 – 2011 (KHẢO SÁT FACEBOOK,
ZING ME VÀ GO.VN) 31
2.1.Giới thiệu chung về Mạng xã hội Facebook, Zing Me và Go.vn 31
2.1.1.Mạng xã hội Facebook 31
2.1.2.Mạng xã hội Zing Me 40
2.1.3.Mạng xã hội Go.vn 47
2.2.Khảo sát nhu cầu trao đổi thông tin của giới trẻ Việt Nam trên ba Mạng xã hội
Facebook, Zing Me và Go.vn 54
2.2.1.Phạm vi, đối tượng khảo sát (điều tra xã hội học) 54
2.2.2.Phân tích kết quả khảo sát 55
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3: KINH NGHIỆM, GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ GIỚI
TRẺ VIỆT NAM SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI 75
3.1.Những mặt tích cực và tiêu cực khi giới trẻ sử dụng Mạng xã hội 75
3.1.1.Mặt tích cực 75
3.1.2.Mặt tiêu cực 86
3.2.Vấn đề quản lý Mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay 100
3.3.Đề xuất một số giải pháp……………… 102
một nhu cầu thiết yếu, một trào lưu của giới trẻ. Nhiều số liệu điều tra trên thế giới
và ở Việt Nam cho thấy đa số lượt truy cập và sử dụng Mạng xã hội nằm ở độ tuổi
còn trẻ. Họ sử dụng Mạng xã hội chủ yếu vào việc trao đổi thông tin cá nhân, kết
bạn, chia sẻ hình ảnh, chơi game giải trí… cập nhật tất cả những vấn đề, sự kiện họ
quan tâm và xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Tuy nhiên, việc Mạng xã hội đáp ứng một cách nhanh chóng nhu cầu trao
đổi thông tin, chia sẻ của giới trẻ cũng ẩn chứa những nguy cơ, mối đe dọa đến đời
sống của chính những người sử dụng Mạng xã hội như việc lộ bí mật đời tư, thông
tin không được kiểm soát chặt chẽ, những kẻ xấu lợi dụng lan truyền “tin tặc”…
2
Nhiều bạn trẻ không ý thức được các mặt trái của nó. Điều đó gây đau đầu cho những
nhà quản lý và cho cả những bậc làm cha làm mẹ.
Với những lý do trên, tác giả Luận văn quyết định lựa chọn đề tài “Trao đổi
thông tin trên Mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2011 –
Thực trạng và giải pháp” thông qua kết quả khảo sát ba trang mạng Facebook,
Zing Me và Go.vn làm Luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Báo chí của mình.
Đây là một vấn đề “nóng” trong xã hội hiện đại nhưng chưa thực sự được nghiên
cứu sâu.
Chúng tôi chọn khảo sát 3 trang Mạng Facebook, Zing Me và Go.vn với lý
do: Facebook là trang mạng nước ngoài nổi tiếng trên giới, đang dẫn đầu với số
người hơn 845 triệu thành viên (năm 2012). Phiên bản tiếng Việt của Facebook
cũng được giới trẻ Việt Nam sử dụng khá phổ biến, luôn nằm trong top 5 những
trang Mạng xã hội có người dùng nhiều nhất tại Việt Nam.
Bên cạnh Mạng Facebook, Zing Me (trực thuộc Vinagame) và Go.vn (Trực
thuộc VTC) là hai trang Mạng xã hội nội địa tiêu biểu của Việt Nam. Trong đó,
Go.vn hiện đang dẫn đầu các trang Mạng xã hội Việt Nam về số người dùng với 12
triệu thành viên còn Zing Me từng được xem là Mạng xã hội quyền lực nhất Việt
Nam có 7,4 triệu thành viên (năm 2012). Điểm đáng chú ý, cả 3 trang Mạng xã hội
trên đều thu hút đông đảo đối tượng chính là giới trẻ tham gia và trao đổi thông tin.
ĐH Quốc gia Hà Nội) với đề tài “Một số tác động của blog đến báo chí Việt Nam”;
Khóa luận của sinh viên Ngô Lan Hương (K51 – Khoa Báo chí, ĐH Quốc gia Hà
Nội) với đề tài “Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hóa-
giải trí”; Luận văn của học viên Lê Minh Thanh (K11 – Khoa Báo chí, ĐH Quốc
gia Hà Nội) với đề tài “Truyền thông cá nhân trong xu thế bùng nổ thông tin hiện
nay”… Các Khóa luận và Luận văn này đã có những kết quả nhất định, tuy nhiên
chủ yếu khai thác đề tài về truyền thông cá nhân, chưa có một đề tài nào đi sâu
nghiên cứu nhu cầu trao đổi thông tin của giới trẻ Việt Nam trên Mạng xã hội.
Như vậy, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Trao đổi thông tin trên
Mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2011 – Thực trạng và giải
4
pháp” với tư cách là công trình đề cập khái quát và đầy đủ nhất về vấn đề này.
Trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng kế thừa những ý tưởng khai phá
của các tác giả đi trước cùng với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tế, phát triển
theo logic khoa học của chúng tôi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu nhu cầu trao đổi thông tin của giới trẻ Việt Nam trên Mạng xã hội
để lý giải vì sao Mạng xã hội thu hút mạnh mẽ đến giới trẻ như vậy.
- Chỉ ra những mặt tích cực và tiêu cực của Mạng xã hội tác động tới giới trẻ.
- Đưa ra kinh nghiệm, đề xuất giải pháp quản lý và định hướng giới trẻ sử
dụng Mạng xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý thuyết chung về Mạng xã hội
- Khảo sát thông tin và người dùng ở 3 trang Mạng xã hội Facebook, Zing
Me và Go.vn để phân tích và tìm hiểu nhu cầu trao đổi thông tin của giới trẻ Việt
Nam trên Mạng xã hội.
- Làm rõ một số nội dung thông tin mà giới trẻ Việt Nam quan tâm trên
Mạng xã hội.
giữa các nhân tố nghiên cứu.
+ Khảo sát, điều tra xã hội học trên thực tế nhu cầu sử dụng và trao đổi thông
tin của giới trẻ Việt Nam trên ba Mạng Facebook, Zing Me và Go.vn .
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần hoàn chỉnh hệ thống lý luận về truyền thông trong xã hội hiện
đại.
- Khẳng định thêm về mặt lý luận vai trò của Mạng xã hội trong “Thế
giới phẳng”.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm rõ tầm quan trọng của Mạng xã hội trong việc đáp ứng được nhu cầu
trao đổi thông tin của giới trẻ.
6
- Đề xuất giải pháp quản lý thông tin và định hướng giới trẻ Việt Nam sử
dụng Mạng xã hội. Từ đó, giúp các nhà lãnh đạo, quản lý tham khảo trong quá trình
hoạch định chiến lược, giám sát và quản lý những trang thông tin điện tử cá nhân.
6.3. Cái mới của Luận văn
Theo tìm hiểu của chúng tôi, trước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu
sâu về vấn đề “Trao đổi thông tin trên Mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam”. Đây có
thể được xem là một hướng đi hoàn toàn mới, mang đến bức tranh khái quát về thực
trạng sử dụng Mạng xã hội của công chúng nói chung và bộ phận giới trẻ Việt Nam
nói riêng, góp phần vào việc nghiên cứu truyền thông đại chúng hiện nay.
7. Bố cục Luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của Luận văn được chia làm 3 chương cơ bản:
Chương 1: Lý thuyết chung về Mạng xã hội và công chúng sử dụng
Chương 2: Thực trạng trao đổi thông tin của giới trẻ Việt Nam trên Mạng xã
hội từ năm 2010 – 2011 (khảo sát Facebook, Zing Me và Go.vn)
Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình quản lý giới trẻ Việt Nam
quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi chung là các actor. Các thực thể xã hội này
không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã hội, các tổ chức, các
thiết chế, các công ty xí nghiệp và cả các quốc gia.” Khi mạng lưới xã hội này được
thiết lập và phát triển thông qua phương tiện truyền thông Internet, nó được hiểu là
Mạng xã hội ảo. Hoặc đơn giản hơn, “Mạng xã hội ảo là một trang web mà nơi đó
một người có thể kết nối với nhiều người thông qua chia sẻ những sở thích cá nhân,
nơi ở, đặc điểm học vấn…”
Theo Từ điển Bách khoa Online Wikipedia
[93]
: “Mạng xã hội (tên đầy đủ là
Mạng xã hội trực tuyến) là một đại diện tiêu biểu của Web 2.0. Mạng xã hội tạo ra
một hệ thống trên nền Internet cho phép người dùng chia sẻ thông tin một cách có
hiệu quả, vượt ra ngoài những giới hạn về địa lý, xây dựng nên một mẫu định danh
8
trực tuyến nhằm phục vụ những yêu cầu công cộng chung và những giá trị của xã
hội.”
Ông Vũ Kiêm Văn, thành viên sáng lập mạng thehetre.vn định nghĩa đơn
giản: “Mạng xã hội như một đồ thị trong đó các nút có thể là một cá thể hoặc là
một tổ chức, còn các liên kết là mô phỏng các quan hệ trong xã hội thực. Mạng xã
hội khác rất nhiều so với blog vì Mạng xã hội là một khái niệm rộng lớn hơn, Blog
là một dịch vụ, một loại hình giao tiếp trong Mạng xã hội. Có những Mạng xã hội
dựa trên nền tảng chính là blog, có những Mạng xã hội không có blog”.
[96]
Bà Nguyễn Thị Bình, Giám đốc Marketing của Cyworld Việt Nam có góc
nhìn khác về Mạng xã hội: “Mạng xã hội có rất nhiều chức năng trong đó blog là
một chức năng trong một Mạng xã hội. Blog có phải là Mạng xã hội hay không thì
câu trả lời của tôi là không. Vì blog giống như các bạn đã thấy, từ blog đã nói lên
chức năng của nó. Blog nghiêng về viết về text nhiều hơn”.
[96]
nhận… Con người hiểu được thông tin qua lời nói, chữ viết… và diễn tả thông tin
thành ngôn ngữ để truyền đạt cho nhau. Thông tin được chuyển tải qua các môi
trường vật lý khác nhau như ánh sáng, sóng âm, sóng điện từ… Thông tin được ghi
trên các phương tiện hữu hình như văn bản trên giấy, băng ghi âm hay phim ảnh…
Trao đổi thông tin là một quá trình giao tiếp để chia sẻ những hiểu biết, kinh
nghiệm, tình cảm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn
tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Một quá trình trao đổi thông tin đầy đủ
gồm các yếu tố: người gửi, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông và sự phản
hồi. Trong truyền thông có sự trao đổi thông tin hai chiều, có sự chuyển đổi vai trò:
người gửi đồng thời cũng là người nhận. Sự phản hồi trong truyền thông giúp trao
đổi thông tin được chính xác hơn.
Về mặt hình thức có hai kiểu trao đổi thông tin:
- Trực tiếp: được thực hiện giữa người với người, mặt đối mặt
- Gián tiếp: được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông như sách
báo, loa, radio, ti vi…
Như vậy, trao đổi thông tin trên Mạng xã hội có thể được hiểu là một quá
trình chia sẻ thông tin gián tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng
đồng bằng phương tiện truyền thông là Mạng xã hội.
1.2. Sự ra đời và phát triển Mạng xã hội
1.2.1. Trên thế giới
10
Theo các nhà nghiên cứu, mặc dù mới ra mắt gần đây khi đã hội tụ đầy đủ
các điều kiện nền tảng nhưng thực chất “tổ tiên” của Mạng xã hội đã xuất hiện từ
khá lâu. Ở thời tiền sử khi con người mới xuất hiện, Mạng xã hội đơn giản là các
hoạt động vui chơi, giải trí, giao lưu trong cùng một bầy đàn nho nhỏ. Khi xã hội
phát triển hơn, Mạng xã hội là các phường hội, các hoạt động văn hóa nghệ thuật,
giải trí Đến khi mạng Internet ra đời, các hình thức kết nối trở nên đa dạng và
rộng hơn. Và cho đến ngày nay, khái niệm Social Network đang chính là Facebook,
MySpace
được coi là tên tuổi tiên phong hỗ trợ kết nối và chia sẻ trực tuyến giữa những người
thân sống ở đời thực. Friendster hoạt động dựa vào chính người dùng và có tới 3
triệu người tham gia sau 3 tháng đầu ra mắt. Trung bình cứ 126 người dùng Internet
có một người có mặt ở đây. Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với
hàng triệu thành viên ghi danh. Sự phát triển quá nhanh này cũng là con dao hai
lưỡi: server của Friendster thường bị quá tải mỗi ngày, gây bất bình cho rất nhiều
thành viên.
Bởi vậy, chỉ một năm sau thì bản sao MySpace ra mắt và nhanh chóng thu
hút được người dùng Internet. Phiên bản đầu tiên của MySpace chỉ được thiết kế
trong vòng đúng 10 ngày với các tính năng như phim ảnh (embedded video). Mỗi
ngày MySpace có hàng chục ngàn thành viên mới, các thành viên cũ của Friendster
cũng lũ lượt chuyển qua MySpace. Trong vòng một năm, MySpace trở thành Mạng
xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News
Corporation mua lại với giá 580 triệu USD.
Hai Mạng xã hội phát triển nhanh nhất hiện nay có mặt khá muộn. Năm
2004, Facebook ra mắt. Ban đầu đây là địa chỉ dành cho sinh viên đại học kết nối và
chia sẻ. Ngay sau khi ra đời tại trụ sở trường đại học danh tiếng Harvard, Facebook
đã có tới 19.500 sinh viên đăng kí trong tháng đầu tiên. Sự ra đời của Facebook
đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống Mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập
trình “Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ mới cho cá
nhân mình cũng như các thành viên khác dùng. Facebook Platform nhanh chóng gặt
hái được thành công vượt bậc, mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và
12
đóng góp không nhỏ cho con số trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên
trang này mỗi ngày.
Hai năm sau, Twitter cũng kịp thời ra đời, ghi dấu mốc quan trọng trong quá
trình phát triển của Mạng xã hội. Tại thời điểm năm 2008, mỗi giây người dùng
Twitter đăng lên 3.283 thông điệp. Đây cũng là năm Facebook vượt mặt MySpace
để trở thành Mạng xã hội số một thế giới. Cả hai đều trở nên phổ biến hơn hẳn vượt
thu hút khoảng 6,8 triệu thành viên, Go.vn có khoảng 3 triệu thành viên.
[68]
Mạng xã hội thế hệ mới đã nhanh chóng chiếm được sự ưa chuộng của giới
trẻ và phát triển bùng nổ cả về số lượng người dùng cũng như thời lượng sử dụng.
Năm 2010, tiếp tục xuất hiện thêm một số Mạng xã hội do các công ty Việt Nam
đầu tư phát triển. Các Mạng xã hội khác đã đi vào thị trường ngách, nhắm tới đối
tượng người dùng ở diện hẹp hơn, hoặc mang tính chuyên biệt hóa cao hơn với việc
chỉ phát triển quanh một vài chức năng quan trọng.
Tính đến hết tháng 09/2011, ở nước ta đã có 130 Mạng xã hội được cơ quan
có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận cung cấp dịch vụ, trong đó có một số mạng nổi
hơn cả như: ZingMe, Go.vn, Yume, Tamtay, Cyber World… Dưới đây là bảng
thống kê tỉ lệ người dùng Mạng xã hội ở Việt Nam tháng 12/2010 do Google Ad
Planner công bố
[103]
:
Cột xanh là số người sử dụng, dựa trên bảng số liệu thì Zing Me dẫn đầu với
4.6 triệu. Yahoo, Facebook, và Yume đang bám sát ở khoảng cách không xa.
Đường đỏ là số phút sử dụng trên mỗi Mạng xã hội mỗi tháng, tính bằng số lượt sử
dụng nhân với số phút của mỗi lượt. Theo đó, chúng ta có thể thấy ba Mạng xã hội
thế hệ mới là Zing Me, Facebook, và Go.vn có số phút sử dụng rất cao đối với mỗi
người dùng, nổi bật là Zing Me với hơn 1 tỉ phút và Facebook với 880 triệu phút.
14
Ba Mạng xã hội thế hệ đầu là Yahoo, Yume và TamTay có số phút sử dụng tương
đối thấp.
Với hơn 29 triệu người sử dụng Internet (số liệu tháng 6/2011-VNNIC),
Mạng xã hội ở Việt Nam là một thị trường màu mỡ. Báo cáo NetCitizens Việt Nam
2011 của hãng nghiên cứu thị trường Cimigo, gần một nửa số người sử dụng
Ưu thế lớn nhất của các Mạng xã hội Việt Nam chính là yếu tố gần gũi, thân
thiện và đa tiện ích với người dùng. Giao diện hoàn toàn được Việt hóa, đường
truyền tốt, nhiều chức năng hấp dẫn như blog, photo album, game mini Việt Nam,
trắc nghiệm… là những ưu điểm thấy rõ của của Mạng xã hội Việt Nam vào thời
điểm này.
Tuy nhiên, phải thừa nhận, nhìn chung, những mạng xã hội ở Việt Nam đều
là “bản sao chưa hoàn chỉnh” của các trang web nổi tiếng như MySpace, Flickr,
Facebook hay Youtube. YoBanbe bắt chước gần như nguyên vẹn kiểu thiết kế và
cấu trúc của Yahoo!360
0
giúp người dùng dễ sử dụng nhưng những ai đã sử dụng
qua Yahoo!360
0
cảm giác chán YoBanbe là điều không tránh khỏi. Còn Cyworld,
mặc dù có phong cách riêng, mang đậm chất Hàn Quốc nhưng chỉ thu hút được
những ai yêu thích phim Hàn Quốc. Clip.vn có cách thức hoạt động như YouTube
nhưng hạn chế về bản quyền cũng như số lượng người sử dụng có may quay video.
Việc sao chép phong cách, tính năng như các blog, Mạng xã hội ảo nổi tiếng
thế giới khiến cho các Mạng xã hội ảo Việt Nam mất đi bản sắc riêng của mình.
Thêm vào đó, các tính năng mới cũng như các sự kiện được tổ chức chưa nhiều và
không mới. Đó là một trong những nguyên nhân tất yếu dẫn đến việc số lượng các
thành viên tham gia tăng đột biến nhưng sau đó bắt đầu giảm dần.
Theo các chuyên gia Mạng xã hội, nhìn thấy tiềm năng, nhiều công ty đã tạo
ra các Mạng xã hội khác nhau theo trào lưu. Nhưng hầu hết còn thiếu trình độ công
nghệ, thiếu vốn đầu tư dài hơi, thiếu tầm nhìn và chưa hiểu văn hóa, đời sống xã hội
Việt Nam sâu sắc nên dẫn đến “chết yểu”. “Người dùng ban đầu háo hức tham gia
nhưng có thể không lưu lại. Song ngay cả khi họ ở lại, thì số lượng đó không giúp
Mạng xã hội phát triển lên được. Do vậy, Zing Me dậm chân ở mức 500- 600 triệu
trang xem, Go.vn ở mức 200-300 triệu, Yume ở mức 20- 30 triệu thua xa so với 1
Facebook hay bị lỗi kỹ thuật, truy cập khó, với hơn 1 tỷ trang xem ở ngay sân nhà
Cũng giống như khả năng đa phương tiện của Internet, Mạng xã hội có sự
kết hợp chặt chẽ, hài hòa các yếu tố chữ viết, âm thanh, hình ảnh, màu sắc, đồ họa,
hình khối… Mạng xã hội hoạt động dựa trên nguyên lý hoạt động của Web 2.0 với
rất nhiều ứng dụng và tiện ích. Chỉ cần những thủ tục đăng ký đơn giản, mỗi người
sử dụng Internet đều có thể sở hữu một khoảng không gian riêng trên Mạng xã
17
hội.
[36]
Ở đó, họ có thể xây dựng một “ngôi nhà” riêng cho mình. Sau đó, người
dùng có thể chia sẻ thông tin cá nhân cũng như mọi vấn đề mà mình yêu thích và
quan tâm. Tùy theo tiện ích và dịch vụ mà các website Mạng xã hội cung cấp, người
dùng có thể chia sẻ những bài hát, những bộ phim, các đoạn video của bản thân
mình hoặc của người khác tùy vào sở thích cá nhân.
Tính đa phương tiện của Mạng xã hội còn cho phép người dùng xây dựng
thư viện ảnh riêng cho mình, có thể gửi tin nhắn và chat với bạn bè, có thể nghe
nhạc và chơi các trò chơi. Cuối cùng, người sử dụng có thể tạo dựng các mối quan
hệ mới trong xã hội ảo, bằng cách tìm ra những đặc điểm chung, những người có
cùng sở thích, cùng các mối quan tâm, qua hệ thống tìm kiếm trên website Mạng xã
hội.
1.3.1.3. Tính tương tác
Mạng xã hội giờ đây trở thành một điều không thể thiếu của mỗi người.
Mạng xã hội kết nối mọi người với nhau. Việc kết nối giữa mọi người đã tạo ra tính
tương tác, sự tương tác đó là sự trao đổi ý kiến lẫn nhau của những người cùng
tham gia Mạng xã hội. Tính tương tác của Mạng xã hội được thể hiện rất rõ thông
qua việc thông tin được truyền đi và ngay sau đó đã được sự phản hồi từ phía người
nhận.
1.3.1.4. Khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ
Tất cả các mạng đều có những ứng dụng gần giống nhau như có thể viết bài,
tải video, đăng một bức ảnh… Nhưng mỗi một Mạng xã hội đều có khả năng đăng
xã hội đều có tính năng tạo nhóm – những người cùng cơ quan, cùng lớp, cùng
chung sở thích hay niềm đam mê nào đó có thể kết nối với nhau tại một nhóm. Đó
có thể là nhóm của những người đam mê đá bóng, nhóm nhân viên cùng công ty,
hoặc hội đồng hương… Những thông tin bạn chia sẻ trong nhóm sẽ được mọi người
dễ dàng hiểu và đón nhận nó nhiệt tình hơn. Mục đích chính của chức năng này là
phân loại người dùng vào nhiều lĩnh vực khác nhau để tiện quản lý. Hiện tại có ba
loại nhóm chủ yếu trên các Mạng xã hội, đó là nhóm mở, nhóm đóng và nhóm bí
mật. Thuận tiện khi chia sẻ thông tin, dễ dàng trong các cuộc tranh luận… là những
lợi ích chỉ khi gia nhập nhóm bạn mới thấy được. Hiện nay tính năng này đang rất
19
được người dùng Mạng xã hội ưa chuộng, và trở thành một phần không thể thiếu
trong cộng đồng mạng.
1.3.2.3. Tìm kiếm
Các cá nhân mở một tài khoản và tham gia một Mạng xã hội phần nhiều với
mục đích để tìm bạn bè và mở rộng các mối quan hệ của mình. Vậy nên, các trang
Mạng xã hội còn cho phép các thành viên có thể tìm kiếm các thành viên khác trong
một môi trường an toàn và dễ sử dụng. Chức năng tìm kiếm thông thường bao gồm
tìm kiếm theo tên, thành phố, trường học và địa chỉ email. Ví như Facebook, muốn
tìm kiếm một tài khoản nào đó, chỉ cần đánh tên chủ tài khoản, hoặc nhập một địa
chỉ email có thực của người cần tìm, trang mạng sẽ hiện một loạt danh sách những
khả năng gần và liên quan, rất dễ dàng và thuận tiện khi sử dụng tính năng này.
1.3.2.4. An ninh và chế độ bảo mật
Internet có thể là một nơi không mấy an toàn để đăng tải những thông tin cá
nhân của một ai đó. Vậy nên, tất cả các Mạng xã hội đều cung cấp các khả năng
thiết lập cấu hình để người dùng có thể bảo mật những thông tin liên quan đến
mình, nếu thấy cần thiết. Ngoài ra, các Mạng xã hội hiện nay đều cung cấp tính
năng báo cáo và ngăn chặn người sử dụng, nếu thấy những dấu hiệu bất thường,
không hợp lý, ảnh hưởng đến hoạt động của mạng lưới nói chung và cá nhân một
1.4.3. Nội dung làm trung tâm (Content centric): Đặc điểm chung của
mạng loại này là nhằm trưng bày nội dung do mình hoặc nhóm của mình tạo ra cho
bạn bè và công chúng (bài viết, ảnh, video ). Một số trang thuộc dạng này như:
Opera (phổ biến ở Việt Nam), LiveSpace (phổ biến ở châu Âu), Yahoo!360
0
(phần
My Page). Loại này giúp dàn trang dễ dàng, có các tính năng cần thiết giúp người
dùng chia sẻ mọi loại nội dung, ngoài ra có một phần kết nối bạn bè và giao tiếp.
Ba dạng mạng trên chỉ là dạng cơ bản, còn rất nhiều loại Mạng xã hội khác là
sự pha trộn giữa các loại này, cũng như nhắm các mạng chuyên biệt cho từng mảng
nội dung, công nghệ, đối tượng
1.5. Mối quan hệ giữa Mạng xã hội và báo chí
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, Mạng xã hội là một hiện tượng
với những đặc trưng cực nhanh, cực rộng và phạm vi tương tác đa chiều không phân
biệt thời gian và không gian, đang tác động mạnh mẽ tới toàn xã hội, trong đó có
báo chí. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để Mạng xã hội và báo chí hỗ trợ nhau, phát
21
huy tác dụng lẫn nhau, cùng phục vụ đời sống xã hội ngày càng hiệu quả, chất
lượng hơn.
Đối với báo chí, bên cạnh những kênh truyền thống, thực tế Mạng xã hội
đang có vai trò quan trọng:
Một là, Mạng xã hội đang là nơi cung cấp thông tin, đề tài một cách rộng rãi
giúp các nhà báo chuyên nghiệp cũng như không chuyên nghiệp nhận diện, phát
hiện được những vấn đề đang nổi lên, đang diễn ra, sau khi đã thẩm định độ chính
xác của nó rồi sử dụng cho những bài báo của mình phục vụ công chúng. Ta đã
thấy, thời gian qua, rất nhiều sự việc tung lên Mạng xã hội, cư dân mạng bàn tán
xôn xao về những vấn đề này, các cơ quan báo chí kịp thời xác minh và có nhiều
bài viết phê phán những hành động tiêu cực, động viên khích lệ, biểu dương những
hành vi tích cực góp phần làm thay đổi hành vi ứng xử giữa con người với con