ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ƯNG SƠN CA
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ
CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
(KHẢO SÁT TRÊN MỘT SỐ TỜ BÁO IN TỪ NĂM 2002 ĐẾN 2004) LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01
3.4 Vấn đề quyền tự chủ ở trường đại học 36
3.5 Đội ngũ nhà giáo, nhà nghiên cứu 37
3.6 Vấn đề ngân sách cho đào tạo và cơ sở vật chất 38
3.7Chương trình đào tạo còn bất cập 39
3.8 Phương pháp đào tạo, hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ
học tập 40
3.9 Vấn đề quản lý, tổ chức đào tạo 42
Tiểu kết chương I 43
CHƯƠNG II: THÔNG TIN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRÊN BÁO
CHÍ TRONG NHỮNG NĂM 2002 – 2004
1. Một số đặc điểm chung về nội dung thông tin giáo dục đại học
trên báo chí 45
2. Thông tin về tuyển sinh vào đại học 51
3. Thông tin các vấn nạn, tiêu cực trong giáo dục đại học 58
4. Thông tin những thành tựu, điển hình tích cực trong giáo dục
đại học 66
5. Những ý kiến, góp ý để cải cách giáo dục đại học 69
Tiểu kết chương II 71
CHƯƠNG III: VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CẢI
CÁCH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1. Tác động của báo chí đối với việc xây dựng các chính sách giáo
dục đại học 73
2. Tác động của báo chí đối với công cuộc cải cách nền giáo dục
đại học. 76
3. Tác động của báo chí đối với người dạy và người học 80
3.1 Đối với các nhà quản lý giáo dục đại học 80
3.2Đối với những người làm công tác giảng dạy 83
3.3 Đối với những người học 84
4. Kiến nghị những định hướng cho thông tin giáo dục đại học
trong thời gian tới 86
XH : Xã hội
SGGP : Sài gòn giải phóng
HSSV : Học sinh sinh viên
VN : Việt Nam
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục đào tạo là vấn đề mà nhiều quốc gia trên thế giới coi
trọng. Bởi vì bất cứ quốc gia nào muốn phát triển cũng phải dựa vào
nguồn lực chủ yếu là con người. Xã hội ngày càng phát triển, những đòi
hỏi về nguồn nhân lực ngày càng cao đặc biệt là những đòi hỏi về trình
độ và năng lực của nguồn nhân lực.
Ở Việt Nam, Luật giáo dục khẳng định: “giáo dục là quốc sách
hàng đầu”. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh từng nhấn mạnh: “Sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa với việc đặt giáo dục là gốc cho đại kế trăm năm, coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu, đòi hỏi ở chúng ta nhiều cố gắng lớn lao hơn nữa.
Giáo dục phải không ngừng phát triển theo hứơng chuẩn hoá, hiện đại
hóa và xã hội hóa”. Vấn đề giáo dục đào tạo Việt Nam trong thời gian
gần đây nổi lên nhiều sự kiện và thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp
trong xã hội. Nhiều sự kiện trong lĩnh vực giáo dục đào tạo được các
phương tiện thông tin đại chúng đưa tin và được xã hội quan tâm, theo
dõi, bàn bạc cũng như đặt ra những yêu cầu giải quyết. Có thể khẳng
định chưa bao giờ giáo dục đào tạo nước ta có nhiều vấn đề được toàn xã
hội quan tâm như thời gian 5 năm trở lại đây.
Giáo dục đại học là một nội dung mà báo chí đặc biệt quan tâm
trong quá trình thông tin về giáo dục đào tạo nói chung. Ở thế kỷ XXI,
GDĐH đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi to lớn trên các
GDĐH ở Việt Nam là một việc làm cần thiết nhằm phát huy hơn vai trò
của báo chí đồng thời rút được những kinh nghiệm, định hướng tốt hơn
cho báo chí trong những thông tin về giáo dục nói chung và GDĐH nói
riêng. 3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có một số khóa luận tốt nghiệp, một số luận văn nghiên cứu về
giáo dục đào tạo Việt Nam, về những góc độ tác động của báo chí đến
lĩnh vực giáo dục nói chung nhưng nghiên cứu về vai trò của báo chí đối
với riêng vấn đề cải cách giáo dục đại học thì đây là công trình đầu tiên.
Thực hiện đề tài này chúng tôi có kế thừa, rút kinh nghiệm từ các
đề tài đã nghiên cứu và tìm hiểu về thông tin giáo dục trên báo chí để có
được những nhận xét tổng quát nhất. Luận văn cũng mong có những
đóng góp thiết thực và những kết quả nghiên cứu là mới mẻ tuy nhiên do
thời gian và khả năng của người nghiên cứu có hạn nên chắc chắn không
tránh những thiếu sót. Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được những góp ý để
kết quả công trình hòan thiện hơn và cũng mong sẽ có những người quan
tâm đến thông tin giáo dục đại học trên báo chí tiếp tục nghiên cứu bổ
sung để vấn đề có được cái nhìn tòan diện hơn.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
GDĐH Việt Nam có một tầm quan trọng đối với công cuộc phát
triển đất nước. Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo dễ nhận thấy GDĐH
có vai trò đi đầu, hướng dẫn vì đó là nơi tiếp cận tri thức ở mức cao nhất,
là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước, cũng là nơi
đào tạo nhà giáo cho các bậc học thấp hơn. GDĐH có tác động càng
mạnh mẽ hơn đối với sự phát triển xã hội loài người ở giai đọan hiện nay
khi khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, kinh tế tri thức đang hình
Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến những thông tin GDĐH
trên các báo trong thời gian từ 2004 đến 2006 để đảm bảo tính liên tục,
xuyên suốt cũng như tính thời sự của vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5
Luận văn dựa trên những nguyên tắc phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí để nghiên cứu
vai trò cải cách GDĐH của báo chí.
Bên cạnh đó, để hòan thành công trình nghiên cứu này chúng tôi
cũng sử dụng những phương pháp như: sưu tầm, thống kê, phân tích,
phân loại, so sánh, tổng hợp và điều tra xã hội học. Từ những phương
pháp trên, chúng tôi viết luận văn.
Để có những quyết sách quan trọng về tình hình GDĐH, các cơ
quan ban ngành phải nghiên cứu, tham khảo các nước phát triển, dựa vào
thực tế trong nước đồng thời tham khảo ý kiến của nhân dân. Trong
nhiều năm qua, GDĐH đã có những bước phát triển về quy mô, chất
lượng, đa dạng các loại hình đào tạo và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và
nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên so GDĐH trong khu vực và trên thế
giới, GDĐH nước ta còn nhiều bất cập. Đã đến lúc chúng ta cần canh tân
nền GDĐH. Vai trò quan trọng nhất của báo chí là không chỉ thông tin
về tình hình GDĐH báo chí còn phải dự báo, định hướng và đề xuất
những giải pháp nhằm xây dựng một nền GDĐH tiến bộ, hiện đại, đáp
ứng được yêu cầu của đất nước trong quá trình hội nhập với thế giới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương
nội dung và phần phụ lục.
Chƣơng I: Thực trạng Giáo dục đại học Việt Nam
đề giáo dục
- Một vài số liệu thống kê về giáo dục đại học Việt Nam từ 2000
đến 2005
- Một số bài báo viết về giáo dục đại học
7
CHƢƠNG I:
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
1. Giới thiệu chung về giáo dục đào tạo và vai trò của giáo dục đào
tạo ở Việt Nam
Luật giáo dục Việt Nam khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”. Giáo dục đào tạo có ý
nghĩa quan trọng không chỉ riêng với Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào
cũng vậy, muốn đất nước phát triển thì phải dựa vào nguồn lực chủ yếu
là con người.
Các tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và nhiệm vụ phát triển giáo dục
trong thời kỳ đầy mạnh CNH – HĐH đã được xác định trong các văn
kiện của Đảng như sau:
* Về mục tiêu:
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
*Về quan điểm chỉ đạo:
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục là sự nghiệp
của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Phát triển giáo dục theo
người dân Việt Nam lại được đánh giá là có mức sống cao nhờ vào tỷ lệ
gần 94% dân cư từ 15 tuổi trở lên biết chữ. Nhờ vào những thành tựu
của giáo dục và các lĩnh vực khác của xã hội mà chỉ số phát triển con
người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của chương trình phát triển
Liên hiệp quốc (UNDP) những năm gần đây có nhiều tiến bộ đáng kể: từ
0.456 – xếp 121 – tăng lên 0,682 – xếp 101/174 nước. So với chỉ số phát
triển kinh tế (GDP/người) HDI vượt lên 19 bậc.
9
Khi nói về vai trò của giáo dục đào tạo, chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người”. Sự nghiệp trồng người là sự nghiệp hàng đầu, là quá trình lâu
dài và đòi hỏi phải có sự chung sức của toàn xã hội. CNH – HĐH là con
đường duy nhất đưa đất nước chúng ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu. Để
thực hiện tốt công cuộc này không có gì hữu hiệu hơn là đầu tư phát
triển con người. Cách đầu tư quan trọng nhất là đẩy mạnh phát triển GD
– ĐT.
Theo Luật Giáo dục hiện hành (Quốc hội thông qua tháng 6/2005)
hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay gồm:
- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.
- Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ
thông
- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
- Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại
học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ
tiến sĩ.
Trong quá trình hội nhập cùng thế giới, Việt Nam đang từng bước
chuyển mình, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn. Sự biến đổi
nào cũng bao hàm nhiều khó khăn và thử thách. Sự biến đổi trong lĩnh
vực GD - ĐT lại càng tạo ra nhiều thách thức lớn cho Đảng, Nhà nước
viết, số năm đi học trung bình của mỗi người là 7,3. Đây là một tỷ lệ cao
so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này cho thấy trình
độ dân trí của nước ta ngày càng được nâng cao. Nếu so với hơn 80%
dân số mù chữ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, thì đây là một kết
quả to lớn, thể hiện sự cố gắng của toàn Đảng, toàn dân ta. Đây cũng là
một thắng lợi quan trọng của nhân dân cả nước trong công cuộc đẩy lùi
giặc dốt.
Hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay đã bao gồm đủ các
cấp học, bậc học, ngành học và phương thức giáo dục. Ngoài hệ thống
11
các trường công lập còn có hệ thống các trường ngoài công lập bao gồm:
bán công, tư thực và dân lập từ mầm non tới đại học. Phương thức giáo
dục bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy. Bên cạnh
hệ thống các trường lớp chính quy, ở tất cả các địa phương đều phát triển
hệ thống các trung tâm, các cơ sở giáo dục không chính quy thực hiện
nhiệm vụ giáo dục thường xuyên cho mọi người, đáp ứng nhu cầu được
học, được đào tạo đa dạng của người học từ xoá mù chữ, nâng cao trình
độ kiến thức cho đến học nghề, học ngoại ngữ và tin học.
Về quy mô của GDĐH nói riêng số lượng sinh viên tăng lên đáng
kể. Đã có những cố gắng điều chỉnh cơ cấu trình độ đào tạo nhằm khắc
phục tình trạng mất cân đối giữa các bậc đào tạo. Số lượng các cơ sở
giáo dục CĐ – ĐH tăng lên ở các vùng Tây Bắc, đồng bằng Sông Cửu
Long. Những nỗ lực đa dạng hóa về loại hình đã khắc phục một bước sự
bất hợp lý về mạng lưới. Tuy nhiên quy mô phát triển giáo dục đại học
hiện nay vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu học đại học quá lớn trong
cả nước. Yêu cầu phát triển quy mô đại học, cao đẳng theo vùng miền,
theo cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực chưa được thực hiện một cách chủ
động và có tầm chiến lược. Chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực trình
độ cao của thị trường lao động.
Hiện nay cả nước vẫn còn khoảng 6% dân số mù chữ. Hiện tượng
tái mù chữ, nhất là đối với người dân vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân
tộc thiểu số đang ngày càng phổ biến. Trong số những người biết chữ thì
còn khá đông những người chỉ mới dừng lại ở trình độ biết đọc, biết viết
chứ chưa có trình độ cấp học nào, chưa qua trường lớp đào tạo bài bản
mà chỉ là thông qua các lớp học xóa mù chữ ngắn hạn, lớp học tình
thương… Đây là một hiện tượng đáng báo động và không có lợi trong
việc nâng cao trình độ dân trí nước ta. Việc phổ cập tiểu học vẫn chưa
thực sự đều khắp trên cả nước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa đạt tới
20% cũng không phải là một kết quả có thể hài lòng được. Nền kinh tế
quốc dân vẫn còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề, trình độ
nghiệp vụ cao.
1
Phỏng vấn GS.Viện sĩ. Vũ Tuyên Hoàng, báo GD&TĐ số 88, ngày 22/07/2004
13
Cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng
của đội ngũ học sinh, sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp
chưa hợp lí. Thực tế cho thấy nhiều ngành nghề cần thiết cho sự phát
triển của đất nước lại có quá ít học sinh, sinh viên theo học như: quan hệ
quốc tế, giáo dục học, sư phạm… Đa phần học sinh, sinh viên chọn
những ngành nghề dễ tìm được việc làm và có thu nhập cao như: công
nghệ thông tin, kinh tế, bưu chính viễn thông… Việc công tác trái ngành
nghề được đào tạo cũng ngày một phổ biến. Báo Sài gòn giải phóng
ngày 29/02/2003 đã đưa ra một con số khiến không ít người phải nhìn
lại: chỉ có 30% sinh viên tốt nghiệp làm việc đúng ngành nghề.
2
Giáo dục chuyên nghiệp nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật có lúc
Việc suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực
dụng, thiếu hoài bão lập thân, không có chí tiến thủ… đang trở thành
những hiện tượng đáng báo động trong học sinh, sinh viên. Những biểu
hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia
tăng. Thời gian qua, các vấn nạn trong giáo dục trở nên công khai và
tăng nhanh mặc dù các cơ quan chức năng đã tìm mọi cách ngăn chặn.
Việc dạy thêm, học thêm tràn lan với những tiêu cực đằng sau là làm mất
thời gian và tiền bạc của học sinh, sinh viên, ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển tòan diện, nhất là tạo những suy nghĩ lệch lạc về giáo dục đối với
thế hệ trẻ. Đồng thời vấn nạn này cũng làm giảm đi sự tôn kính người
thầy, làm mờ nhạt dần quan hệ thầy, trò và truyền thống “tôn sư trọng
đạo” của dân tộc ta.
Việc mua bán điểm, mua bán bằng cấp cũng không phải khó bắt
gặp. Hiện tượng thi thuê gia tăng với nhiều biến tướng tinh vi. Nhiều
trường tăng quy mô tuyển sinh vượt quá quy mô đào tạo, mở nhiều lớp
tại chức ở các địa phương mà không thực hiện đúng quy chế, đúng
chương trình, không đảm bảo chất lượng đào tạo.
Cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục Việt Nam vẫn còn thô sơ và
lạc hậu. Nhiều ngôi trường xây không đảm bảo chất lượng khiến thầy trò
vừa học vừa lo sợ. Trang thiết bị giảng dạy nghèo nàn,chỉ mang tính
15
tượng trưng, thậm chí có trường không hề có bất cứ một dụng cụ hỗ trợ
giảng dạy nào.
Một thực trạng đáng báo động khác là đội ngũ giáo viên chưa đáp
ứng được nhu cầu phát triển của GD – ĐT trong giai đoạn mới.Ở nhiều
nơi giáo viên có khi không hề được đào tạo qua ngành sư phạm, hoặc
giảng dạy vượt cấp đã được đào tạo Ở bậc đại học, tỉ lệ giảng viên có
trình độ sau đại học còn rất thấp. Năm học 2002 – 2003, bậc đại học cả
nước chỉ có 16 047 giảng viên có trình độ sau đại học (chiếm khoảng
nhân văn, giáo dục thể chất, thẩm mỹ bị xem nhẹ. Giáo dục chưa kết hợp
chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn với gia đình và xã
hội. Hoạt động giáo dục chưa gắn bó mật thiết với các họat động sản
xuất và nghiên cứu khoa học. Gia đình cũng như các tổ chức xã hội chưa
phát huy vai trò mới trong giáo dục, nhất là về chính trị, đạo đức, đấu
tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội và các biểu hiện tiêu cực trong nhà
trường do cơ chế thị trường mang lại.
Hiện nay, nền GD - ĐT nước ta đang đứng trước thử thách lớn
với mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh quy mô cả về chất và
lượng, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn
chế. Đây là mâu thuẫn chung của quá trình phát triển. Những thiếu sót
chủ quan, những yếu kém về quản lí đã làm cho mâu thuẫn đó ngày càng
gay gắt. Những khó khăn trên đòi hỏi phải được giải quyết một cách triệt
để để tạo động lực cho nền GD - ĐT nước ta phát triển. Việc giải quyết
các vấn đề ấy không thể một sớm một chiều, cũng không phải là nhiệm
vụ của riêng một tổ chức, cá nhân nào. Đó là nhiệm vụ chung của cả dân
tộc, và cần một quá trình lâu dài, kiên trì, không ngừng phấn đấu. Giải
quyết những vấn đề trên không chỉ giúp nền GD - ĐT nước ta phát triển
mà còn khẳng định được năng lực của những người đứng đầu ngành
cũng như sức mạnh của dân tộc ta trong thời đại mới. 17
1.3 Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010
Trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục
của Đảng và thực hiện Luật giáo dục (1998), Chính phủ đã xây dựng và
chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển giai đoạn 2001 – 2010 với tư
tưởng chủ đạo là: “ khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp
tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ; tạo cơ sở để nâng cao rõ
rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp công
đức, lối sống cho người học.
Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên
cơ sở đảm bảo chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo,
gắn đào tạo với yếu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đào
tạo với sử dụng.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, có chính
sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo
và các đối tượng chính sách xã hội. Ưu tiên phát triển
giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số.
Mục tiêu phát triển giáo dục đại học và sau đại học:
- Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ
cấu kinh tế xã hội của thời kỳ CNH – HĐH, nâng cao năng lực cạnh
tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo
điều kiện thuận lợi để mở rộng giáo dục đại học qua việc đa dạng hóa
chương trình đào tạo trên cơ sở xây dựng một hệ thống liên thông phù
hợp với cơ cấu nguồn nhân lực cả về trình độ, ngành nghề cũng như
vùng miền. Tăng cường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội,
năng lực tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác.
- Từng bước mở rộng quy mô giáo dục đại học để đáp ứng nhu
cầu nhân lực có trình độ cao của các ngành kinh tế – xã hội và nhu cầu
học tập, nâng cao trình độ học vấn của các tầng lớp nhân dân. Phát triển
19
các trường cao đẳng cộng đồng và xây dựng mô hình đại học ngắn hạn
để tạo cơ hội cho nhiều người học đại học, cao đẳng. Tập trung đầu tư
xây dựng một số trường đại học, trường dạy nghề có chất lượng, một số
ngành mũi nhọn đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực. Tăng
quy mô tuyển sinh đại học với tỷ lệ 10%/năm trong các năm tới. Nâng tỷ
lệ sinh viên trên 1 vạn dân từ 125 trong năm học 2003 – 2004 lên 200
bị dạy học nên chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng đã có sự cải
thiện bước đầu. Sinh viên được tiếp cận với một số lĩnh vực kiến thức
hiện đại thuộc ngành nghề được đào tạo, có thêm điều kiện để từng bước
làm chủ công nghệ thông tin và ngoại ngữ, phục vụ cho học tập và làm
việc sau này. Trình độ kiến thức và kỹ năng một bộ phận sinh viên ở các
khoa, lớp kỹ sư đặc biệt là cử nhân tài năng của một số trường đại học
được nâng lên rõ rệt… Chất lượng đào tạo của một số trường Đại học
lớn, có truyền thống được giữ vững.
- Kết quả khảo sát của Hội đồng Quốc gia giáo dục thực hiện năm
2002 cho thấy:
Đối với cán bộ có trình độ tiến sĩ
+ Về chuyên môn: có 71% thuộc loại tốt, 25% thuộc loại khá, 4% thuộc
loại trung bình.
+ Về tinh thần trách nhiệm: có 75% thuộc loại tốt, 22% loại khá và 3%
thuộc loại trung bình
Đối với cán bộ có trình độ thạc sĩ
+ Về chuyên môn: có 83% thuộc loại tốt, 14% thuộc loại khá, 3% thuộc
loại trung bình.
+ Về tinh thần trách nhiệm: có 75% thuộc loại tốt, 22% loại khá và 3%
thuộc loại trung bình
Đối với cán bộ có trình độ đại học
+ Về chuyên môn: có 57% thuộc loại tốt, 29% thuộc loại khá, 11% thuộc
loại trung bình và 3% loại yếu
21
+ Về tinh thần trách nhiệm: có 64% thuộc loại tốt, 26% loại khá và 8%
thuộc loại trung bình và 2% loại yếu
Đối với cán bộ có trình độ cao đẳng
+ Về chuyên môn: có 49% thuộc loại tốt, 41% thuộc loại khá, 8% thuộc
loại trung bình và 2% loại kém