ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
ĐỖ QUYẾT THẮNG
VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
CỦA NGƯỜI LÀM BÁO
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH - 2006
3
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
5
1. Tính cấp thiết của đề tài
5
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
6
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
7
4. Đối tượng, phương pháp, phạm vi nghiên cứu
8
5. Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
9
6. Kết cấu của luận văn
10
Chƣơng I: Đạo đức nghề nghiệp của ngƣời làm báo cách mạng Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới – một số vấn đề lý luận 1.1 Quan điểm Mác xít về mối quan hệ đạo đức với kinh tế
11
1.1.1 Mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế là mối quan hệ giữa kiến trúc
thượng tầng và cơ sở hạ tầng.
12
1.1.2. Các chức năng của đạo đức theo quan điểm Mác xít
16
2.1.3 Những đóng góp của báo chí và đội ngũ làm báo cách mạng tới quá
trình đổi mới
57
2.1.4 Những tác động cơ bản của thời kỳ đổi mới tới đạo đức nghề nghiệp
người làm báo cách mạng.
61
2.2. Nhận dạng những biểu hiện tiêu cực trong đạo đức nghề nghiệp của
người làm báo trong thời kỳ đổi mới.
73
2.2.1 Tiêu cực trong mối quan hệ với Tổ quốc, với nhân dân
75
2.2.2. Tiêu cực trong mối quan hệ với công việc của mình
80
2.2.3. Tiêu cực trong các mối quan hệ xã hội khác.
91
Chƣơng III. Những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao đạo đức nghề
nghiệp của ngƣời làm báo Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
3.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề đạo đức nghề
nghiệp người làm báo cách mạng trong thời kỳ đổi mới
98
3.2. Một số giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp của người làm báo
cách mạng trong thời kỳ đổi mới.
108
3.2.1. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với người làm báo
108
3.2.2. Luôn học tập, bồi dưỡng, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp của người
làm báo cách mạng
Nhà nước ta khởi xướng. Sau hai mươi năm, công cuộc đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng về mọi
mặt đạt được nhiều thành tựu. Những thành tựu đó đã và đang tạo nên thế và
lực mới để nhân dân ta tiếp tục phấn đấu vươn lên thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để đạt được những
thành tựu quan trọng đó, Đảng ta đã chủ động phát huy toàn bộ các nguồn lực
trong quần chúng nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới. Một trong các nguồn
lực đó chính là báo chí cách mạng Việt Nam.
Báo chí cách mạng Việt Nam là một lực lượng giữ vai trò quan trọng
trên mặt trận tư tưởng văn hóa của Đảng. Trong sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ
nghĩa, nhất là trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Trong 20 năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam luôn thể hiện vai trò là vũ khí
sắc bén trong tuyên truyền, tập hợp, tổ chức, giáo dục và vận động nhân dân
tiến hành thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Trong khoảng thời gian đó, hoạt
động của hệ thống báo chí Việt Nam cũng trở nên đa dạng và thay đổi một
cách nhanh chóng. Là một loại hàng hoá đặc biệt, báo chí có nhiệm vụ truyền
bá các tư tưởng, tri thức, mang đến cho độc giả những thông tin về mọi mặt:
6
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Báo chí còn là người hướng dẫn công
chúng nước ta đi theo con đường chính trị của Đảng và Nhà nước, phục vụ
mục tiêu phát triển đất nước. Trong những năm gần đây, đội ngũ người làm
báo đã đóng góp một công sức không nhỏ trong việc tuyên truyền chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước ta tới nhân dân, cổ vũ các nhân tố mới, phát
hiện và đấu tranh với những tiêu cực, góp phần hoàn chỉnh các chủ trương
chính sách của Nhà nước, góp phần làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân ta.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta không
phải chỉ có mặt tích cực, nó cũng có những mặt trái tác động tới các lĩnh vực
học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh).
Nhìn chung, các chuyên đề, công trình này đã có nhiều đóng góp, đề
cập khá toàn diện và phân tích khá sâu về từng mặt của vấn đề đạo đức nghề
nghiệp của người làm báo Việt Nam. Kế thừa những thành quả nghiên cứu của
các công tình khoa học này, tác giả tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và
thực tiễn đạo đức nghề nghiệp người làm báo gắn với điều kiện của đất nước
ta trong thời kỳ đổi mới, nhất là phân tích những tác động qua lại của nền
kinh tế thị trường đối với vấn đề này. Qua đó đưa ra những kiến nghị đóng
góp các giải pháp thiết thực để nâng cao đạo đức nghề nghiệp của người làm
báo Việt Nam .
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu một cách hệ thống về các vấn đề
lý luận và thực tiễn đối với đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới của cách mạng Việt Nam, tức là vấn đề đạo đức nghề
nghiệp của người làm báo chí cách mạng ở trong thời kỳ từ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1986) cho tới những năm gần đây, đặc biệt là xem xét những
8
tác động tích cực và tiêu cực của cơ chế thị trường tới vấn đề này. Qua đó đưa
ra một số giải pháp và xây dựng một cơ chế có hiệu quả hạn chế các tiêu cực,
nâng cao đạo đức nghề nghiệp của người làm báo cách mạng Việt Nam hiện
nay.
Từ mục đích trên, tác giả luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề
sau:
- Nghiên cứu về mặt lý luận, những cơ sở khoa học của vấn đề đạo
đức nghề nghiệp người làm báo cách mạng Việt Nam gắn với thời kỳ đổi mới
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo của Đảng, các chính sách của
Nhà nước và nhiệm vụ của cơ quan có trách nhiệm quản lý đội ngũ người làm
báo về vấn đề này trong khoảng thời gian từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần
Nghiên cứu hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý báo chí về các
tiêu chuẩn đạo đức của người làm báo cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới
Phân tích thực trạng, rút ra nguyên nhân, từ đó đề xuất thêm một số giải
pháp và kiến nghị thiết thực góp phần nâng cao đạo đức nghề nghiệp của
người làm báo cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Kết quả của luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh
đạo, những người có quan tâm đến vấn đề này, đóng góp thêm cho giáo trình
của chuyên đề đạo đức nghề nghiệp người làm báo giảng dạy cho các sinh
viên chuyên ngành báo chí, nêu một số kiến nghị thiết thực để giúp các cơ
quan lãnh đạo, quản lý báo chí giải quyết vấn đề một cách mạnh mẽ và hiệu
quả. 10
6. Kết cấu luận văn:
Luận văn bao gồm: phần Mở đầu, 3 Chương, Kết luận và Danh mục tài
liệu tham khảo.
- Chương I. Đạo đức nghề nghiệp của người làm báo cách mạng
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới – Một số vấn đề lý luận
- Chương II. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của người làm báo
nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
- Chương III. Những quan điểm giải pháp nhằm nâng cao phẩm
chất đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ người làm báo cách mạng Việt Nam .
là: “Phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã
hội.”[34.595].
Xã hội nào cũng đề ra các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực làm tiêu
chuẩn cho hoạt động của cá nhân và các cộng đồng người, ngoài hình thức là
luật pháp nhằm trực tiếp điều chỉnh hành vi bằng các quy tắc, chuẩn mực có
các chế tài cưỡng chế và đảm bảo thực hiện thì còn có các chuẩn mực đạo
đức, nó là các nguyên tắc, chuẩn mực thường ở mức cao hơn, chung hơn
những quy định luật pháp mà ở đó con người tự giác điều chỉnh hành vi suy
nghĩ của mình vì lợi ích của tập thể và xã hội. Xã hội cộng sản nguyên thủy,
với kinh tế săn bắt hái lượm thì phù hợp với nó là một hệ thống chuẩn mực
đạo đức mang tính chất nguyên thủy, giản đơn, thiết thực cụ thể, mang đầy
tính trực quan sơ khai được tồn tại bằng các thói quen truyền thống và kinh
12
nghiệm. Những người nguyên thủy có tính thẳng thắn trung thực, kiên cường,
dũng cảm theo đúng nghĩa của nó trong những quan hệ giữa người với người
và với toàn bộ thị tộc. Trong các bộ lạc nguyên thủy, con người trong thị tộc
nhất thiết phải có tính công bằng thông cảm và tương trợ lẫn nhau. Tất cả
những gì có lợi cho cộng đồng thì được coi là điều thiện, có đạo đức và ngược
lại, những gì không có lợi cho cộng đồng đều bị coi là điều ác, không có đạo
đức và cần phải loại trừ. Vậy phải chăng trong xã hội nguyên thủy, đạo đức có
vai trò đặc bỉệt to lớn và chủ đạo trong việc điều chỉnh các hành vi của con
người ?. Nếu không có những chuẩn mực đạo đức giản dị đó thì người nguyên
thủy làm sao để vượt qua được những thử thách to lớn, chống lại được sức
mạnh của thiên nhiên, sự khan hiếm thức ăn, bệnh tật và những cuộc chiến
tranh giữa các bộ lạc, sắc tộc vì những nguyên nhân sinh học, tôn giáo?
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, sản xuất phát triển thêm một bước làm
cơ sở khách quan cho chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ra đời. Lần đầu tiên
trong lịch sử, loài người bị phân ra làm nhiều giai cấp mà trước hết là giai cấp
điển hình là chủ nô và nô lệ. Theo đó, về phương diện đạo đức, tính đối kháng
nghĩa. Nhưng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở chiếm hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất cũng mang lại sự tha hóa nghiêm trọng cho đạo đức xã hội.
Tình trạng suy đồi về đạo đức trong xã hội tư sản đã đưa đến tình trạng phản
tiến bộ của xã hội tư sản. Các yếu tố phủ định nó được tích lũy trong xã hội tư
sản để dần dần tiến lên một xã hội có sự phát triển cao hơn về kinh tế và đạo
đức.
Cách mạng vô sản nổ ra như một tất yếu để giải quyết sự mâu thuẫn đã
lên mức đối kháng của sự phát triển về lực lượng sản xuất đối với sự thụt lùi,
tha hóa của quan hệ sản xuất, của đạo đức xã hội. Quá trình đấu tranh cách
14
mạng đó dẫn đến sự ra đời và từng bước xác lập vị thế của một nền đạo đức
mới, đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Đây là thành quả phát triển cao của sự phát
triển câc hình thái đạo đức. Sự phát triển các nền đạo đức của xã hội biến đổi
từ trạng thái có đối kháng giai cấp, có sự bất bình đẳng, nô dịch áp bức bóc lột
giữa người và người chuyển sang nền đạo đức có sự bình đẳng, sự đoàn kết,
nương tựa giúp đợ lẫn nhau giữa người với người trong xã hội mới. Đạo đức
tư sản hình thành dựa trên sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân một cách vị kỷ,
kích thích những dục vọng thấp hèn, những bản năng “con” trong con người
thì đạo đức mới phát triển cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội,
hạn chế những dục vọng thấp hèn trong con người. Đạo đức cộng sản mới
nâng con người lên đúng vị trí làm người của mình.
Như vậy, xét từ quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, ta thấy rõ mối quan hệ
phụ thuộc giữa chúng diễn ra một cách biện chứng, trong đó kinh tế đóng vai
trò quyết định sự phát triển của đạo đức theo đúng các mối quan hệ mà chủ
nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ ra là quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã
hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng. C.Mac đã chỉ rõ phương
thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội,
chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức con người quyết định tồn
tại của họ, trái lại tồn tại của họ quyết định ý thức của họ. Lênin cũng nhấn
- Bản thân của đạo đức là tiến bộ hay lạc hậu: nếu đạo đức là tiến
bộ thì tác dụng của nó đối với hoạt động kinh tế là theo chiều hướng tích cực,
ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế.
- Đạo đức tác động vào quần chúng nhiều hay ít. Phải làm cho con
người có nhận thức đúng thì có hành động đúng, đạo đức tiến bộ là điều kiện
làm cho con người loại bỏ cái thấp hèn, hướng con người tới cái chân, thiện,
mỹ. Ý thức đạo đức khi thâm nhập sâu sắc vào quần chúng nhân dân thì sự tác
16
động mang tính tích cực càng trở nên hiệu quả đối với nền kinh tế - xã hội,
ngược lại nếu thâm nhập ít thì nó không tạo nên được phong trào quần chúng
- Đạo đức phụ thuộc vào khả năng giai cấp cầm quyền hiện thực
hóa tư tưởng, đường lối lãnh đạo và ý thức đạo đức của mình đối với xã hội,
đất nước đến đâu. Nếu giai cấp cầm quyền có tư tưởng tiến bộ, đường lối đúng
đắn thì giai cấp đó làm tròn nhiệm vụ, chức năng của mình, sẽ thúc đẩy tất cả
những tiềm năng về vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân vào công cuộc
xây dựng xã hội, đất nước phát triển hài hòa cả về vật chất lẫn tinh thần; còn
ngược lại sẽ là lực cản lớn trên con đường đi lên của xã hội.
1.1.2. Các chức năng của đạo đức theo quan điểm Mác xít
Đạo đức nảy sinh từ hoạt động kinh tế nhưng nó tác động trở lại kinh tế
và có vai trò nhất định trong đời sống xã hội. vai trò đó thể hiện ở các chức
năng chủ yếu sau:
- Chức năng nhận thức (Chức năng phản ánh); đạo đức là sự phản
ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội, nó giúp cho
con người nhận thức xã hội về phương diện đạo đức và giúp con người lĩnh
hội về tri thức đạo đức.
- Chức năng điều chỉnh hành vi: loài người đã sáng tạo ra nhiều
phương thức điều chỉnh mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã
hội: phong tục tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức … tất cả các phương
thức ấy đều có một thực chất là chỉ ra giới hạn được phép và không được phép
mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và đông nam, gây ra nhiều thiên
tai, hạn hán, mất mùa. Chính những đặc điểm này đã ảnh hưởng tới sự hình
thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự gắn bó cộng đồng bền chặt,
sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đặt nền móng cho tinh thần lao động cần cù,
tiết kiệm. Bên cạnh đó, do có nhiều tài nguyên thiên nhiên và là đầu mối giao
18
thông quốc tế quan trọng, nên Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều
quốc gia. Bởi vậy, muốn bảo vệ đất nước, người Việt Nam phải hy sinh nhiều
lợi ích riêng của mình, cùng nhau đoàn kết bảo vệ những lợi ích chung.
Với những đặc điểm tự nhiên, sự khó khăn của cư dân vùng lúa nước,
sự đe doạ liên tục của nạn ngoại xâm như vậy, muốn tồn tại và phát triển, con
người Việt Nam phải cùng nhau chung sức trong lao động sản xuất và trong
các quan hệ xã hội khác. Việc gắn đời sống của mình với cộng đồng cũng là
để bảo vệ cuộc sống của mình. Do đó, trong nấc thang giá trị xã hội, việc ưu
tiên các giá trị cộng đồng, hay nói cách khác, việc đề cao các giá trị đạo đức là
đặc điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam.
Sự phát triển ưu trội của các giá trị đạo đức còn có một nguyên nhân
khác, đó là pháp luật chưa phát triển (phải đến tận thế kỷ XI, bộ luật đầu tiên
của Việt Nam mới ra đời). Do vậy, khi chưa có sự điều chỉnh hành vi con
người bằng pháp luật, thì sự tồn tại của phương thức điều chỉnh khác (trong
trường hợp này là đạo đức) là điều hiển nhiên.
Trên nền tảng của văn hoá bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi, Việt
Nam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoá
Trung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Nho giáo
được truyền vào nước ta, tính đến nay đã trên 2000 năm. Nho giáo là một học
thuyết chính trị - xã hội luôn lấy đức làm trọng, là công cụ quản lý xã hội của
giai cấp thống trị Trung Quốc. Với rất nhiều giáo lý phù hợp với điều kiện xã
hội Việt Nam, Nho giáo từng bước được giai cấp thống trị Việt Nam tiếp nhận
và đề cao, đặc biệt là trong quản lý đất nước. Bằng ảnh hưởng của giai cấp
của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc". Thực ra, trên thế giới,
mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc, sự hình thành
20
cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau. ở Việt Nam, chúng ta có thể
thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt
Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền
thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là tiêu điểm của mọi tiêu
điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá
nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát
triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc.
Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình
dị, đơn sơ của mỗi người dân. Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến
những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành
tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là
sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định. Tình
yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước, nó còn được
thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước. Trên thế giới, hầu như dân tộc
nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước, chống xâm lăng. Nhưng có
lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ III
TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta đã dành hơn nửa thời gian
cho các cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống ngoại xâm, các cuộc
khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc. Không có một dân tộc nào trên
thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như vậy và với những kẻ thù
mạnh hơn rất nhiều. Chính tinh thần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta
vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược. Qua những cuộc
chiến đấu trường kỳ đầy gian khổ đó, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành “dòng
chủ lưu của đời sống Việt Nam, trở thành một dạng triết lý xã hội và nhân sinh
trong tâm hồn Việt Nam". Nhận xét về truyền thống yêu nước Việt Nam, Chủ
22
tranh, họ luôn được đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh, được cấp đầy đủ
quân trang khi trở về nước.
Tình thương người của dân tộc Việt Nam không chỉ biểu hiện trong đời
sống hàng ngày của người dân, trong hương ước của các làng xã, mà còn được
nâng lên thành những chuẩn tắc trong luật của nhà nước. Trong các bộ luật
của Việt Nam - những bộ luật rất hiếm hoi và ra đời tương đối muộn trong lịch
sử phát triển dân tộc, chúng ta có thể thấy, việc vi phạm các chuẩn mực đạo
đức, như con cái đối xử không tốt với cha mẹ, với người thân có thể bị xử
phạt. Trong các kho của Nhà nước Việt Nam hầu như lúc nào cũng có thóc
gạo dự trữ để phân phát cho những người dân nghèo, đau ốm, hay vào những
năm hạn hán mất mùa. Việc lập các nhà thương tế bần nuôi dưỡng những
người già cả, cô đơn, đau ốm bệnh tật ở các nơi luôn được sự khuyến khích
của Nhà nước.
Lòng thương người đã trở thành một nếp nghĩ, một cách sống, một giá
trị đạo đức trong đời sống của người Việt Nam. Khi Phật giáo và Nho giáo
thâm nhập vào Việt Nam với những quan niệm từ bi bác ái, thương người thì
chúng càng khẳng định, củng cố thêm tư tưởng thương người của dân tộc Việt
Nam. Nhưng tư tưởng thương người của dân tộc Việt Nam không bị ảnh
hưởng quá nặng nề bởi quan niệm từ bi vượt thoát hiện thực của Phật giáo, vì
người Việt Nam vẫn chủ trương chú trọng nhiều đến những giá trị đời sống
thường ngày, nó cũng không bị ảnh hưởng nặng nề bởi chữ nhân quá thiên về
lễ nghĩa của Nho giáo, vì người Việt Nam hiểu chữ nhân như là một đạo làm
người - đạo làm người xuất phát từ chính bản chất của con người, chứ không
phải với nghĩa là trách nhiệm của bề trên đối với kẻ dưới như trong quan niệm
Nho giáo.
Có thể nói, tình thương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng của
dân tộc ta, một giá trị rất đáng tự hào. Nó gắn liền với tình yêu thương đồng
đồng thánh, hội bát âm họp các tài tử âm nhạc, cho đến hội chọi gà, hội chọi
chim xem thế thì thấy người nhà quê ta rất ham lập hội”.
Tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinh
thần đoàn kết dân tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựng
nước và giữ nước. Vì vậy, dân tộc Việt Nam đã duy trì được sự hài hoà trong
các quan hệ xã hội, làm hạn chế phần nào tính vị kỷ, tạo được sức mạnh chung
cho sự sinh tồn và chiến thắng ngoại xâm. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng
minh rằng, nếu không tạo được sự đoàn kết nhất trí cao thì nguy cơ nước mất
nhà tan sẽ xảy ra. Thất bại của nhà Hồ thế kỷ XIV là một ví dụ. Do không
thống nhất được lòng dân, nên dù có thời cần chuẩn bị kháng chiến lâu dài, vũ
khí tân tiến vẫn không bảo vệ được độc lập dân tộc. Hoặc trong các thế kỷ
XVI - XVIII chiến tranh phân chia Trịnh - Nguyễn, Nam - Bắc triều là nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếu của đất nước, làm cho thực dân Pháp có cơ
hội xâm lược nước nhà. Chính nhờ có truyền thống đoàn kết mà chúng ta mới
có được một dân tộc độc lập như ngày nay. Những câu như "đoàn kết thì sống,
chia rẽ thì chết", "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi
cao" không chỉ là một lời khuyên nhủ, mà còn là phương châm, mục đích
của sự đoàn kết dân tộc. Nó trở thành sức mạnh tinh thần và đặc trưng cho
nhân cách con người Việt Nam.
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi bật
trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Thực ra, để kiến tạo ra của cải vật chất
thì bất cứ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải chịu khó, và họ cũng có
thể tự hào về những thành quả đã tạo dựng được của mình, nhưng dân tộc Việt
Nam lại là một trường hợp đặc biệt. Bởi lẽ, như đã nói, Việt Nam là một nước
có nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Lao động nông ghiệp là loại hình lao
động vất vả, cần nhiều thời gian, công sức mới có hạt gạo, bát cơm để ăn. Hơn
nữa, thiên nhiên lại quá nhiều nắng gió, mưa bão mà nhiều khi, mùa nắng thì
25
hạn cháy đồng, mùa mưa lại lũ lụt. Quanh năm suốt tháng, người dân Việt