thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao tiền lương, tiền công của người lao động trong thời kỳ quá độ lên cnxh ở việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 13

Bài tiểu luận Nhóm 3
ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao tiền lương, tiền công
của người lao động trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay”
Giáo viên hướng dẫn Nhóm sinh viên thực hiện:
1. Trần Đức Mạnh
2. Nguyễn Thị Yến Nga
3. Bùi Thị Ngân
4. Ngô Thị Tuyết Nhung
5. Phomvongsa Phetoudone
Lớp: K44KTCT
Huế, 10/2013
I. MỞ ĐẦU
1
Hồ Lê Phương Thảo
Bài tiểu luận Nhóm 3
Động lực của sự phát triển là con người. Một trong những yếu tố quyết định để khai
thác tiềm năng của con người phục vụ cho sự phát triển là lợi ích kinh tế, cụ thể là tiền
lương, tiền công và thu nhập. Vấn đề tiền lương luôn là vấn đề quan trọng của mọi thời
đại, tiền lương hay tiền công chính là giá cả của sức lao động vì vậy mà nó gắn liền với
mọi phương thức sản xuất và các hình thức kinh tế. Đặc biệt dưới chủ nghĩa tư bản
(CNTB) thì tiền lương là phương tiện, là cái để thể hiện rõ nhất bản chất bóc lột của
CNTB.
Xu thế hội nhập đã tạo nhiều thuận lợi để nước ta phát triển, nhưng bên cạnh
những thuận lợi ấy cũng không tránh khỏi nhiều khó khăn mà chúng ta gặp phải, như:
mức sống của người dân còn thấp, chỉ trên 1.540 USD/ người/ năm. So với thế giới, mức
thu nhập là thấp. Bên cạnh đó, tình trạng lạm phát vẫn còn tồn tại, mức sống và mức tiêu
dùng cũng như tiền lương, tiền công nhận được của người lao động còn rất thấp so với

sau đây: một là, nếu lao động là hàng hóa và được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản
không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư) - điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của
quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Hai là, nếu “hàng hóa lao động” được
trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật
giá trị.
- Thứ ba, nếu lao động là hàng hóa thì hàng hóa đó cũng phải có giá trị. Nhưng thước đo
nội tại của giá trị là lao động. Như vậy, giá trị của lao động lại được đo bằng lao động.
Đó là một điều luẩn quẩn vô nghĩa.
Vì thế, lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản
chính là sức lao động. Do đó tiền lương, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là
giá cả của sức lao động.
Vậy bản chất của tiền lương, tiền công dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá
cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao
động.
Sở dĩ biểu hiện bề ngoài của tiền lương, tiền công đã che dấu bản chất của nó là
do những nguyên nhân sau:
Một là, việc mua bán sức lao động là mua bán chịu. Hơn nữa, đặc điểm của hàng
hóa – sức lao động không bao giờ tách khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã
3
Bài tiểu luận Nhóm 3
cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó nhìn bề
ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động.
Hai là, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để có
tiền sinh sống, do đó, bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động. Còn đối
với nhà tư bản việc bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao
động.
Ba là, do cách thức trả lương. Số lượng của tiền lương phụ thuộc vào thời gian
lao động hoặc sản phẩm sản xuất ra, điều đó khiến người ta lầm tưởng rằng tiền lương là
giá cả lao động.
Tiền lương che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian

lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực
chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm.
Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thời
gian.
Thực hiện tiền lương, tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản
trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác,
kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được
tiền công cao hơn.
Vì vậy, chế độ tiền lương, tiền công dưới CNTB thường dẫn đến tình trạng lao
động khẩn trương quá mức, làm kiệt sức người lao động. Về mặt lịch sử, tiền công tính
theo thời gian được áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu phát triển của CNTB, còn giai
đoạn sau thì tiền công tính theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi hơn. Hiện nay, hình
thức tiền công tính theo thời gian ngày càng được mở rộng.
1.3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế. Xu hướng vận động của tiền
công dưới CNTB
1.3.1. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản. Nó là giá cả sức lao động. Nó có thể tăng lên hay giảm
xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị
trường. Đối với người công nhân, điều quan trọng không chỉ ở tổng số tiền nhận được
dưới hình thức tiền công mà còn ở chỗ có thể mua được gì bằng tiền công đó, điều đó
phụ thuộc vào giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ. Tiền công được sử dụng để tái sản
5
Bài tiểu luận Nhóm 3
xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực
tế.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng
và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình. Rõ ràng nếu
điều kiện khác không thay đổi, tiền công thực tế phụ thuộc theo tỷ lệ thuận của đại lượng
tiền công danh nghĩa và phụ thuộc theo tỷ lệ nghịch với mức giá cả vật phẩm tiêu dùng

hay tiền công chính là thước đo giá trị sức lao động, được biểu hiện như giá trị lao động
cụ thể của việc làm được trả công. Nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh
thông qua tiền lương, tiền công. Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức lương càng
lớn.
1.4.2. Duy trì và phát triển sức lao động
Theo Mác, tiền lương hay tiền công là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị
của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động,
theo điều kiện kinh tế, xã hội và trình độ văn minh của mỗi nước. Giá trị sức lao động
bao hàm cả yếu tố lịch sử, vật chất và tinh thần. Ngoài ra, để duy trì và phát triển sức lao
động thì người lao động phải sinh con (như sức lao động tiềm tàng), phải nuôi dưỡng
con, cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra sức lao động phải gồm có
những tư liệu sinh hoạt cho con cái học. Theo họ, chức năng cơ bản của tiền lương, tiền
công còn là nhằm duy trì và phát triển được sức lao động.
Giá trị sức lao động là điểm xuất phát trong mọi bài tính của sản xuất xã hội nói
chung và của người sử dụng lao động nói riêng. Giá trị sức lao động mang tính khách
quan, được quy định và điều tiết theo ý muốn của một tác nhân nào, dù là người làm
công hay người sử dụng lao động. Nó là kết quả của sự mặc cả trên thị trường lao động
giữa người có sức lao động “bán” và người sử dụng sức lao động “mua”.
1.4.3. Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực
Tiền lương, tiền công là bộ phận thu nhập chính đáng của người lao động nhằm
thỏa mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của người lao động. Do vậy, các
mức tiền lương là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và động
cơ trong lao động của người lao động. Khi độ lớn của tiền lương hay tiền công phụ
thuộc vào hiệu suất sản xuất của công ty nói chung và cá nhân người lao động nói riêng
thì họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng công việc.
1.4.4. Thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển
Nâng cao hiệu quả lao động, năng suất lao động suy cho cùng là nguồn gốc để
tăng thu nhập, tăng khả năng thỏa mãn các nhu cầu của người lao động.
7
Bài tiểu luận Nhóm 3

8
Bài tiểu luận Nhóm 3
- Khả năng kiếm được tiền công cao hơn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy người lao động ra
sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông qua sự nâng cao trình độ và
sự đóng góp cho tổ chức.
1.5.2. Đối với tổ chức, doanh nghiệp
- Tiền lương là một khoản chi phí bắt buộc, do đó muốn nâng cao lợi nhuận và hạ giá
thành sản phẩm, các doanh nghiệp phải biết quản lý và tiết kiệm chi phí tiền lương.
- Tiền công, tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ, thu hút những người lao động giỏi,
có khả năng phù hợp với công việc của doanh nghiệp.
- Tiền công, tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quản lý chiến lược
nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản lý nguồn nhân lực.
9
Bài tiểu luận Nhóm 3
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TIỀN CÔNG, TIỀN LƯƠNG Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về cải cách tiền lương và tiền công
trong giai đoạn hiện nay
Vấn đề cải cách tiền lương đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ rất sớm và luôn
được quán triệt tại các kỳ đại hội của Đảng từ các kỳ Đại hội cho đến nay. Báo cáo chính
trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của
Đảng còn nêu rõ “Kiên quyết khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ
cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; gắn cải cách tiền lương
với sắp xếp, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống
chính trị. Gắn tiền lương của người lao động với hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp”.
Căn cứ vào những chủ trương nêu trên, trong những năm qua nhà nước ta đã đẩy
mạnh cải cách chính sách tiền lương, tiền công. Từ năm 1993, chính sách tiền lương đã
có sự thay đổi theo hướng tích cực, khắc phục những hạn chế cơ bản của thời kỳ trước,
tạo sự hài hòa hơn về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, với 4 nội

năm 1993. Đây là một cuộc cải cách rất căn bản không những về lương mà còn là một
đợt sắp xếp lại hệ thống phân phối tiền lương từ ngân sách nhà nước, nhằm mục tiêu xoá
bỏ triệt để tình trạng bao cấp, khắc phục tính bình quân trong phân phối, sắp xếp lại hệ
thống thang bảng lương và tạo bước ngoặt về nhận thức quan điểm - coi tiền lương là giá
cả sức lao động, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và từng bước xây dựng
thể chế kinh tế thị trường.
Sau gần 20 năm áp dụng chính sách lương mới, chúng ta thấy có nhiều ưu điểm và
tiến bộ so với hệ thống tiền lương trong thời kỳ bao cấp nhưng thực tế thì vẫn còn đó
nhưng bất cập và nhiều điểm hạn chế. Cụ thể:
2.2.1 Những mặt đạt được
- Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương, tiền công của Đảng
từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện
đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ
công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy
Nhà nước.
- Thứ hai, tách dần tiền lương, tiền công khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành
chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương, tiền
công với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội. Đó là
11
Bài tiểu luận Nhóm 3
bước ngoặt rất quan trọng cải cách tiền lương, tiền công trong điều kiện mới theo định
hướng thị trường.
- Thứ ba, Tiền lương và thu nhập của người làm công ăn lương có xu hướng tăng, đảm
bảo ổn định đời sống và có phần được cải thiện.
Tính từ năm 2003 đến nay, chính phủ đã có 8 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu.
Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2003 – 2008 là 13,24%/năm. Sau 5 năm thực hiện đề án
cải cách chính sách tiền lương giai đoạn 2008 – 2012, Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh
mức lương tối thiểu, từ 450.000đ năm 2008 lên 1.050.000đ năm 2012. Tốc độ phát triển
bình quân giai đoạn 2008 – 2012 đạt 18,09%/năm. Tốc độ phát triển bình quân toàn giai

chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên căn cứ thực tế mức
sống hiện nay, mức lương tối thiểu này hoàn toàn là không đủ để người lao động có thể
sống được trong một tháng, nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội hay Tp. Hồ Chí
Minh. Khi lạm phát ngày càng đẩy giá cả tiêu dùng leo thang chóng mặt.
- Thứ ba, phân phối tiền lương và thu nhập trong khu vực hành chính nhà nước và khu
vực sự nghiệp sự nghiệp cung cấp dịch vụ công, cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều
bất cập. Cụ thể:
+ Duy trì quá lâu một chính sách tiền lương thấp đối với cán bộ, công chức, viên
chức. Các lần cải cách vừa qua luôn bị chi phối tuyệt đối bởi khả năng của ngân sách
nhà nước (NSNN), nên đã thực hiện một chính sách tiền lương quá thấp đối với cán bộ,
công chức, viên chức và gắn chặt với tiền lương tối thiểu chung vốn rất thấp (chỉ đáp
ứng 65% - 70% nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động). Hơn nữa, chính sách
tiền lương thấp này đã lại ngày càng thấp xa so với khu vực sản xuất kinh doanh, chưa
13
Bài tiểu luận Nhóm 3
bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống chủ yếu bằng tiền lương. Đó là một bất
cập, nghịch lý và mâu thuẫn lớn. Theo kết quả điều tra của Công đoàn Viên chức Việt
Nam, tiền lương cứng của cán bộ, công chức, viên chức khá thấp, phần lớn là hưởng
lương ở mức cán sự và chuyên viên, chiếm khoảng 73% (cán sự chiếm 32% và chuyên
viên 41%), còn ở mức chuyên viên chính là 24% và chuyên viên cao cấp là 3%.
+ Trong khi tiền lương không đủ sống, thì thu nhập ngoài lương lại rất cao (phụ
thuộc vào vị trí, chức danh công việc, lĩnh vực quản lý, vùng, miền…) và không có giới
hạn, không minh bạch, cũng không kiểm soát được. Trong phần thu nhập ngoài lương
cho đến nay không ai có thể thống kê, đánh giá định lượng được, có thể có phần chính
đáng, song chủ yếu là không chính đáng do lợi dụng quyền lực để tham nhũng, tiêu cực
trong thi hành công vụ (từ biếu xén, cơ chế xin - cho, cơ chế ăn chia…). Mức lương tối
thiểu của công chức năm nay được nâng lên 1.050.000 đồng, song vẫn là mức quá thấp,
không đủ cho chi phí trong cuộc sống vốn ngày càng đắt đỏ do lạm phát. Chính điều này
đã tạo “đất sống” cho tham nhũng, tiêu cực ngày càng nhức nhối…
+ Tiền lương Nhà nước quy định trả cho cán bộ, công chức, viên chức mặc dù còn rất

số cấp bậc của cán bộ cao cấp do bầu cử hoặc đề bạt) cho dù thành tích đạt được về mặt
chuyên môn đến mức độ nào.Thi nâng bậc còn mang tính hình thức, kết quả thi chưa
thực sự gắn với chuyên môn công tác cụ thể, đối tượng “quá độ” còn nhiều, nên dễ bị áp
dụng tùy tiện. Hậu quả là chính sách tiền lương chưa thực sự khuyến khích người lao
động, chưa khuyến khích các tài năng, đặc biệt là tài năng trẻ.
- Thứ sáu, tình trạng bất hợp lý và không công bằng vẫn còn là vấn đề bức bách của
chính sách tiền lương hiện nay. Điều này thể hiện trên cả 2 khía cạnh:
+ Thứ nhất, tình trạng bình quân chủ nghĩa vẫn chưa được khắc phục. Bởi vì, khoảng
cách giữa các bậc lương quá ngắn, thấp nhất là 0,09 và cao nhất là 0,43; phấn đấu 2 năm
mới thêm được mỗi tháng 18,9 ngàn đồng, 3 năm tăng thêm 25,2 ngàn đồng thêm vào
đó thời gian phấn đấu để đạt được tới bậc lương cao nhất quá dài.
+ Thứ hai, tình trạng bất hợp lý do vẫn tồn tại nhiều ngành, nhiều cơ quan và khu vực
có sự chênh lệch quá mức về thu nhập, hình thành nhiều khoản thu và chia chác trong
các cơ quan mà Nhà nước không quản lý nổi như thu nhập ngoài lương lớn hơn lương
rất nhiều trong một bộ phận cán bộ, công chức; chênh lệch về thu nhập giữa các ngành,
các cơ quan, đơn vị rất lớn.
3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Một số yêu cầu khi tiến hành cải cách
15
Bài tiểu luận Nhóm 3
- Thứ nhất, chế độ tiền lương phải phù hợp với thực tế khách quan của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, đảm bảo cho người công nhân duy trì được sức lao động ở
điều kiện bình thường.
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên chế
độ tiền lương trong nền kinh tế này vừa mang tính chất thị trường, vừa mang tính chất
định hướng XHCN. Nghĩa là chế độ tiền lương vừa chịu sự chi phối bởi thị trường lao
động, vừa chịu sự chi phối bởi nguyên tắc phân phối theo lao động. Điều này cho thấy,
không nên cực đoan cho rằng, tiền lương chỉ là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa
sức lao động, hoặc ngược lại, tiền lương chỉ là kết quả của việc phân phối theo lao động.

bằng sức lao động mới. Để có sức lao động thay thế, mỗi cá nhân người lao động phải
sinh con đẻ cái. Vì vậy, tổng số tư liệu cần cho sức lao động bao gồm cả những tư liệu
sinh hoạt cho những người thay thế đó, tức là con cái những người công nhân. Đồng
thời, để cho người công nhân có những kiến thức cần thiết cho lao động thì cần phải học
hành, muốn thế cần phải tốn một số chi phí đào tạo. Do đó, những chi phí đào tạo ấy
được gia nhập vào tổng số những chi phí cho sức lao động của mỗi người công nhân.
Như vậy, lương tối thiểu là giá trị những tư liệu sinh hoạt mà thiếu nó, người công
nhân sẽ không thể khôi phục lại quá trình sống của mình, nó sẽ rơi xuống thấp hơn giá
trị của nó, khi đó sự sống của người công nhân chỉ được duy trì và phát triển dưới một
trạng thái lay lắt mà thôi.
- Thứ ba, thực hiện trả lương theo lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, nhưng
không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
3.2 Những giải pháp đặt ra
3.2.1 Đối với nhà nước
- Thứ nhất, phải đổi mới hơn nữa về tư duy trong cải cách chính sách tiền lương, tiền
công. Muốn có tư duy mới về cải cách tiền lương, tiền công đòi hỏi các nhà nghiên cứu,
các nhà hoạch định chính sách và người lãnh đạo, quản lý phải bắt đầu từ nhận thức về
sự cần thiết cải cách nền công vụ, đáp ứng những đòi hỏi trong thời kỳ đổi mới của nước
ta hiện nay. Tức là:
+ Phải hiểu tiền lương theo đúng nghĩa của nó, tiền lương phải được trả tương xứng
với giá trị sức lao động mà người cán bộ, công chức, người lao động đã bỏ ra để thực thi
công vụ. Tiền lương, tiền công không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị
- xã hội. Nó phản ánh sự ưu việt của bản chất chế độ, hay sự quan tâm của nhà nước đối
với người lao động hưởng lương, sự phát triển của xã hội và mối tương quan giữa các
tầng lớp trong xã hội.
17
Bài tiểu luận Nhóm 3
+ Tiếp tục thống nhất về nhận thức, coi chi tiền lương, tiền công cho cán bộ, công
chức và những người lao động làm công ăn lương chính là chi cho đầu tư phát triển;
đảm bảo cho tiền lương thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy nâng cao năng lực để

và lao động, tự lựa chọn quyết định mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định; hình
thành các phương pháp trả lương và thu nhập gắn với năng suất, chất lượng, hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
3.2.2 Đối với các Bộ, ngành liên quan
- Thứ nhất, thực hiện ngay việc cụ thể hóa và hướng dẫn các quy định của Nhà nước về
chính sách tiền lương, tiền công đến với khu vực sản xuất kinh doanh và đến trực tiếp
người lao động.
- Thứ hai, tổ chức bộ phận nghiên cứu hoạch định chính sách tiền lương, bộ phận kiểm
tra, giám sát thực hiện chính sách tiền lương phù hợp với yêu cầu quản lý mới. Kịp thời
phát hiện xử lý các vướng mắc phát sinh trong vấn đề tiền lương, thu nhập cũng như đề
xuất vời Nhà nước việc bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi khi phát sinh bất hợp lý.
- Thứ ba, chuyển đổi cơ chế quản lý hành chính áp đặt tiền lương, tiền công trong khu
vực sản xuất kinh doanh hiện nay sang cơ chế quản lý mang tính chất hướng dẫn là chủ
yếu. Đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc thực hiện
chính sách tiền lương trong khu vực này đúng với quỹ đạo chung và bảo về quyền lợi
người lao động.
3.2.3 Đối với các doanh nghiệp
- Thứ nhất, trên cơ sở quyền chủ động về vấn đề tiền lương, thu nhập trong chế chính
sách, cần tổ chức bộ phận nghiên cứu quản lý cho phù hợp nhằm sử dụng có hiệu quả
đòn bẩy tiền lươn, tiền công trong việc khuyến khích nâng cao chất lượng, hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
- Thứ hai, đối với khu vực doanh nghiệp, tiền lương là một bộ phận của chi phí sản xuất,
nếu tiền lương tăng, thì lợi nhuận giảm và ngược lại. Giải pháp duy nhất để xử lý mâu
thuẫn này là tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, khi đó sẽ tạo được
nguồn để vừa tăng lợi nhuận, vừa tăng được tiền lương. Vì vậy, cần tăng cường công tác
xây dựng kế hoạch lao động, định mức lao động, quỹ lương kế hoạch cũng như việc xác
định đơn giá tiền lương trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tốc độ tăng tiền lương bình quân
thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân, lợi nhuận bình quân đầu người
không thấp hơn năm liền kề. Coi đó là trách nhiệm quản lý tự thân của doanh nghiệp,
không phải là sự áp đặt hành chính của Nhà nước như trước.

Công Nghiệp)
5. Quản trị nhân lực (Bùi Văn Chiêm)
6. Trung tâm thông tin – tư liệu Viện Nghiên cứu TW
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status