Nghiên cứu văn bia huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 KHẢO SÁT HỆ THỐNG VĂN BIA HUYỆN VĨNH LỘC
1.1. Tìm hiểu lịch sử - địa lý huyện Vĩnh Lộc. 12
1.1.1. Lịch sử hình thành tên gọi Vĩnh Lộc. 12
1.1. 2. Địa hình, núi sông. 13
1.1. 3. Giới thiệu một số nhân vật tiêu biểu huyện Vĩnh Lộc.
Thượng tướng quân Trần Khát Chân. 18
1.2. Hệ thống các di tích trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc. 34
1.2.1. Vài nét về văn bia Thanh Hoá 42
1.2.2. Khảo sát văn bia huyện Vĩnh Lộc. 49
1.2.3. Phân bố của văn bia huyện Vĩnh Lộc. 52
CHƯƠNG II
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA VĂN BIA
HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HOÁ. 65
2.1. Đặc điểm văn bia huyện Vĩnh Lộc 65
2.1.1. Tác giả soạn văn bia. 66
2.1.2. Kích cỡ, độ dài văn bia huyện Vĩnh Lộc 71
2.1.3. Trang trí hoa văn trên bia huyện Vĩnh Lộc 73
2. 2. Giá trị của văn bia huyện Vĩnh Lộc. 82
2.2.1. Văn bia huyện Vĩnh Lộc góp phần nghiên cứu lịch sử. 82
2.2.2. Văn bia huyện Vĩnh Lộc góp phần nghiên cứu văn hoá. 87
KẾT LUẬN 99
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 103
PHỤ LỤC 104
trang trí. Đi đến xã nào của huyện cũng có văn bia, bia được dựng ở Thành trì,
đình, đền, chùa, phủ, cầu cống, lăng mộ, từ đường, cả những nơi danh lam thắng

6
cảnh hang động. Nội dung ghi chép lịch sử, văn hóa của quê hương, cũng như tâm
tư nguyện vọng của người dân Vĩnh Lộc.
So với các địa phương khác trong tỉnh Thanh Hoá, văn bia huyện Vĩnh Lộc
có lịch sử văn hoá khá lâu đời. Xưa kia bia có niên đại sớm nhất là Ngưỡng Sơn
linh xứng tự bi minh
仰山靈稱寺碑銘 ở
chùa Linh Xứng, làng Ngọ Xá (nay
chia tách về xã Hà Sơn, huyện Hà Trung). Bia khắc năm thứ 7 (1126) niên hiệu
Thiên Phù Duệ Vũ đời Lý Nhân Tông Càn Đức, ghi về lịch sử phát triển của Phật
giáo và công lao sự nghiệp của Thái uý Lý Thường Kiệt. Bia hiện nay đang còn
nguyên vẹn, dựng trên tượng rùa, chữ còn khá đẹp, (hiện đang được bảo quản
trong nhà trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam). Bia muộn nhất là Nguyễn
Cao tộc thụ đức đường chi đệ nhất đại

高族樹德堂支第一代
khắc niên
hiệu Bảo Đại 18(1943). Qua lịch sử tồn tại gần 10 thế kỷ, với hình thức trang trí,
nội dung ghi chép, văn bia huyện Vĩnh Lộc góp phần quan trọng vào việc nghiên
cứu văn bản, niên đại, lịch sử tôn giáo và tín ngưỡng của đất huyện Vĩnh Lộc nói
riêng, tỉnh Thanh Hoá nói chung.
Huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá là địa phương có nhiều văn bia ma nhai và
văn bia nhà thờ các dòng họ, do vậy từ lâu đã có một số nhà nghiên cứu Hán Nôm
lưu tâm, biên dịch, công bố. Song chỉ dừng lại giới thiệu, công bố lẻ tẻ, chưa có
công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về những thông tin chính xác về số
lượng văn bia tại địa phương, các thác bản văn bia hiện lưu giữ trong các kho tư
liệu ở trung ương và địa phương, điều đó gây khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi

Phủ Trịnh - nghè Vẹt, nơi là dinh thự của chúa Trịnh đặt bản doanh cơ quan đầu
não chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mạc, trung hưng nhà Lê. Chùa Du Anh động

8
Hồ Công di tích danh lam thắng cảnh nổi tiếng, từng thu hút nhiều các bậc tao
nhân mặc khách đến tham quan du lãm…
Chính vì thế, việc nghiên cứu văn bia huyện Vĩnh Lộc là một việc thiết thực,
hết sức có ý nghĩa. Việc tập hợp đầy đủ chính xác về số lượng văn bia thông qua
khảo sát thực tế tại các địa phương và tra cứu thác bản, các tài liệu thư tịch cổ hiện
có tại các kho tư liệu ở trung ương và địa phương. Từ đó đánh giá, tìm hiểu đặc
điểm, giá trị nội dung, tiến hành phiên âm dịch nghĩa một số văn bia tiêu biểu phục
vụ cho công tác nghiên cứu là công việc thiết thực, nằm trong chuyên môn của
chuyên ngành Hán Nôm.
Từ lý do vừa nêu trên, tôi xin chọn đề tài “Nghiên cứu văn bia huyện Vĩnh
Lộc tỉnh Thanh Hoá” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Ngữ văn chuyên ngành Hán Nôm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Văn bia huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá, đã từ lâu đã thu hút nhiều nhà
nghiên cứu đến khảo sát và tìm hiểu, các tập sách như: Văn khắc Hán Nôm Việt
Nam, Nxb. KHXH, 1993 do Nguyễn Quang Hồng chủ biên, giới thiệu thư mục 3
văn bia ma nhai của huyện Vĩnh Lộc. Những bút tích Hán Nôm ghi chép về một số
hang động ở Thanh Hoá của tác giả Hồng Phi- Hương Nao, Nxb. Giáo dục 2007
giới thiệu một số văn bia Ma nhai hiện khắc trên vách đá ở hai động Kim Sơn xã
Vĩnh An và Hồ Công xã Vĩnh Ninh. Tập sách Thắng tích Vĩnh Lộc của Ban
Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, Nxb Thanh Hoá, 1992 chép ghi lại 3
văn bia ma nhai khắc trên vách đá hang động Kim Sơn, Hồ Công huyện Vĩnh Lộc.
Tập sách Những bia ký điển hình Thanh hoá của tác giả Lê Tạo - Nguyễn Văn Hải,
Nxb Thanh Hoá 2008 giới thiệu 3 văn bia hiện còn trên địa bàn huyện. Tập sách
Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xưa, Nxb Thanh Hóa, 1995, giới thiệu 02 văn
bia trên địa bàn huyện. Ba bản sách chữ Hán hiện lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán
Nôm: Vĩnh Lộc huyện chí

điền dã ở địa phương, khảo sát, nghiên cứu các thác bản đối chiếu với các địa danh
tương xứng với đơn vị hành chính ngày nay. Nghiên cứu nội dung, hình thức văn
bia qua các thời, thống kê phân loại, đánh giá giá trị của văn bia huyện Vĩnh Lộc
tỉnh Thanh Hoá.
3. 3. Phương pháp nghiên cứu. 10
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
3.3.1. Điều tra điền dã
Đi điền dã xuống từng thôn, làng, xã, khảo sát trực tiếp, dập thác bản, đo vẽ
kích cỡ, đặc điểm trang trí trên bia, đặc điểm chữ viết, tổng hợp số liệu, đưa ra một
số nhận định về đặc điểm của văn bia huyện Vĩnh Lộc.
3.3.2. So sánh đối chiếu.
Sau khi tổng hợp số liệu văn bia huyện Vĩnh Lộc hiện còn theo thực tế, tiến
hành tra cứu thác bản lưu trữ tại Trung ương, so sánh đối chiếu xác định còn hoặc
mất theo thực tế hiện nay.
3.3.3. Thống kê định lượng.
Thao tác thống kê định lượng dựa theo các tiêu chí: Sự phân bố theo không
gian và thời gian, niên đại, tác giả biên soạn…Thông qua đó đưa ra những nhận xét
tổng quát về tình hình và đặc điểm của văn bia huyện Vĩnh Lộc.
3.3.4 Tổng hợp liên ngành.
Phương pháp tổng hợp liên ngành là phương pháp quan trọng trong quá trình
tiến hành nghiên cứu, chúng tôi dựa vào phương pháp này để phân tích, đánh giá,
đưa ra những nhận định khoa hoc về văn bia huyện Vĩnh Lộc.
4. Đóng góp mới của luận văn.
Đề tài tiến hành khảo sát, nghiên cứu toàn bộ hệ thống văn bia huyện Vĩnh
Lộc trên địa danh tương ứng ngày nay. Từ đó xác định được chính xác vị trí đặt bia,
thống kê đầy đủ về mặt số lượng ở ba nguồn khai thác khảo sát thống kê thực tế và
số lượng văn bia dựa trên các thác bản sưu tầm hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu
12

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHẢO SÁT HỆ THỐNG VĂN BIA HUYỆN VĨNH LỘC
1.1. Tìm hiểu lịch sử - địa lý huyện Vĩnh Lộc.
1.1.1. Lịch sử hình thành tên gọi Vĩnh Lộc.
Vĩnh Lộc là huyện trung du của tỉnh Thanh Hoá, phía bắc giáp huyện Cẩm
Thuỷ và Thạch Thành, nam giáp huyện Yên Định, đông giáp huyện Hà Trung, tây
giáp huyện Cẩm Thuỷ. Thời Bắc thuộc, Vĩnh Lộc thuộc huyện Tư Phố bộ Cửu
Chân. Thời Đinh - Lê - thuộc huyện Nhật Nam của Châu Ái; thời Lý do Tổng trấn
Lý Thường Kiệt quản giáo, thời Trần - Hồ thuộc huyện Vĩnh Ninh trấn Thanh Đô;
thời Lê Trung hưng vì tránh tên huý của vua Lê Trang Tông huý là Duy Ninh đổi
là huyện Vĩnh Phúc và cho lệ vào phủ Thiệu Thiên. Thời Tây Sơn đổi thành huyện
Vĩnh Lộc. Giai đoạn triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 16 (1935) tách huyện
Vĩnh Lộc khỏi phủ Thiệu Hóa cho lệ vào phủ Quảng Hoá. Sau Cách mạng tháng 8,
năm 1977 nhập hai huyện Vĩnh Lộc và Thạch Thành đổi tên là huyện Vĩnh Thạch.
Năm 1982 tách hai huyện như trước, lấy tên cũ là huyện Vĩnh Lộc.
Từ thời tiền sử đã có con người đến cư trú, những dấu vết thời đại đá cũ

1.1. 2. Địa hình, núi sông. 14
Vĩnh Lộc là vùng đất cổ, nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng núi và
đồng bằng, với những dãy núi đá vôi nhấp nhô nằm xen kẻ giữa những cánh đồng
phù sa do sông Mã và sông Bưởi bồi đắp. Đất Vĩnh Lộc địa hình đa dạng và phức
tạp, là trung tâm nơi hợp giao của tỉnh lộ 217 và 47 về phố Giáng thị trấn huyện,
chạy lên các huyện miền Tây, đến cửa khẩu Quốc tế Na Mèo sang Lào. Nhiều dãy
núi ghi đậm những chứng tích lịch sử gắn với nhiều giai thoại, truyền thuyết đã
thấm sâu vào tiềm thức của người dân Vĩnh Lộc như núi An Tôn ở xã Vĩnh Yên,
trong núi có Hang Nàng là nơi Hồ Quí Ly giam giữ các cung tần nhà Trần, cũng tại
núi này khi Hồ Quí Ly tiến hành xây thành Tây Đô, đã lấy đá núi và sử dụng núi
này là khu bãi khai thác đá giúp cho việc xây thành Tây Đô. Núi Đốn Sơn ở địa
phận xã Vĩnh Thành, tích xưa truyền lại, dưới triều Trần, tướng quân Trần Khát
Chân âm mưu giết Hồ Qúy Ly nhưng không thành, sau đó phải chết ở đấy. Ở phía
Đông núi có đàn tế Nam Giao, có giếng Ngự Dục (Duyên), xếp đá làm thành, bệ
cấp uy nghiêm, đều là di tích của Hồ Hán Thương xây dựng năm (1402). Núi Mã
Hí (hay còn có tên gọi khác là núi Hí Mã) ở xã Vĩnh Ninh, núi này vách đá cheo
leo nhìn giống như "quần Mã" vờn "trường thi", cho nên thời trước khi khảo hạch
các bậc nhân sĩ hàng huyện thường đặt trường ở đấy. Núi Mông Cù nằm ở xã Vĩnh
Tân, trên đỉnh có một cái ao thiên tạo uốn lượn quanh co mà đổ nước xuống, xưa
kia là nơi đặt mộ tổ Thái Quận công người họ Hà. Núi Hùng Lĩnh (còn có tên là
núi Tác Hùng) ở xã Vĩnh Hùng và Vĩnh Tân, núi này nối liền với núi Mông Cù,
đời xưa truyền lại trên núi có hai cây cổ thụ, có thần tích trú, ban đêm cứ ẩn hiện
trong chốc lát. Bên tả ngọn núi là mộ cũ họ Trịnh, có phủ từ ở đấy, dưới chân núi
có bia mộ (phủ từ nay đã bị phá, bia mộ thất lạc chúng tôi chưa tìm ra?). Núi Cô
Sơn ở xã Vĩnh Thịnh, trên núi có một đỉnh gọi là Hoàng Sơn, đứng cheo leo bên
bờ, phía trên khắc tám chữ Hán lớn Thanh tri điền trí, Thanh trí điền tri
清知田

Khắc Khoan soạn niên hiệu Hoằng Định thứ 6 (1606) đời vua Lê Kính Tông. Góc
phía sau chùa có con đường mòn, chếch hướng Đông Nam, cheo leo trên vách núi
theo cấp bậc mà lên, ước độ sáu - bảy trăm bậc là động Hồ Công. Đi hơi chếch về
hướng Tây, bên trái đường lên có phiến đá to khắc 4 chữ lớn Thanh kỳ khả ái
青奇16
可愛
là chữ của chúa Trịnh Sâm
đề.
Lại theo hướng Tây lên khoảng bốn năm
mươi bước, bên trái đường có phiến đá to bằng phẳng, là nơi vua chúa các triều lên
đó nghỉ ngơi ngắm cảnh. Lại vẫn theo hướng Tây đến vài bước, ngoặt về hướng
Nam các bậc đá đều bằng phẳng, không còn gập ghềnh. Đến đó, vách đá dựng
đứng, trông ra phía trước là đồng bằng, bèn mở ra một động khum khum như
miệng hang, rộng rãi thoáng đãng, rất cao và trống. Ngoài cửa hơi chếch về bên
trái, bên trên khắc 4 chữ Hán Sơn bất tại cao
山不在高
là chữ của Hồng Ngư Cư
sỹ (Nguyễn Nghiễm) đề. Phía trước cửa động là bài thơ của Nhật Nam Nguyên chủ
Trịnh Sâm, bên trong cửa, hai bên có hai tượng người đá, đó là tượng Hồ Công và
Phí Trường Công. Hai bên vách đá cao vút, có rất nhiều các văn bia ma nhai của
các vua chúa và các bậc túc nho xưa kia đến thăm lưu đề như Đề Hồ Công động
tịnh dẫn
題壺公洞並
của Thiên Nam Động Chủ Lê Thánh Tông khắc niên hiệu
Hồng Đức thứ 9 (1478), Ngự chế đề Hồ Công động
御製題壺公洞
của

thuộc quần thể động Kim Sơn. Núi từ Hùng Lĩnh, men theo sông Mã mà chảy
xuống; xưa kia họ Trịnh lúc đầu lệnh cho Huyện Doãn cho dân xã 20 suất canh giữ
trông coi hai núi, mỗi tháng dựa vào suất để cấp lương bổng, nhân đó gọi là Biện
Lĩnh, là đất cấm địa gồm 29 ngọn. Núi ấy nham thạch lăng tằng, nhọn như răng
chó, đỉnh núi ấy nhọn như chiếc kích, xa mà nhìn lại có người cho là cái tán, có
người cho là tòa lâu đài, có người cho là tinh, là kỳ, là phượng, là ngựa, là bức gấm
thêu, là bức họa vẽ. Mỗi bước lại một hình trạng lạ, không hình nào giống hình
nào, đầy đủ cả, hâm mộ cảnh sắc kỳ dị đều cho là đẹp đẽ. Cho dù có người vẽ giỏi
thì cũng không thể vẽ được. Bên trong có hai cái động, một là Tiên Kiều động, thứ
hai là Tân Tạo động, (gọi chung là động Ngọc Sơn hoặc Kim Sơn) và Tiên Phàn
động. Trong động có nhũ thạch sắc ánh kim ngân, nếu lấy đèn đuốc quan sát thì tất
cả tựa như Cành quỳnh cây ngọc. Xưa kia, chúa Trịnh (Sâm) đến du chơi, thưởng
ngoạn ở núi này, khi trở về dùng một thuyền rồng nhỏ du chơi ở đây. Hẳn nhiên có
chuyện uống rượu, ngâm nga thơ phú lưu đề (nay chúng tôi vẫn chưa rõ thơ của
Trịnh Sâm đề ở vị trí nào?). Triều Nguyễn có các bậc tao nhân mặc khách vui cảnh
núi sông, bầu rượu túi thơ cùng nhau đến ngâm vịnh đề thơ trên vách đá như: Kinh
lược Thanh Hóa Trương Đăng Quế, Thiện Lan Nguyễn Xuân Tiêu, Châu Giang 18
Bùi Ân Niên, Hà Đình Nguyễn Thuật, Kinh Lược Nguyễn Vĩnh Tu, Thanh Phiên
Lê Lượng Bạt, La Châu Hoàng Kế Viên…
Bên cạnh những núi non hang động, đất Vĩnh Lộc còn có hai con sông, sông
Mã ở phía Tây, như chiếc đai bạc khổng lồ ôm suối một vòng cung rộng lớn từ đầu
huyện xã Vĩnh Quang đến cuối huyện xã Vĩnh An. Sông Bưởi ở phía Đông như dải
lụa mềm tuôn chảy từ xã Vĩnh Phúc rồi hợp lưu với sông Mã, chảy ra Ngã Ba Phà
Công. Với lợi thế của hai con sông, đã chuyển tải cho Vĩnh Lộc một lượng phù sa
màu mở, góp phần tạo nên những cánh bãi bên sông, rất thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp và tạo điều kiện cho huyện có một mạng lưới giao thông đường thủy
khá thuận lợi.

Trần chờ cơ hội.
Sau khi dời kinh đô từ Thăng Long về Tây Đô, Hồ Qúy Ly đã ép vua Trần
Thuận Tông nhường ngôi cho con là thái tử Trần Án mới 3 tuổi, đó là ngày 15
tháng 3 năm Mậu Dần (1398).
Trần Khát Chân đã bày cách dựng một “Vọng lâu đài” để Hồ Qúy Ly tế trời
đất trong dịp lễ đăng quang nhằm cơ hội giết Hồ Qúy Ly.
Ngày 4 tháng 4 năm Kỷ Mão (1399) nhân ngày lễ Minh thệ ở Đốn Sơn (núi
Đún) Hồ Qúy Ly với tư cách là ông ngoại vua đến dự lễ, việc mưu giết không
thành, Trụ quốc Trần Nhật Đôn, Tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh,
Lương Nguyên Bửu, Phạm Ngưu Tất… cùng người thân liên quan 372 người đều
bị hành quyết tịch thu tài sản, con gái bắt về làm tỳ thiếp, con trai từ một tuổi trở
lên bị chôn sống hoặc dìm xuống nước đến chết mới thôi.
Vùng này còn lưu truyền một huyền thoại rằng: Khi bị đưa đi hành hình,
chặt đầu ở núi Đún, ngài nhặt đầu lắp vào cổ, nhảy lên ngựa, đến đền Tam Tổng thì
đầu mới rơi. Còn con ngựa cứ thế chạy đến bến quân gần đấy còn có tên là Bến
Ngự (tức là bến tắm của vua) thuộc làng Phú Lĩnh ngày nay. Ngựa lao xuống dòng 20
sông Mã uống nước và chết, đầu ngựa ở giữa sông, thân ngựa hóa thành dọi đất
hướng về đền Tam Tổng- dọi đất này là: Dọi cổ ngựa.
Vào triều Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 5 (1474), định ban khuyến
khích dùng người trung nghĩa, đã cho tìm con cháu của ngài khắp các phủ huyện,
nếu không có con cháu thì tìm một người thân thuộc cho quản lý thuế quân để
phụng thờ hương hỏa. Trải các triều bao phong là Thượng đẳng phúc thần.
Hồ Quí Ly .
Hồ Qúy Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tôn tổ tiên thời trước là Hồ Hưng Dật,
vốn người Chiết Giang. Thời hậu Hán, đến giữ đất Diễn Châu, sau làm nhà tại làng
Bào Đột thuộc bản châu, nhân đó là trại chủ. Thời Lý, lấy công chúa Nguyệt Đích,
sinh ra Nguyệt Đoan Công chúa, đến đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm bỏ đất Diễn Châu

Thái Tông, Nhân Tông. Trải được nhận các chức Tá lý Dương vũ, Bảo chính Hiệp
gián, Đồng đức, Suy trung, Tán trị Tịnh nạn công thần, Thượng tướng quân Phiêu
kỵ trấn Thái Nguyên. Đặc tiến Khai phủ, Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nghi đồng
Tam ty, Nhập nội Kiểm hiệu Thái úy Bình chương Quân quốc trọng sự, Thái giám
nội ngoại chư dịch, Thượng trụ quốc. Ban cho túi vàng, phù hiệu bạc, tước Huyện
Thượng hầu, tặng là Liệt Quốc công, vâng tặng cho quốc tính.
Tổ tiên đời trước làm quan triều Trần, có công bình dẹp giặc Nguyên, đến đời
cha giữ chức Tổng chính. Sinh 4 con trai, ông là con út vậy. Thuở thiếu thời, cần
mẫn học hành, thường nằm nghỉ ngơi ở chùa Kiều Sơn, dưới bóng cây đại thụ
ngâm vịnh. Khi nhà Minh sai Trương Phụ sang xâm lược nước Nam, tiến quân vào
vây thành Tây Đô, bắt hai cha con họ Hồ. Tương truyền: Trương Phụ đi khắp các
quận huyện nước ta xem phong thủy. Một hôm, đến xã Kim Bôi, ngắm kỹ non
nước xứ này, hướng Càn có đồn binh, hướng Tốn có chỗ lên ngựa, Càn Tốn tương
ứng, binh mã trận bày, trong đất ấy ắt sẽ sinh ra tướng giỏi.
Năm Mậu Tuất (1418), người Minh cùng Thái Tổ đánh nhau, trận chiến nhiều
lần thất bại, liền đào lấy hài cốt tổ tiên Lăng Chiêu Hoàng (tổ tiên họ Lê), treo ở
sau thuyền để mong ước vua đầu hàng. Vua vô cùng tức giận, không thể nào thực
thi được kế hoạch. Ông đến trước mặt vua, xin được làm việc lớn, nhà vua đồng ý. 22
Ông liền cho cắt cỏ ven sông mà xuống, thẳng đến trước mũi thuyền giặc, trong
thuyền quân sĩ đang ngủ say, đều không biết. Ông bèn lên thuyền, lấy xương cốt
trở về. Sáng ngày hôm sau, người Minh kiểm tra việc ấy, không thấy hài cốt tổ tiên
họ Lê đâu, vô cùng sợ hãi, và cho rằng việc ấy là do trời giúp (Lê Lợi). Ông trở về
thuật lại mọi việc, vua nghe chuyện, kinh mừng lẫn lộn, trọng thưởng vàng lụa, ban
chức Thái giám.
Đến năm Bính Ngọ (1426), vua ra lệnh cho các tướng chia tuần theo các quận
huyện, lại lệnh cho ông cùng bọn Phạm Văn Xảo, Lê Triện tuần canh các xứ Thiên
Khai, Quảng Oai, Tam Đới, Tuyên Quang đề phòng để cắt đường tiếp viện binh từ

Vào niên hiệu Thuận Thiên nguyên niên (1428), Thái Tổ dẹp yên giặc Ngô,
phong tước công hầu, phong ông là Huyện hầu, ban cho quốc tính. Bàn Như Sơn
Qủy Cô nước Ai Lao là Khai Lại đem quân sang đánh phá, tình thế thật cấp bách,
phải tìm người cầu viện. Vua từ ngôi cao lệnh cho ông ra trận, đại phá được giặc,
bèn giết Kha Lại, giữ yên đất nước. Được ban bậc Tướng quân, trấn giữ giặc ở
Lương Giang, Tham tri chính sự, phong là Bảo chính công thần, tước Huyện
Thượng hầu.
Đầu niên hiệu Thiệu Bình, đời Thái Tông (1434), ông có hiềm khích với Tư đồ
Lê Sát, cho làm Thái sử Tuyên úy trấn Lộc Sơn (Lạng Sơn), lại giáng làm Nam
Sách hạ vệ Đồng tổng quản . Lúc bấy giờ, Lê Sát nắm công việc chính sự đã lâu,
trên ghét chuyên quyền, lại thêm nhiều lời dèm pha các đại thần, vua sinh lòng
ghét ông, liền đuổi bọn đồng đảng cùng ông là Lê Ê, Lê Hiêu đi.
Ngày thường Á Phụ dùng ông làm hành binh tổng quản, Nhập điển cấm binh.
Hoàng thượng biết được như vậy, lúc bấy giờ đã sai giết cả họ Lê Sát, lại phong
ông làm Thiếu phủ Tham tri chính sự. Từ đó, ngày một thêm thân, ông nói gì nhà
vua cũng nghe theo. Bấy giờ, bà Tiệp Dư họ Ngô (Ngô Thị Ngọc Giao) có mang,
vua nghi ngờ bà, liền bỏ giam ở Hoa Viên. Ông nhiều lần giảng giải, nên cứu bà 24
thoát tội. Đến khi mãn kỳ, sinh ra Thánh Tông, bà Tiệp Dư cảm ơn ông nói
rằng:"Không có công cứu mạng của ông thì mẹ con tôi đã không có ngày hôm nay".
Khi ấy, vua Thái Tông đi Kinh lý bên ngoài rồi mất, ông cùng các đại thần bàn
lập Nhân Tông lên ngôi. Lại còn việc ở Sơn Lăng được tặng làm Tư Mã. Đặc tiến
phong Bình chương Quân quốc Trọng sự. Năm Giáp Tý, niên hiệu Thái Hòa thứ 2
(1444), chúa Chiêm Thành là Bí Cai nhiều lần sang cướp Hóa Châu, vua lệnh cho
ông cất quân tiên phong. Các tướng Lê Thụ lần lượt cất quân theo sau. Ông giành
được thắng lợi, không kẻ nào dám chống lại. Ông lên trước chiếm phá thành Nại,
không một tên nào thoát ra được, quân giặc liền đầu hàng. Ông ban rượu thịt cho
chúng bớt kinh sợ, rồi mật dụ bọn giặc ra hàng và nói rằng: "Trong các ngươi, nếu

lại bị như vậy, chẳng cần đến tai họa, thiên hạ đều oán thán, dẫu trăm thân cũng
khó tránh. Mười một năm sau, Thánh Tông mắm quyền nhiếp chính, biết ông mắc
phải tội oan nhưng chẳng biết như thế nào? Truy tặng là Liệt Quốc công, ban cho
100 mẫu ruộng tế điền, lại chọn trong số con cháu của ông tiến dùng.
Đến khi Thánh Tông lên ngôi, truy nhớ tới ơn cứu mẹ nên gia phong là Hiển
Khánh vương. Lập tức, lệnh cho làng ông lập miếu thờ ở đấy, gia tặng theo lễ quốc
tế, gia phong Thượng đẳng phúc thần. Vua hết lòng yêu mến cháu con họ Trịnh,
nên chọn bọn hữu dụng để dùng.
Bảng nhãn Lưu Hưng Hiếu.
Ông người làng Hà Lương, xã Vĩnh Thành, làm nhà cách phía Đông chân núi
Đốn Sơn, khoa thi năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức năm thứ 12 (1481) đời Lê
Thánh Tông, lúc ấy ông 26 tuổi, thi Đình đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị
danh (Bảng nhãn). Tháng 11 năm Ất Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 26 (1495) nhân
lúc mọi việc thư nhàn, nhà vua sáng tác chín bài hát quỳnh uyển, gọi tên là Quỳnh
uyển cửu ca. Nhà vua thân hành soạn bài tựa, xưng là “Tao Đàn nguyên soái” rồi
hạ lệnh cho 28 văn thần họa lại gọi là Tao Đàn nhị thập bát tú. Trong số 28 văn
thần đó có Đông các Đại học sĩ Lưu Hưng Hiếu. 26
Năm Mậu Ngọ, năm đầu niên hiệu Cảnh Thống (1498) sau khi Lê Thánh Tông
mất, đưa thi hài về an táng tại Lam Kinh, nhà vua sai ông cùng Đông các Đại học
sĩ Thân Nhân Trung, Lễ bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ soạn văn bia gọi là Chiêu
Lăng, (ngày nay bia vẫn còn). Cùng năm ông được thăng Hàn Lâm viện thị giảng,
chưởng Hàn Lâm viện sự.
Năm Canh Thân niên hiệu Cảnh Thống thứ 3 (1500), ông được nhà vua cử
cùng với Hàn lâm viện thị thư Đỗ Nhân, Thông sự thi thừa Bùi Văn Giáo xin sang
sứ nhà Minh tạ về việc sách phong, lập được công lao, khi về được ban thăng chức
Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Chưởng Hàn lâm viện sự.
Ngày nay cháu con dòng họ Lưu không còn chi tộc nào sống trên quê hương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status