Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và mật độ trồng thích hợp của một số giống vừng vụ hè thu tại huyện vĩnh lộc, tỉnh thanh hoá - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI





 TRỊNH THÙY LAN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ
MẬT ĐỘ TRỒNG THÍCH HỢP CỦA MỘT SỐ GIỐNG VỪNG
VỤ HÈ THU TẠI HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HOÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Đình Chính
người thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GVC.TS.NGUT. Vũ Đình Chính
giảng viên Bộ môn Cây Công nghiệp và Cây Thuốc, Khoa Nông học, Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội, người đã luôn theo sát và tận tình hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Sau
Đại học, Khoa Nông Học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã luôn giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Lộc, Phòng
Nông nghiệp&PTNT, Phòng Thống kê, Phòng TNMT huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hoá cùng cán bộ, xã viên và nhân dân tại Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc,
tỉnh Thanh Hoá.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn ! Tác giả luận văn Trịnh Thùy Lan

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

Lộc, tỉnh Thanh Hóa. 39
4.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống vừng 39
4.1.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống vừng 40
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

iv

4.1.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống vừng 42
4.1.4 Một số đặc điểm sinh trưởng của các dòng, giống vừng 45
4.1.5 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các dòng, giống vừng 47
4.1.6 Sự tích lũy chất khô của các dòng, giống vừng 51
4.1.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống vừng 53
4.1.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống vừng 54
4.2 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống vừng V6 và vừng trắng
trong vụ hè thu năm 2011 tại huyện vĩnh lộc, tỉnh Thanh Hóa. 59
4.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian sinh trưởng của các giống vừng. 59
4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng chiều cao thân
chính của các giống vừng 61
4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số đặc điểm sinh trưởng
của các giống vừng 63
4.2.4 Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng diện tích lá và chỉ số
diện tích lá (LAI) của các giống vừng 66
4.2.5 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng tích lũy chất khô của các
giống vừng 71
4.2.6 Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ nhiễm sâu bệnh của các
giống vừng 74
4.2.7 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất của
các giống vừng 77
4.2.8 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất của các giống vừng 79

1.2 Tình hình xuất, nhập khẩu vừng trên Thế giới từ năm 2000 – 2009 15

1.3 Các nước xuất khẩu và nhập khẩu vừng lớn nhất Thế giới 16

1.4 Nhóm các nước sản xuất vừng lớn nhất trên Thế giới 16

1.5 Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam từ năm 2000-2010 25

1.6 Tình hình sản xuất vừng ở Thanh Hóa một số năm gần đây từ năm
2006 - 2010 26

1.7 Tình hình sản xuất vừng ở huyện Vĩnh Lộc một số năm gần đây từ
năm 2006 - 2010 27

4.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống vừng 40

4.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống vừng 41

4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống vừng 43

4.4 Số đốt, cành cấp 1 và chiều cao đóng quả của các dòng, giống vừng 46

4.6 Chỉ số diện tích lá ở một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các
dòng, giống vừng 50

4.7 Khả năng tích luỹ chất khô của các dòng, giống vừng qua các thời
kỳ sinh trưởng và phát triển 52

4.8 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng, giống vừng 54


4.19 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất của các
giống vừng 78

4.20 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất của các giống vừng 80

4.21 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thu nhập thuần của các giống
vừng (tính cho 1 ha) 82 Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT Tên hình Trang

1.1 Diến biến năng suất và diện tích vừng ở Việt Nam từ 2000 - 2010 25
4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống
vừng 44
4.2 Diện tích lá ở các thời kỳ sinh trưởng, phát triển 48
4.3 Chỉ số diện tích lá ở một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển của
các dòng, giống vừng 50
4.4 Khả năng tích luỹ chất khô của các dòng, giống vừng qua các
thời kỳ sinh trưởng và phát triển 52
4.5 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các dòng, giống
vừng 58

và ngày càng được sử dụng nhiều thay thế cho mỡ động vật, bởi khi ăn dầu
vừng tránh được bệnh xơ cứng động mạch và một số bệnh khác như chữa
thiếu sữa cho con bú của sản phụ, chữa tóc khô, rụng nhiều, tóc bạc sớm,
chữa hen suyễn … Ngoài ra, với đặc tính không bị ôxi hoá, có thể cất giữ
được lâu mà không bị ôi và với hương vị đặc thù nên dầu vừng được sử dụng
nhiều trong ngành công nghiệp thực phẩm (Phạm Văn Thiều, 2005) [21].
Hạt vừng được dùng làm thực phẩm cho người như ăn sống, rang ép
dầu ăn, làm dầu thắp, làm bánh kẹo và làm thuốc… Trong 100g vừng hạt có
chứa 560 – 580 calo, 18g protein, 20g hydratcacbon, 50 – 60g chất béo,
10,5mg sắt, 616mg photpho, 720mg kali, 60mg natri, 30 đơn vị Vitamin A,
0,8mg B1 …, đặc biệt lượng canxi trong vừng rất cao, gấp 20 lần lạc và nhiều
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

2

hơn thịt lợn nhiều lần và có lợi cho bệnh tim mạch, bệnh xốp xương, [21].
Trên Thế Giới, dầu vừng được dùng trực tiếp trong việc nấu nướng hoặc ăn
sống với rau và làm phụ gia trong công nghiệp thực phẩm như nước chấm,
công nghệ dược liệu, mỹ phẩm, thuốc sâu.
Dầu vừng còn được sử dụng nhiều trong việc bồi bổ sức khoẻ và trong các
công nghiệp dược phẩm. Đông y coi vừng là loại thuốc, vừng đen có tên là “Hắc
ma chi” làm thuốc bổ, thuốc nhuận tràng, lợi sữa … Theo Hải Thượng Lãn Ông
thì vừng có vị ngọt, tính bình, không độc, đi vào bốn kinh phế, tỳ, gan, thận, có tác
dụng ích gan, bổ thận, nuôi huyết, nhuận tràng, điều hoà ngũ tạng. Ngoài ra, dầu
vừng còn có những công dụng khác như điều trị mờ mắt, hoa mắt, chóng mặt và
đau đầu, thúc đẻ, sát trùng, tiêu uất khí [21].
Khô dầu vừng có 30 - 50 % protein, giàu tritophan và methionin dùng làm
bột chế biến thức ăn cho gia cầm, cho gia súc, loại kém thì dùng làm phân bón.
Vừng được sử dụng trong ngành công nghiệp như người Châu Phi đã dùng
vừng để tạo nước hoa và loại nước hoa Cô-lô-nhô nổi tiếng được sản xuất từ hoa

trồng ở đây là các giống địa phương nhiều năm không được chọn lọc, phục
tráng, ít có giống mới thay thế, vì thế đã bộc lộ nhiều nhược điểm như năng
suất không ổn định, dễ mắc các loại bệnh, độ thuần chủng của các giống
không bảo đảm, chất lượng không đồng đều của từng giống. Gây khó khăn
cho việc bố trí thời vụ, xây dựng các công thức luân canh mới cũng như việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trước tình hình đó, cần có những công trình
điều tra nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống, các giống vừng này nhằm
đánh giá đúng tiềm năng về năng suất, những ưu điểm và hạn chế của từng
giống để góp phần làm căn cứ khoa học cho việc bảo tồn gen quỹ và làm cơ
sở cho các chiến lược tạo giống mới và năng suất cao, chất lượng tốt, có khả
năng chống chịu sâu bệnh, thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai và trình
độ canh tác ở Thanh Hoá.
Với ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và mật độ trồng thích hợp
của một số giống vừng vụ hè thu tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

4

1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển nhằm mục tiêu xác định giống
vừng tốt có năng suất cao và mật độ trồng thích hợp của một số giống vừng vụ hè
thu tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh của
một số giống vừng tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng
suất của một số giống vừng tại địa phương
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài


Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

6

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Nguồn gốc và phân bố cây vừng
Theo tài liệu của các nhà sử học, những ghi chép của những nhà buôn và
sau đó là những nghiên cứu khoa học có hệ thống thì cây vừng là cây có dầu xưa
nhất. Quê gốc của vừng là Nam Phi [51], [60]. Tại đây đến nay còn rất nhiều vừng
hoang dại cho hạt nhưng có rất nhiều vị đắng, nếu dùng công nghệ xử lý thì tốn

Theo tài liệu của Trung Quốc, S. indicum được phân thành 2 loại phụ dựa
theo số tâm bì của quả, loài phụ có 2 tâm bì và loại phụ có 4 tâm bì, trong đó loại
phụ có 2 tâm bì được dùng rộng rãi trong sản xuất.
Cây vừng có nhiều giống, nhiều dòng khác nhau về thời gian sinh trưởng,
màu sắc của hạt và dạng cây.
Theo Nguyễn Thị Kim Ba (2005) [1] hiện nay phân loại vừng phụ thuộc
vào một số đặc tính thực vật như sau :
- Thời gian sinh trưởng: phân loại giống có thời gian sinh trưởng dài ngày
(trên 100 ngày) hoặc giống sinh trưởng ngắn ngày (dưới 100 ngày). Cách phân
loại này rất quan trọng khi chọn giống để luân canh với cây trồng khác như lúa,
bắp, đậu, khoai…
- Số khía trên quả: phân loại các giống vừng bốn khía, sáu khía, tám khía,
phân loại này dùng để chọn cỡ hạt nhỏ hay to.
- Quả bị nứt khi thu hoạch hay không bị nứt: phân loại này giúp cho việc
thu hoạch được đồng loạt hay không vì những giống không nứt quả khi thu hoạch
không bị nứt hạt.
- Màu hạt: đây là cách phân loại phổ biến nhất
Vừng đen (Sesamun indicum L.)
Vừng vàng (Sesamun orentalis L.)
Vừng đen cho màu có phẩm chất tốt và hàm lượng dầu cao hơn vừng trắng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

8

(nhất là vừng trắng một vỏ), vừng đen có giá trị xuất khẩu cao hơn vừng trắng.
- Vỏ hạt phân biệt vừng một vỏ với vừng hai vỏ, vì vừng một vỏ cho dầu
cao hơn vừng hai vỏ.
Ngoài các cách phân loại trên, người ta còn phân loại vừng theo thời vụ
trồng, số hoa ở nách lá, sự phân cành trên thân.
2.2.2. Một số giống được trồng phổ biến hiện nay

cấp hai mang quả, chiều cao từ 90 - 100 cm, thời gian sinh trưởng 100 ngày, năng
suất cao nhất trong các giống 1,6 tấn/ha, tuy nhiên hạt có nhiều màu sắc khác nhau
(có cả đỏ, trắng, nâu), rất khó khi chọn hạt để xuất khẩu.
- Giống vừng đen Nghệ An: quả ra từng chùm ở nách lá, cây phân cành
nhiều. Thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày. Hạt màu đen, năng suất đạt 400 - 600
kg/ha. Giống này không chỉ được trồng ở Nghệ An mà còn ở Hà Tĩnh, Quảng
Bình,
- Giống vừng đen Đồng Nai: phân cành ít, thời gian sinh trưởng khoảng 80
ngày, cây cao từ 110 - 120 cm. Hàm lượng dầu thấp hơn giống vừng vàng. Năng
suất bình quân khoảng 10 tạ/ha.
* Một số giống vừng khác: từ năm 1995 đến nay công tác nghiên cứu khảo
nghiệm giống vừng được chú trọng, Việt Nam đã có 40 giống trong đó các giống
vừng trắng V6, vừng đen V36, VĐ10 cho năng suất và phẩm chất cao hơn cả.
- Đặc điểm giống vừng V6:
+ Số mắt trên cây 10 - 15, số quả/mắt 3,0 - 3,7, số quả/cây 37 - 46
+ Năng suất trong điều kiện thâm canh có thể đạt 9,5 - 13,6 tạ/ha.
+ Tỉ lệ dầu 52,98 %, chỉ số axit trung bình 1,25, hàm lượng protein 26,12
%, độ lẫn màu 2,7 %, khối lượng 1000 hạt trung bình 2,8 g.
- Đặc điểm giống vừng V36:
+ Tỉ lệ dầu 52-55 %, chỉ số axit 0,25-1 %, hàm lượng protein 27-29 %, độ
lẫn màu 0,8- 1 %, khối lượng 1000 hạt 2,8 g.
2.2.3. Sinh trưởng và phát triển của cây vừng.
Thời gian sinh trưởng của vừng biến động 75 - 120 ngày phổ biến khoảng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

10

75 ngày. Theo Nguyễn Văn Bình và cs (1996) [4] quá trình sinh trưởng phát triển
của cây vừng được chia làm 3 giai đoạn:
* Thời kỳ mọc mầm

C,
nhiệt độ dưới 18
0
C gây nguy hại cho sự phát triển của cây. Đất đủ ẩm và trời
ấm, thân lá phát triển tốt và đều nên chiều cao cây có thể đạt 120 cm, số mắt
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

11

trên cây cao, số quả nhiều.
Trong thời kỳ này quá trình sinh lý quan trọng nhất của vừng là sự sinh
trưởng của các bộ phận dinh dưỡng và sự phân hoá đốt, mầm hoa.
Mưa lớn kéo dài nếu không tháo nước kịp sẽ làm cho cây con chết hàng
loạt. Đồng thời cây con cũng rất dễ bị cỏ dại lấn át, tranh chấp ánh sáng và dinh
dưỡng làm cho vừng “chột” không vươn cao được. Thiếu ánh sáng sẽ làm ảnh
hưởng đến quá trình quang hợp và phân hoá hoa, cây con dễ bị nhiều loài sâu hại
như sâu xanh, sâu cuốn lá, bọ xít …
Do bộ rễ vừng ăn nông nên đòi hỏi tầng đất mặt phải phì nhiêu, để kích
thích bộ rễ phát triển cây cần được bón đầy đủ N, P, K.
* Thời kỳ ra hoa, làm quả cho đến chín
Được tính từ khi cây ra hoa đầu tiên cho đến khi quả chín thu hoạch. Thời
gian ra hoa kéo dài khoảng 15 - 20 ngày. Trên cây vừng vừa có hoa vừa có quả,
những hoa ở phía gốc đã hình thành quả trong khi những hoa ở phía trên ngọn tiếp
tục nở để hình thành quả. Sau khi ra hoa thân lá vẫn tiếp tục phát triển.
Thời kỳ ra hoa làm quả cây cần nhiều nước hơn so với các thời kỳ khác
(chiếm 45 % tổng lượng nước mà cây cần). Khô hạn và mưa lớn đều ảnh hưởng
đến việc ra hoa hình thành quả trên cây.
Mật độ cây trên đơn vị diện tích cũng chi phối lớn đến năng suất. Mật độ
cây quá cao sẽ dẫn đến hiện tượng rụng hoa hoặc chột quả khi mới hình thành và
tăng số hạt lép nên số hạt/quả cũng giảm rõ rệt. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu

C. Nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm, sinh trưởng, các bộ phận dinh dưỡng
và sự hình thành hoa khoảng 25 - 27
0
C. Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và sự
phát triển quả vào khoảng 28 - 32
0
C. Nếu nhiệt độ dưới 20
0
C kéo dài thời gian
nảy mầm. Nhiệt độ dưới 18
0
C sẽ gây khó khăn cho sự phát triển và nếu nhiệt độ
dưới 10
0
C cây ngừng phát triển và chết. Nhiệt độ cao trên 40
0
C vào thời gian ra
hoa sẽ ảnh hưởng sự thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số
hoa, số quả trên cây và ảnh hưởng đến năng suất của vừng [1].
2.3.2. Ánh sáng
Vừng là cây ngày ngắn. Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10
giờ/ngày sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng của vừng. Vừng sẽ nở hoa sớm hơn 15
- 20 ngày trong điều kiện tự nhiên 12 giờ/ngày.
Cường độ ánh sáng, số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất của vừng. Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, vừng cần
khoảng 200 - 300 giờ nắng/tháng cho tới khi quả chín.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

13



14

truởng đầu. Tính thích nghi của vừng ở nhiều loại đất đã được đề cập đến từ lâu.
Cách đây nhiều thế kỷ, người Roma cho rằng: vừng yêu cầu đất phải tơi xốp, đất
giàu dinh dưỡng (dẫn theo [1]).
Các loại đất cát, cát pha có pH từ 5,5 - 8 đều trồng được, nhưng tốt nhất là
pH = 6. Ẩm độ thích hợp nhất 70 %. Đối với đồng bằng sông Cửu Long như An
Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, một số vùng ven Thành Phố Hồ Chí Minh và các
tỉnh miền trung là nơi thích hợp phát triển vừng. Vừng rất thích hợp với đất phù sa
ven sông như: Cồn Khương (Cần Thơ), ở Châu phú (An Giang) do phú sa bù đắp
sau vụ lúa nổi, trồng vừng thường cho năng suất cao [1]
2.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu vừng trên Thế giới
2.4.1. Tình hình tiêu thụ và sản xuất vừng trên Thế giới
Cây vừng được xếp ở vị trí thứ 9 trong 13 cây lấy dầu hàng đầu thế giới và
được trồng ở hơn 60 nước. Vừng mặc dù là nguyên sản ở vùng nhiệt đới Nam Phi,
nhưng hiện nay vừng được sản xuất chủ yếu châu Á và các khu vực khác
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất vừng và thương mại theo khu vực
Khu vực
Diện tích

( 1000 ha)
Sản lư
ợng
(1000 tấn)

Nhập khẩu

(tấn)
Giá trị

cùng là nước nhập khẩu vừng gấp 1,64 lần sản lượng sản xuất ra và châu Phi
chính là khu vực đáp ứng yêu cầu đang tăng cao của thị trường châu Á. Tổng
giá trị xuất khẩu vừng trên Thế giới năm 2009 xấp xỉ đạt 1,52 tỷ USD, trong
đó châu Á và châu Phi cũng đạt giá trị xuất khẩu cao nhất tương ứng 520,416
và 766,664 triệu USD. Giá trị xuất khẩu vừng của châu Đại Dương không
đáng để chỉ đạt 147 nghìn USD (xem bảng 1.1).
Bảng 1.2. Tình hình xuất, nhập khẩu vừng trên Thế giới từ năm 2000 – 2009
Năm
Xuất khẩu
(tấn)
Giá trị xuất khẩu
(1000 USD)
Nhập khẩu
(tấn)
Giá trị nhập
khẩu (1000 USD)
2000 762.067 548.323 734.237 576.858
2001 742.843 464.890 752.269 543.415
2002 706.831 399.602 751.698 468.356
2003 745.532 555.596 810.337 619.150
2004 775.747 670.535 933.054 868.173
2005 1.019.925 842.680 973.026 861.070
2006 1.038.060 882.259 1.117.384 978.912
2007 1.015.645 1.049.081 1.032.699 1.022.924
2008 968.034 1.410.960 1.029.482 1.732.172
2009 1.222.883 1.517.428 1.165.323 1.623.314

Số liệu bảng 1.2 cho thấy: tình hình tiêu thụ vừng trên Thế giới tăng mạnh
từ năm 1961 đến nay, đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây. Năm 2006, sản
lượng vừng nhập khẩu trên Thế giới đạt 1.117.384 tấn, đến năm 2008 giảm không

Myanmar 1.580.000 4,604 722.900
Sudan 1.273.020 1,948 248.000
Trung Quốc 481.331 12,215 587.947
Ethiopia 315.843 9,942 314.000
Nigeria 308.229 3,750 115.586
Uganda 280.000 6,071 170.000
Niger 172.207 4,976 85.694
Burkina Faso 125.471 7,225 90.649
Chad 102.000 3,431 35.000
Thế giới 7.812.711 4,910 3.836.030
(Nguồn: FAOSTAT, 2011)

Trích đoạn Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống vừng Sự tích lũy chất khô của các dòng, giống vừng Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống vừng Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống vừng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status