Bước đầu tìm hiểu về loại hình di tích hố đất đen trong một số địa điểm văn hoá Phùng Nguyên - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XA
̃
HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ANH THƯ

Bước đầu tìm hiểu về loại hình di tích hố đất đen
trong một số địa điểm văn hoá Phùng Nguyên

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHẢO CỔ HỌC
bd. Bản dập hoa văn đồ gốm
bđ. Bản đồ
bv. Bản vẽ
h. Hố đất đen
hc. Hố cột
sđ. Sơ đồ

8
Mục lục

Tr
Lời cam đoan
1
Bảng các chữ viết tắt
2
Danh mục các bảng thống kê
3
Danh mục phụ lục minh hoạ
4
Mục lục
9
Mở đầu
10
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết trong
luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Kết quả đóng góp của luận văn
6. Bố cục


3.1. Đặc trưng di vật di chỉ Gò Hội
3.1.1. Đồ đá
3.1.2. Đồ gốm
54
3.2. Đặc trưng di vật di chỉ Đình Chiền
3.2.1. Đồ đá
3.2.2. Đồ gốm
77
3.3. Nhận xét
94
3.4.Niên đại di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
99
3.5.Tiểu kết chương 3

Chương 4. bước đầu tìm hiểu loại hình di tích hố đất đen trong một số địa
điểm văn hoá Phùng Nguyên
101
Kết luận

Tài liệu tham khảo
120
Phụ lục
9
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chặng đường 45 năm phát hiện và nghiên cứu

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết
trong luận văn
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các hố đất đen trong di chỉ
Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc) và Đình Chiền (Đông Anh-Hà Nội).
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu trình bày kết quả nghiên cứu về
loại hình hố đất đen trong di chỉ Gò Hội và Đình Chiền qua hai lần khai quật.
Đây là những tư liệu mới, được tác giả trực tiếp chỉnh lý và tập hợp khá đầy
đủ. Bên cạnh đó, luận văn hệ thống và sử dụng các tư liệu và báo cáo khai
quật về loại hình di tích hố đất đen trong các di chỉ thuộc văn hoá Phùng
Nguyên từ trước tới nay, đồng thời tham khảo một số báo cáo về loại hình di
tích cùng thời ở Vân Nam - Trung Quốc.
Vấn đề chính cần giải quyết trong luận văn: Phân loại, xác định đặc
trưng và tìm hiểu quá trình hình thành, chức năng, công dụng các hố đất đen
trong di chỉ Gò Hội, Đình Chiền; mối liên hệ giữa Gò Hội, Đình Chiền với
cụm di tích đồng dạng trong văn hoá Phùng Nguyên và các văn hoá khác
trong khu vực.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Để tiếp cận đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp khảo cổ học
truyền thống, cụ thể là điều tra, điền dã, thám sát, khai quật, đo vẽ, chụp ảnh,
miêu tả, phân loại tư liệu, xử lý tư liệu địa tầng nhằm phản ánh được một
cách đầy đủ, chính xác và khách quan mối tương quan giữa di tích và di vật.
4.2. Trong luận văn, phương pháp cơ bản là phương pháp phân loại, so
sánh loại hình di tích và di vật. Bằng phương pháp này, chúng ta có thể rút ra
đặc điểm phân bố, quá trình hình thành, phát triển của loại hình di tích hố đất

11
đen trong di chỉ Gò Hội và Đình Chiền và một số địa điểm khác thuộc văn
hoá Phùng Nguyên.
4.3. Luận văn áp dụng phương pháp thống kê, sử dụng các kết quả
phân tích bằng các phương pháp khoa học tự nhiên làm cơ sở cho việc xác

Địa điểm khảo cổ học Gò Hội nằm ở thôn Đồng Soi, xã Hải Lựu,
huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Là đỉnh đầu tiên của tam giác châu thổ Bắc
Bộ, lại nằm ở vị trí ngã ba hệ thống sông Hồng, sông Đà, sông Lô nên Vĩnh
Phúc sớm trở thành một trung tâm hội tụ nhiều di chỉ văn hoá thời Tiền – Sơ
sử [33].
Lập Thạch là một huyện miền núi ở phía Tây Bắc tỉnh Vĩnh Phúc,
phía Bắc và Đông Bắc có dãy núi Tam Đảo và núi Sáng làm ranh giới tự
nhiên với hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang; phía Tây có sông Lô bao
bọc; phía Đông và Đông Nam là con sông Phó Đáy ngăn cách địa giới với hai
huyện Tam Dương và Vĩnh Tường (bđ.1). Diện tích tự nhiên của Lập Thạch
là 41.205,8 ha.
Vĩnh Phúc có 3 loại địa hình chính: địa hình miền núi, địa hình vùng
đồi và địa hình vùng đồng bằng. Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng
chục km, là vùng nâng liên tục do hoạt động của hai đứt gãy sông Lô và sông
Chảy, bắt đầu từ cuối giai đoạn Hecxini (300 triệu năm cách ngày nay). Lập
Thạch thuộc dạng địa hình núi thấp, một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn mà
đại diện cho loại địa hình này là núi Sáng ở địa phận hai xã Đồng Quế và
Lãng Công (Lập Thạch), cao 633m [16, 69-70].
Về mặt địa tầng, các thành tạo trầm tích, phun trào phân bố ở Vĩnh
Phúc gồm có giới Proterozoi, Mezozoi và Kainozoi, tổng chiều dày hàng chục
km phân chia thành các phân vị địa tầng sau:

13
- Giới Proterozoi (trầm tích biến chất cao từ đá phiến kết tinh đến
Amphibolit) đại diện là hệ tầng sông Hồng phân bố ở 3 vùng: Lập Thạch, Yên
Lập, Việt Xuân (Vĩnh Tường) và Vĩnh Yên. Bề dày các thành tạo Proterozoi
khoảng 1200-1500m.
Tại Lập Thạch: đất đá hệ tầng sông Hồng phân bố quanh khu vực núi
Sáng ở các xã Quang Sơn, Hợp Lý, Bắc Bình, Liễn Sơn. Thành phần gồm có
đá phiến thạch anh mica, granit, gơnaibiotit, đá hoa bị biến chất nhiệt động rất

Sông Phó Đáy phát nguyên từ Bắc Kạn, chảy qua Tuyên Quang, vào
địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Lập Thạch) ở bờ phải và xã Yên
Dương ở bờ trái, chảy giữa huyện Lập Thạch và 2 huyện Tam Dương, Vĩnh
Tường rồi đổ vào sông Lô. Sông Phó Đáy có lưu lượng bình quân 23m
3
/s, lưu
lượng cao nhất là 833m
3
/s, mùa khô lưu lượng chỉ 4m
3
/s. Lưu lượng phù sa
của sông Phó Đáy cũng như sông Lô ở khoảng 2.440kg/m
3
.
Ngoài hệ thống sông ngòi, Lập Thạch còn có hệ thống đầm hồ lớn như
hồ Đá Ngang, hồ Khuôn, hồ Suối Sải, hồ Vân Trục, hồ Bò Lạc… [16, 76-77].
Về khí hậu, Vĩnh Phúc có hai mùa rõ rệt trong năm: Mùa khô bắt đầu
từ tháng 11 đến tháng 3 và mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10.
Mùa khô thường chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh thổi từ phương Bắc
đến từ cuối tháng 11 đến tháng Giêng. Mùa mưa thường có gió nồm theo
hướng Đông và Đông Nam đem theo nhiều hơi nước. Lượng mưa 6 tháng
mùa khô trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc dao động từ 330-360mm trong khi đó 6
tháng mùa mưa bình quân mưa tới 1.101mm. Nhiệt độ cao, mưa to, gió lớn,
hay có giông, mỗi năm có vài trận bão, độ ẩm cao. Nhiệt độ bình quân ở Lập
Thạch là 19-23
0
C. Lượng mưa trung bình khoảng 2.600mm/năm, cường độ
mưa ở mùa mưa lớn nên đất đá đồi núi bị rửa trôi xói mòn mạnh và thường
gây ngập úng lũ lụt. Những tháng ít mưa, lượng mưa bình quân là 38-
94mm/tháng. Số giờ nắng 1034

kia sông Lô là di chỉ Xóm Rền (xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh – Phú Thọ) –
một di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên (bđ. 3).
Như trên đã nói, di chỉ Gò Hội nằm ở thôn Đồng Soi, xã Hải Lựu,
huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là một gò đất đỏ có diện tích khoảng
2ha, nằm trên cánh đồng màu. Gò Hội có toạ độ 21°28’30” vĩ độ Bắc và
105°20’50” kinh độ Đông [23, 87], cách sông Lô khoảng 300m về phía Tây
và cách trung tâm xã Hải Lựu khoảng 1km về phía Tây Nam (ba.1).

16
Gò Hội nằm trong hệ thống những đồi gò thấp ở ven sông, xung
quanh được bao bọc bằng những dải ruộng trũng. Phía Bắc và Đông Bắc gò là
Đồng Trang; phía Đông và Đông Nam là Trũng Hóp, phía Tây Nam là đồng
Cây Xộp. Qua các dải ruộng trũng này, về phía Nam Gò Hội là Gò Rào, phía
Tây là Gò Ông Vựa và xa hơn - gần phía sông Lô là Gò Bỏi (ba.3). Gò Hội,
xét về độ cao, là thấp nhất so với các gò ở đây (Sđ.1).
1.1.2. Vị trí địa lý, cấu tạo địa chất, địa hình, cảnh quan di chỉ
Đình Chiền (Liên Hà - Đông Anh)
Địa điểm khảo cổ học Đình Chiền thuộc thôn Lỗ Khê, xã Liên Hà,
huyện Đông Anh, huyện ngoại thành nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội có
diện tích 184,16km
2
bao gồm 23 xã, 1 thị trấn. Phía Bắc giáp huyện
Sóc Sơn, phía Tây giáp huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), phía Đông giáp hai
huyện Yên Phong và Từ Sơn (Bắc Ninh), phía Tây Nam và Đông Nam
có con sông Hồng là gianh giới tự nhiên với thủ đô Hà Nội và huyện
Gia Lâm (bđ.2).
Đông Anh nằm ở vị trí khá đặc biệt. Nếu phân chia tam giác châu sông
Hồng thành 3 vùng với giới hạn một bên là dãy Ba Vì, một bên là dãy Tam
Đảo và trục chính là sông Hồng: vùng cao (thượng), vùng giữa (trung), vùng
thấp (hạ) ứng với 3 đỉnh tam giác châu thì Vĩnh Phú là vùng đỉnh xưa nhất

3
/s, thấp nhất về mùa cạn là
840m
3
/s, mùa lũ là 7.020m
3
/s. Sông Hồng qua địa phận Hà Nội từ xã Phong
Vân (Ba Vì) đến xã Trung Châu (Đan Phượng). Đoạn từ xã Trung Châu đến
xã Liên Trung (Đan Phượng) là ranh giới giữa 2 huyện Từ Liêm và Đông
Anh.
Sông Cà Lồ là 1 nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung Hà (Yên
Lạc, Phú Thọ), là ranh giới tự nhiên giữa huyện Sóc Sơn và huyện Mê Linh,
Đông Anh.

18
Ngoài hệ thống sông chính, giang phận Đông Anh còn có sông Đuống
ở phía Đông Nam, sông Thiếp ở phía Đông Bắc, sông Ngũ Huyện Khê ở phía
Đông. Rải rác khắp nơi là hệ thống đầm, hồ, ao chuôm cổ từ chân núi Sóc đến
vùng thềm phù sa cổ. Đáng chú ý là dọc đôi bờ sông Ngũ Huyện Khê là địa
bàn tập trung dày đặc các di chỉ khảo cổ học thời đại Kim khí như Đồng Vông
(Cổ Loa), Xuân Kiều (Dục Nội), Tiên Hội (Đông Hội), Bãi Mèn (Cổ Loa),
Đình Tràng (Dục Tú), Đường Mây (Cổ Loa), Lỗ Giao (Liên Hà), Đình Chiền
(Lỗ Khê)… [34, 30].
Về khí hậu, Đông Anh cũng như các tỉnh đồng bằng Bắc bộ mang đặc
điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, khô nhưng cuối mùa khá
ẩm ướt với hiện tượng thời tiết nồm và mưa phùn. Mùa hạ nắng nóng, nhiều
mưa. Nhiệt độ bình quân từ 23-24
0
C. Lượng mưa trung bình khoảng 1.600-
1.800mm/năm, độ ẩm trung bình 82% [31].

trang sức bằng đá, rìu đồng và một mũi giáo đồng màu xanh đen [32]. Tại xã
Dục Tú nằm ở phía Đông Nam xã Liên Hà cũng phát hiện được di chỉ Đình
Tràng – nơi tìm thấy diện mạo của cả ba giai đoạn văn hoá nối tiếp nhau
Đồng Đậu – Gò Mun - Đông Sơn, niên đại 2.200-3.500 năm cách ngày nay.
1.2. Quá trình phát hiện và nghiên cứu vấn đề
Văn hóa Phùng Nguyên (giai đoạn hậu kỳ) xuất hiện một loại hình di
tích đáng chú ý với các hố đất đen lớn ăn sâu vào sinh thổ, phân bố dày đặc
trong các hố khai quật, trong khi tầng văn hoá tìm được khá mỏng, dấu vết cư
trú rất mờ nhạt. Loại hình di tích này đã được phát hiện từ những năm 1959 ở
các di chỉ Phùng Nguyên, Nghĩa Lập, Lũng Hòa, Đồng Đậu (lớp Phùng
Nguyên) và gần đây là Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc), Đình Chiền (Lỗ
Khê - Đông Anh), Bãi Mèn (Cổ Loa-Đông Anh), Thành Dền (lớp dưới cùng)
(Mê Linh - Vĩnh Phúc)

20
Di chỉ Phùng Nguyên (xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ)
được phát hiện năm 1959 và được khai quật 3 lần với tổng diện tích khai quật
hơn 3.960m
2
.
Đợt khai quật lần thứ nhất, năm 1959, Đội Khai quật đã đào 2 hố thám
sát, 6 hố khai quật, diện tích 158m
2
, phát hiện được 9 hố đất đen có kích
thước lớn, những người khai quật gọi đó là những bếp lò. Do là cuộc khai
quật đầu tiên nên có thể những hố đất đen nhỏ, đường kính từ 0,1m-0,2m
không được chú ý và đã bị đào đi cùng tầng văn hoá. Vì vậy, số lượng hố đất
đen trên thực tế có thể sẽ nhiều hơn số hố được thống kê trong báo cáo [19,
27-34].
Đợt khai quật lần thứ hai, năm 1961, Đội Khảo cổ đã đào

hoá Phùng Nguyên [7].
Di chỉ Lũng Hoà (xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)
được phát hiện năm 1963. Năm 1965-1966, Đội Khảo cổ đã đào 4 hố với diện
tích 365m
2
. Từ cuối lớp thứ 3 xuất hiện một số hố đất đen phân bố không theo
qui luật, hình dạng gần tròn, đường kính từ 0,3m-0,4m, sâu từ 0,1m-0,15m,
trong hố chứa công cụ đá, một số mảnh gốm thô, kích thước khá lớn và hai hố
tròn tương đối lớn, đường kính từ 1,2m-2,3m, sâu từ 0,7m-1,5m. Những
người khai quật cho rằng, những hố đất đen này lúc đầu được đào làm nơi cất
dấu lương thực, dụng cụ, sau khi không dùng nữa nó biến thành chỗ chứa
đựng những đồ gốm vỡ cũng như những vật hư hỏng hàng ngày [3]. Để
nghiên cứu thêm, năm 2000, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã mở một hố thám
sát tại Lũng Hoà, diện tích 23m
2
. Trên bề mặt sinh thổ xuất hiện những hố đất
đen lớn hình vuông kích thước khoảng 1m, sâu trên dưới 2m, ăn sâu vào sinh
thổ, đất trong hố có màu đen lẫn nhiều than tro, đất nung, hiện vật đá và các
mảnh gốm lớn có thể phục nguyên hoặc gần nguyên. Hiện tượng này rất
giống với các hố đất vuông ở di chỉ Đồng Đậu [29, 203].
Di chỉ Nghĩa Lập (xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh
Phúc) được phát hiện năm 1962-1963, được Đội Khảo cổ khai quật năm 1967,
5 hố với tổng diện tích 180m
2
. Lớp thứ 3 đã phát hiện được 17 hố đất đen
rộng từ 0,8-1,0m, sâu khoảng 0,43-1,0m và 144 lỗ cọc, phân bố đều khắp diện
tích khai quật. Hiện vật trong hố đất đen không nhiều, chủ yếu là các mảnh
gốm vỡ và một số đồ đá. Có một số mảnh nồi vỡ còn tương đối lớn có thể
phục chế được. Đồ đá có rìu, vòng, bàn mài. ở một số hố có dấu vết của than


Di chỉ Bãi Mèn (Cổ Loa-Đông Anh-Hà Nội) được phát hiện vào năm
1959, đến nay đã qua 4 lần thám sát và khai quật với tổng diện tích lên tới
trên 700m
2
. Đợt khai quật tháng 10-2003 của Viện Khảo cổ học, cũng tìm

23
thấy 23 hố đất đen đào sâu vào sinh thổ [12] trong đó có 1 hố có cấu trúc
tương tự như một số hố đất đen ở Đình Chiền. Di chỉ này đến nay chưa có
báo cáo khai quật.
Di chỉ Thành Dền (Tự Lập-Mê Linh-Vĩnh Phúc), được phát hiện năm
1970 và đã trải qua hai lần thám sát vào năm 1972, 1982, bốn lần khai quật
vào các năm 1983, 1984, 1996, 2004 với tổng diện tích 179,5m
2
[26; 24; 20;
10; 22]. Cuộc khai quật lần thứ nhất, báo cáo khai quật có nhắc đến những hố
đất đen đào vào sinh thổ sâu tới 2,5m nhưng không miêu tả cụ thể về kích
thước và cấu trúc của chúng [26]. Cuộc khai quật năm 2004, tại hố HI đã phát
hiện 4 hố đất khá vuông xuất hiện từ lớp 11, có kích thước từ 0,8m-2,0m, sâu
từ 0,77m-1,26m đào sâu vào sinh thổ. Những người khai quật đưa ra giả thiết
rằng đây là những hố đào để lấy đất sét làm gốm, sau đó trở thành nơi vứt
những đồ gốm, công cụ đá vỡ, hỏng. Niên đại của các hố đất đen này thuộc
giai đoạn Phùng Nguyên muộn và Đồng Đậu sớm [10; 22].
Như vậy, những kết quả nghiên cứu về hố đất đen qua các cuộc khai
quật nêu trên cho thấy loại hình di tích hố đất đen xuất hiện khá phổ biến
trong một số địa điểm thuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên muộn nhưng
hầu như chưa được chú ý đúng mức và tách riêng để nghiên cứu.
1.3. Kết quả khai quật di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
1.3.1. Kết quả khai quật di chỉ Gò Hội
Di chỉ Gò Hội (toạ độ 21°28’30” vĩ độ Bắc, 105°20’50” kinh độ

Diễn biến địa tầng giữa các hố trong đợt khai quật này có sự khác
nhau. Hố khai quật 02.GH.HI và 02.GH.HII có địa tầng giống nhau (bv.1, 2),
và khác với địa tầng hố 02.GH.HIII (bv.3) và 02.GH.TS (bv.4).
Diễn biến địa tầng hố 02.GH.HI và 02.GH.HII:
- Lớp đất canh tác dày 40-50cm, đất vàng đỏ tơi xốp lẫn một số mảnh
gốm thô và một vài mảnh gốm sứ muộn, đất khá mịn.
- Dưới lớp đất canh tác, trên bề mặt của cả hai hố I và II xuất lộ nhiều
vòng đất đầu ruồi sẫm màu (hố đất đen) trên mặt phẳng đất sét vàng đỏ, có
đường kính trung bình trên 1m và những lỗ đất đen nhỏ, có đường kính dưới
30cm (ba.4). Các hố đất đen đều ăn sâu xuống sinh thổ, trong hố chứa gốm
vụn nén chặt lẫn đất nung, than tro và đôi khi cả thổ hoàng. Những lỗ đất sẫm
màu nhỏ đa phần có dạng gần tròn giống lỗ cột, chỉ chứa vài mảnh gốm nhỏ
và ít than tro. Hiện vật thu được chủ yếu trên bề mặt, trong và dưới đáy những
hố đất đen, khu vực xung quanh hầu như không thấy hiện vật.
- Sinh thổ là đất laterit cứng, màu đỏ.

25
Diễn biến địa tầng hố 02.GH.HIII:
- Lớp đất canh tác màu vàng đỏ dày khoảng 30-40cm, đất tơi mịn lẫn
một số mảnh gốm thô, mảnh gốm sứ muộn.
- Tầng văn hóa là lớp đất đầu ruồi sẫm màu, dàn trải không đều, dày
khoảng 30-40cm ở góc A (phía gần vách ngoài của gò) và mỏng dần ở các
góc B và D của hố khai quật (phía trong gò). Không thấy hiện tượng hố đất
đen có chứa các cụm hiện vật như hai hố khai quật I và II ở phía Tây Nam gò,
do đó ở đây đã sử dụng phương pháp khai quật truyền thống bóc từng lớp dày
5cm. Hiện vật khá thưa gồm một số mảnh gốm vụn và một vài công cụ đá
như rìu, bàn mài Xuất lộ một số đồ gốm nguyên rải rác ở các ô d5, d6.
Những đồ gốm này rất mỏng và bở nên rất khó phục dựng hình dáng. Hiện
vật đá và gốm của hố III không có sự khác biệt so với hố I và II.
- Sinh thổ là đất Laterit màu đỏ, cứng.

2
(3x2m) mở theo địa hình dọc
theo bờ ruộng nơi có vách thám sát Đông Nam năm 2002, hướng Bắc lệch Đông
26
0
. Hố này được mở ở phía Nam hố khai quật 03.GH.HII. Khoảng cách tính từ
góc C hố khai quật 03.GH.HII đến góc B hố khai quật 03.GH.HIII là 5m.
Tổng diện tích khai quật lần hai là 116m
2
[21]
Tư liệu địa tầng hai hố khai quật 03.GH.HI và 03.GH.HII tương đối
giống nhau và khác với diễn biến địa tầng của hố 03.GH.HIII.
Diễn biến địa tầng hố 03.GH.HI và 03.GH.HII:
03.GH.HI: Lớp mặt là đất canh tác màu đỏ vàng dày khoảng 30m-
40cm, tơi xốp. Hiện vật trong lớp này lẫn lộn gồm một số mảnh gốm cổ, rìu
bôn, mảnh vỡ công cụ đá và mảnh sành, sứ muộn. Sau lớp canh tác, trên bề
mặt hố khai quật xuất lộ 6 hố đất đen có hình dạng khác nhau ăn sâu xuống
sinh thổ, đường kính dao động từ 0,5m-2m, sâu từ 0,3m-1,8m và một số hố
cột nhỏ (ba 5, 6). Vì vậy chúng tôi sử dụng phương pháp khai quật truyền
thống là bóc từng lớp 5m-10cm đối với những khu vực có vết tích cư trú và
sử dụng phương pháp cắt 1/4 hoặc 1/2 đối với những hố/lỗ đất đen như ở lần
khai quật đầu tiên.

27
Phần phía Bắc hố khai quật 03.GH.HI xuất lộ những khoang đất màu
xám trắng hoặc xám đen loang lổ, là những vết tích cư trú của cư dân Gò Hội.
Sinh thổ là lớp sét vàng đỏ ở độ sâu trung bình khoảng 50cm (bv.5).
03.GH.HII: Dưới lớp đất canh tác màu nâu (dày khoảng 30cm-
40cm), bề mặt nửa phía Bắc hố khai quật xuất lộ 5 hố đất đen với độ sâu và
đường kính khác nhau (ba.7, 8) ăn sâu xuống sinh thổ. Nhìn chung, những

(ký hiệu 03.GH.VTS) thì các vách 03.GH.VTS.1, 2 và 3 có địa tầng khá đồng
nhất. Các vách này được phát lộ rõ ở phía Đông và Đông Bắc di chỉ. Vách
03.GH.VTS.1 mở nối tiếp về phía Bắc vách thám sát Đông Nam của năm
2002. Vách 03.GH.VTS.2 mở ở vách ruộng trên của hố khai quật 03.GH.HII
phía Tây Bắc - cách hố khai quật 5m. Vách 03.GH.VTS.3 ở phía Đông Bắc
gò.
Địa tầng các vách 1, 2 và 3 cho thấy: Phía dưới lớp đất canh tác màu
vàng đỏ, dày khoảng 30cm-50cm là tầng văn hóa. Tầng văn hóa ở vách
03.GH.VTS.1 dày khoảng 50cm; các vách 03.GH.VTS.2 và 3 tầng văn hóa
xuất lộ dày khoảng 20cm và còn tiếp tục ăn sâu xuống.
Vách 03.GH.VTS.4 ở phía Tây gò, cách vách thám sát Tây Bắc năm
2002 khoảng 50m, vách 03.GH.VTS.5 ở phía Tây Nam gò - gần với các hố
khai quật 02.GH.HI, 02.GH.HII và 03.GH.HI. Địa tầng ở các vách này không
liền khoảnh, dấu tích văn hóa xuất lộ theo dạng các hố đất đen ở dưới lớp
canh tác. Các hố đất đen xuất lộ trên các vách này rộng khoảng 2m-2,5m, sâu
khoảng 0,8cm.

29
Qua hai đợt khai quật và dựa vào kết quả thám sát xung quanh khu
vực Gò Hội, chúng tôi ước tính dấu tích văn hóa của di chỉ rộng khoảng
10.000m
2
trên tổng diện tích khoảng 20.000m
2
của gò và được phân bố xung
quanh phía chân gò. ở đỉnh gò chưa phát hiện được vết tích văn hóa [21].
Tổng số hiện vật thu được trong hai lần khai quật gồm 430 hiện vật đá
(39 rìu bôn, 3 đục đá, 100 mảnh vỡ công cụ, 258 bàn mài, 18 mảnh vòng, 1
hạt chuỗi ), 85 hiện vật gốm (12 dọi se sợi, 21 bi gốm, 2 tượng(?) động vật, 2
mảnh gốm ghè tròn, 1 vật hình con dấu(?) gốm, các loại bình, nồi, muôi

mở trên thửa ruộng bên trái mương nước, diện tích 50m
2
(10x5m). Hố khai

30
quật thứ hai có diện tích 60m
2
(10x6m), ký hiệu 03.ĐC.HII. Hố khai quật thứ
ba có diện tích 60m
2
(10x6m), ký hiệu 03.ĐC.HIII (sđ.2) [9].
Cả hai lần khai quật di tích Đình Chiền, các nhà khảo cổ đều không xác
định được tầng văn hoá mà chỉ xác định được cấu tạo các lớp đất. Các hố
thám sát và khai quật năm 2002 và 2003 có cấu tạo các lớp đất khá thống
nhất.
Lớp canh tác là lớp đất phù sa màu xám bạc, tơi xốp, pha nhiều cát,
mềm, dày từ 0,15m-0,2m, hầu như không có hiện vật. Dưới lớp canh tác là
lớp đất mỏng màu nâu xám lẫn gốm, đá, đất nung khá cứng, dày từ 0,05m-
0,1m. Sinh thổ là lớp sét vàng quánh pha lẫn sỏi laterit màu nâu đỏ.
Ngay sau khi bóc hết lớp đất canh tác, ở độ sâu từ 0,18m-0,2m, trên bề
mặt tất cả các hố khai quật của hai đợt đều có chung một hiện tượng rất phức
tạp: Trên mặt sinh thổ xuất lộ các vòng đất sẫm màu là miệng của các hố đất
đen lẫn nhiều than tro, hiện vật đá và gốm vụn nén chặt có kích thước lớn nhỏ
khác nhau. Tại 02ĐCHI phát hiện được 9 hố đất đen (ba.15), 02ĐCHII phát
hiện được 4 hố đất đen (bv.9). Tại 03ĐCHI phát hiện 5 hố đất đen, 03ĐCHII
phát hiện 5 hố đất đen, 03ĐCHIII phát hiện 11 hố đất đen (ba. 16, 17, 18;
bv.10-12). Số lượng các hố đất đen không chỉ tập trung trong khu vực các hố
khai quật mà còn có thể quan sát thấy dấu tích nhiều hố đất đen trên vách
ruộng liền kề hoặc trên vách mương nước chạy song song.
Theo dân địa phương thì vào những năm 60-70, khu vực Đình Chiền đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status