ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TẠ QUỐC KHÁNH
ĐÌNH LÀNG HẠ HIỆP (HÀ TÂY)-
KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ HÀ NỘI – 2005
CHUYÊN NGÀNH KHẢO CỔ HỌC
MÃ SỐ : 50901
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Hoàng Văn Khoán
HÀ NỘI - 2005
1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN………………………………………………….
Mục lục
Trang 1
Bảng chữ viết tắt
Trang 3
Danh mục bản đồ, bản vẽ, ảnh đình làng Hạ Hiệp
Trang 4
Mở đầu
Trang 14
Tính cấp thiết của đề tài
Trang 14
Mục đích nghiên cứu
Trang 37
Bố cục mặt bằng khu di tích
Trang 39
Kiến trúc ngôi đình làng Hạ Hiệp
Trang 40
Tiểu kết chƣơng hai
Trang 66
Chƣơng ba: Nghệ thuật điêu khắc, trang trí tại đình làng Hạ Hiệp
Trang 72
Trang trí trên đất nung, vôi vữa
Trang 73
Điêu khắc, trang trí trên cấu kiện gỗ
Trang 76
Trang trí trên các di vật có giá trị
Trang 88
Tiểu kết chƣơng ba
Trang 91
Kết luận, đánh giá
Trang 95
Đánh giá các giá trị của di tích
Trang 95
Những định hƣớng cơ bản cho việc bảo tồn, phát huy di tích đình
làng Hạ hiệp trong giai đoạn hiện nay:
Trang 101
Tài liệu tham khảo
Trang 110
Phụ Lục
Trang 119
4
DANH MỤC BẢN ĐỒ, BẢN VẼ, ẢNH
ĐÌNH LÀNG HẠ HIỆP (PHÚC THỌ – HÀ TÂY)
I. DANH MỤC BẢN ĐỒ:
Bản đồ 1, 2, 3, 4: Vị trí làng hạ Hiệp trong không gian châu thổ Bắc bộ
(Nguồn Fallingrain.com)
Bản đồ 5: Bản đồ huyện Phúc Thọ và những huyện giáp ranh
(Nguồn : Tập Bản đồ hành chính Việt Nam, Nxb Bản đồ. H 2002)
Bản đồ 6: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Liên hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà
Tây
II. DANH MỤC BẢN VẼ (NGUỒN TƢ LIỆU VIỆN BẢO TỒN DI
TÍCH):
- Sơ đồ cấu kiện bản vẽ số 01
- Sơ đồ cấu kiện bản vẽ số 02.
- Bản vẽ 01; Mặt bằng tổng thể
- Bản vẽ 02: Mặt bằng mái tổng thể
- Bản vẽ 03: Mặt đứng trục 5 - 1 Nghi môn trƣớc đình làng Hạ Hiệp
-:Bản vẽ 04: Mặt bằng và mặt đứng trục 1- 5 Nghi môn.
- Bản vẽ 05: Mặt bằng cổng đình
- Bản vẽ 06: Mặt đứng hƣớng Đông cổng đình
- Bản vẽ 07: Mặt bằng nền Tiền tế
- Bản vẽ 08: Mặt bằng Xà, bẩy Tiền tế
- Bản vẽ 09: Mặt bằng mái Tiền tế
- Bản vẽ 33: Chi tiết kẻ sau gian bên bên phải
- Bản vẽ 34: Chi tiết vì nách thứ hai hậu cung, trục G,
- Bản vẽ 35: Chi tiết vì nóc ván mê Hậu cung,
- Bản vẽ 36: Chi tiết cửa võng, ván gió gian giữa
III. DANH MỤC BẢN ẢNH:
Ảnh 1, 2, 3: Cảnh quan xung quanh khu đình làng Hạ Hiệp
Ảnh 4 -5 -6: Sân và Nghi môn phía trƣớc đình làng Hạ Hiệp
Ảnh 7-8-9: Chi tiết một phần đỉnh trụ và Nghi môn bên trái Đại đình
Ảnh 10 - 11: Đình làng Hạ Hiệp nhìn từ hƣớng Tây Tây Nam
Ảnh 12: Mặt đứng hƣớng Tây Nam Tiền Tế
Ảnh 13: : Mặt bên Tiền Tế
Ảnh 14 - 15: Kết cấu khung nội thất toà Tiền Tế
Ảnh 16: Kết cấu vì nóc, vì nách gian giữa Tiền Tế
Ảnh 17: Vì nóc kết cấu kiểu chồng rường tại gian hồi bên phải Tiền tế
Ảnh 18: Vì nách kết cấu kiểu cốn mê tại gian bên bên phải Tiền tế
Ảnh 19: Vì nách kết cấu kiểu cốn chồng rường tại gian hồi bên phải Tiền Tế.
Ảnh 20: Dòng niên đại "Tự Đức cửu niên đông” trên câu đầu trái gian giữa Tiền
tế
Ảnh 21 22: Chi tiết đầu kìm (hình Makara), con xô trên nóc mái Tiền Tế.
Ảnh 23: : Chi tiết đầu đao tầng mái trên Tiền Tế
Ảnh 24: Chi tiết đầu đao tầng mái dƣới Tiền Tế
7
Ảnh 25 : Đình làng Hạ Hiệp nhìn từ hƣớng Nam - Mặt sau Đại đình
Ảnh 26: Mặt đứng Hậu cung nhìn từ hƣớng Đông Bắc
Ảnh 27: Chi tiết mái hồi bên trái Đại đình
Ảnh 28: Chi tiết con xô trên bờ chảy Đại Đình
Ảnh 29: Chi tiết Đầu đao Đại Đình
Ảnh 59: ván gió chái bên phải
Ảnh 60: Ván gió sau gian bên bên phải
Ảnh 61: Ván gió trƣớc gian bên bên phải, với dòng chữ "Tuế thứ Quý Mão
niên, cửu nguyệt nhật, lương thời tu tạo dịch thạch đại cát" cho biết đình
đƣợc sửa vào năm Quý Mão (1663)
Ảnh 62: Kẻ trƣớc gian bên bên phải Đại đình
Ảnh 63: Kẻ sau gian bên bên phải Đại đình
Ảnh 64: Ván nong và kẻ sau chái bên trái đại đình
Ảnh 65 Ván nong và kẻ sau, bên phải Hậu cung
Ảnh 66: kẻ trƣớc bên trái gian giữa Đại đình
Ảnh 67: Chi tiết đầu kẻ chái hồi bên phải đại đình
Ảnh 68 - 69: Chi tiết đầu kẻ mặt trƣớc Đại đình
9
Ảnh 70 – 71 - 72: Chi tiết cốn chồng rường vì nách trƣớc bên phải gian giữa
Đại đình với những đầu rồng phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 17
Ảnh 73: Vì nóc ngoài Hậu cung kết cấu biến thể Giá chiêng, chồng rường,
con nhị
Ảnh 74: Vì nóc thứ hai Hậu cung kết cấu kiểu Ván Mê
Ảnh 75: Một phần sàn đình còn giữ đƣợc tại Hậu cung
và khoảng giữa cột cái với cột quân sau, hai gian bên.
Ảnh 76 – 77 - 78: Đầu dư gian giữa Đại đình, phong cách nghệ thuật
giữa thế kỷ 17
Ảnh 79: đầu dư gian giữa Đại đình phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 17 với
đuôi là rƣờng cánh ở vì nách chạm thành đuôi cá.
Ảnh 80 – 81: Tiên nữ cƣỡi rồng
Ảnh 82 - 83: Ngƣời cƣỡi rồng, chi tiết trang trí tại ván gió gian bên bên phải
Đại đình
Ảnh 105 : Ngói lót tại toà Đại đình đình làng Hạ Hiệp
Ảnh 106 -107: Bể cảnh bằng đá, niên đại Gia Long 15 (1816) đặt trƣớc Đại
đình đình làng Hạ Hiệp
Ảnh 108: Hòm sớ- di vật có phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 19 tại đình
làng Hạ Hiệp.
Ảnh 109: Kiệu mui luyện - di vật mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ 18
11
Ảnh 110: Chi tiết trang trí hình ngƣời cƣỡi ngựa trên thân kiệu
Ảnh 111: Ngai, bài vị Thành Hoàng, di vật phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ
17 tại đình làng Hạ Hiệp
Ảnh 112: Bia đá "Tại đình bi" niên đại Cảnh Hƣng 32 (1771) tại hiên hồi bên
trái đình làng Hạ Hiệp
Ảnh 113: Quán Tẩy - di vật phong cách nghệ thuật nửa sau thế kỷ 19 tại đình
làng Hạ Hiệp
Ảnh 114, 115: Bát bửu, chấp kích, hạc thờ - di vật phong cách nghệ thuật
thế kỷ 19 tại đình làng Hạ Hiệp .
Ảnh 116, 117, 118: Vài hình ảnh lễ hội tại đình làng Hạ Hiệp, mùa hội 2005
Ảnh 119: Vì nóc kết cấu kiểu chồng rƣờng, niên đại cuối thế kỷ 17 tại đình
làng Chu Quyến, Hà Tây
Ảnh 120: Kết cấu vì nóc tại đình làng Nghiêm Xá (Thƣờng Tín – Hà Tây).
Ảnh121 Kết cấu vì nách tại đình làng Nghiêm Xá (Thƣờng Tín – Hà Tây).
Ảnh 122: Chi tiết vì nóc chùa Thầy (Quốc Oai- Hà tây) với ván lá đề trong
lòng giá chiêng.
Ảnh 123: Lan can và sàn đình làng Chu Quyến (Ba Vì - Hà Tây)
Ảnh 124: Uống rƣợu, trang trí trên kiến trúc đình làng Viên Châu (Ba Vì - Hà
Tây)
Ảnh 125: Uống rƣợu –trang trí tại đình làng Hoàng Xá (Ứng Hoà - Hà Tây). 13
MỞ ĐẦU:
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI :
1.1. Việt Nam là một quốc gia nằm ở trung tâm Đông Nam Á -
chiếc nôi của nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc. Từ hàng ngàn năm nay,
ngƣời dân bản địa vẫn sinh sống chủ yếu trong các làng xã, vẫn canh tác trên
những thửa ruộng quanh nơi cƣ trú. Tới tận đầu thế kỷ 21, gần 80% dân số
nƣớc ta vẫn là những ngƣời nông dân, sinh sống trong các làng xã và làng xã
không chỉ là đơn vị hành chính cơ bản của quốc gia Việt Nam mà còn quyết
định hình ảnh xã hội và văn hoá Việt Nam. Từ thời Trung đại và Cận đại bắt
đầu xuất hiện và tồn tại ở hầu hết các làng - xã của ngƣời Việt một sản phẩm
văn hoá đặc sắc: ngôi đình làng. Cho đến nay, các đình làng của ngƣời Việt
vẫn chiếm một vị trí khá đặc biệt và quan trọng trong kho tàng di sản văn hoá
Việt Nam, là một sản phẩm văn hoá hữu thể đặc trƣng của ngƣời Việt và trong
ký ức của mỗi ngƣời dân Việt, hình ảnh " mái đình - cây đa " mãi là hình ảnh
Quê hƣơng.
truyền của dân tộc ta. Trong số đó, đình làng Hạ Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh
Hà Tây nổi lên nhƣ một di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Ngôi
đình làng Hạ Hiệp còn giữ đƣợc đầy đủ các hạng mục kiến trúc: Nghi Môn,
Tiền tế, Đại đình, Hậu cung, cùng với các thành phần, cấu kiện kiến trúc
thế kỷ 17, 18, 19. Hơn thế nữa, di tích còn việc bảo lƣu đƣợc dày đặc các
mảng chạm khắc, trang trí đặc sắc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17.
Mặc dù vậy, với riêng ngôi đình làng Hạ Hiệp, trừ mội vài bài viết,
hình ảnh mô tả một cách khái lƣợc về kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc
[70, 71,75, 115], còn lại tới nay vẫn chƣa có một công trình khảo cứu đầy đủ,
cụ thể và toàn diện về di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc này…
1.4. Đƣợc vào công tác tại Viện Bảo tồn di tích, từ lâu tôi đã có mong
ƣớc và niềm say mê tìm hiểu về các di tích kiến trúc cổ truyền trên đất nƣớc
ta. Việc hiểu biết về di tích kiến trúc một cách đầy đủ chẳng những giúp ta có
đƣợc sự trân trọng với những di sản cha ông để lại, mà còn là những định
hƣớng đúng đắn cho việc bảo tồn, gìn giữ chúng.
Những lý do khách quan và chủ quan nhƣ vậy đã khiến tôi quyết tâm
chọn đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Khảo cổ học khoá 2002
- 2005 là : Đình làng Hạ Hiệp ( Hà Tây) - Kiến trúc và điêu khắc.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
2.1. Phân tích cụ thể về cảnh quan, môi trƣờng làng Hạ Hiệp;
về Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ở đình làng Hạ Hiệp
2.2. Đánh giá giá trị kiến trúc và điêu khắc - trang trí của đình làng
Hạ Hiệp với phong cách kiến trúc, nghệ thuật thế kỷ 17.
2.3. Rút ra những định hƣớng cho việc bảo tồn một ngôi đình làng Việt
thế kỷ 17.
16
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
của luận văn sẽ gồm 03 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tƣ liệu (17 trang)
Chƣơng 2: Kiến trúc đình làng Hạ Hiệp (37 trang)
Chƣơng 3: Nghệ thuật điêu khắc, trang trí tại đình làng Hạ Hiệp (23
trang) Chƣơng Một: TỔNG QUAN TƢ LIỆU
1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Trong khoảng một thế kỷ qua, đình làng Việt đã trở thành đối tƣợng
của nhiều nhà nghiên cứu. Vào những năm đầu thế kỷ 20, các học giả của
"Học viện nghiên cứu Viễn Đông thuộc Pháp" (BEFEO) là những ngƣời đầu
tiên đã chú ý đến ngôi đình làng Việt. Mở đầu cho việc nghiên cứu này là
những nhận xét của M.Giran trong cuốn "Ma thuật tôn giáo của người An
Nam" (xuất bản năm 1912). Trong tác phẩm đó ông viết: "Đình là nơi thờ
Thành hoàng làng và là một ngôi nhà chung cho sinh hoạt cộng đồng. Nơi
đây thường diễn ra các cuộc hội họp của hương lão, chức sắc trong làng xã
18
bàn về việc công, hoặc phân xử kiện tụng, đồng thời là nơi cúng lễ. Có thể nói
nơi đây xảy ra hết thảy các hoạt động của cuộc sống xã hội người Việt" [Dẫn
theo 82]. Năm 1930, Nguyễn Văn Khoan đã công bố một khảo luận có giá trị
nghiên cứu về đình làng và vấn đề thờ Thành hoàng trong các ngôi đình làng
vùng đồng bằng Bắc bộ [41]; Tiếp đó là những nghiên cứu của Nguyễn Văn
Huyên về Thành hoàng “Góp phần nghiên cứu về một vị Thành Hoàng ở An
khô cứng. Các nghiên cứu điền dã đó đã làm "sống lại" hàng loạt ngôi đình
khắp các làng quê Việt Nam. Cũng từ góc độ Mỹ thuật là chính, hai nhà
nghiên cứu Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thƣợng đã góp một tiếng nói về nghệ
thuật của ngƣời Việt với đình làng.
Với một loạt bài viết trên tạp chí KCH và NCVHNT những năm 1981-
1982 và đặc biệt là trong luận án TS KHLS năm 1993, TS Trịnh Cao Tƣởng
đã đi sâu hơn về nhiều vấn đề của đình làng nhƣ: các tƣ liệu về niên đại,
đất dựng đình, mặt bằng tổng thể, cấu trúc bộ mái, kết cấu bên trong, ngôi
đình với vấn đề dân tộc và hiện đại và hình tƣợng kiến trúc của ngôi đình
[107, 108, 109, 110, 111, 112, 113].
Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX các ngôi đình làng trên địa bàn cả nƣớc
và có niên đại trải dài suốt từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 đã đƣợc phát hiện hoặc
nhìn nhận lại dƣới những góc độ khác. Đóng góp đáng kể nhất là công trình
khảo cứu "Đình Việt Nam" của GS Hà Văn Tấn cùng các cộng sự mà những
ngƣời đi sau muốn tìm hiểu về loại hình di tích này đều lấy đó để tham khảo [75].
Nghiên cứu về Thành hoàng trong giai đoạn này đáng kể nhất là những
nghiên cứu của PGS Nguyễn Duy Hinh với cuốn “Tín ngưỡng Thành Hoàng
Việt Nam”. Tiếp đó là những nghiên cứu của TS Nguyễn Anh Tuấn,
TS Nguyễn Mạnh Cƣờng [90], rồi những khảo cứu của TS Đinh Khắc Thuân
cho ta những cái nhìn ban đầu về văn bia đình làng [82], đặc biệt là những
20
công trình nghiên cứu chuyên sâu về kiến trúc, nghệ thuật của TS Nguyễn
Hồng Kiên [42,43,44,45,46,47,48,49,50]. Tất nhiên chúng ta không thể không
nhắc tới những bài viết về đình làng Việt xuất hiện ngày càng nhiều trong các
Hội nghị thông báo NPHMKCH đƣợc tổ chức hàng năm. Có thể nói giai đoạn
vừa qua thực sự là một giai đoạn bùng nổ về nghiên cứu đình làng. Và các
nhà khảo cổ đã đóng vai trò quan trọng trong cao trào này. Cho đến nay đã có
làng là vào cuối thế kỷ 15 [8: 38 - 53].
Thực tế, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều loại đình khác nhau.
"Tương truyền vào thời Đinh và Tiền Lê (968 - 980 và 980 - 1009), sứ giả các
vùng và các lân quốc thường đi thuyền theo sông Đáy hay cửa biển Thần Phù
về kinh đô Hoa Lư, lên nghỉ tại Dịch Đình trước khi vào bệ kiến. Ngày nay,
địa điểm này chỉ còn là bãi đất trống, nhưng các thám sát khảo cổ học cũng
tìm được nhiều di vật bằng đất nung. Dầu vậy, nếu kiến trúc này từng tồn tại
thì cũng chỉ là một kiến trúc của nhà nước, đơn chiếc chứ không phổ biến.
Dịch đình cũng là một dạng tiền thân của kiến trúc Quán sứ sau này mà thôi"
[44: 37- 38].
Văn bia chùa Linh Xứng, dựng năm 1126 có ghi : “Kế bên sông có cái
đình nhỏ. Thường thuyền bè qua lại đó để nghỉ ngơi ” và cho đến nay, có lẽ
đây văn bản cổ Việt Nam đầu tiên có chữ đình.
Một loại kiến trúc cũng đƣợc gọi là "đình" đƣợc đề cập tới là vào triều
Lý. ĐVSKTT chép: "Bính Tý, [Đại Định] năm thứ 17 [1156]. Làm hành
cung Ngự Thiên, điện Thuỵ Quang, gác Ánh vân, cửa Thanh Hũa, thềm
Nghi Phượng, gỏc Diện Phỳ, đỡnh Thưởng Hoa, thềm Ngọc Hoa, hồ Kim
Liờn, cầu Minh Nguyệt" [18:145]
Thưởng hoa đình này hẳn là toà nhà để vua quan dừng chân nghỉ ngơi,
thƣởng thức vẻ đẹp của hoa và có lẽ nó cũng tƣơng tự nhƣ loại Lan đình
22
đƣợc ĐVSKTT nhắc tới dƣới thời Trần: "Mậu Thìn, [Thiệu Long] năm thứ 11
[1269]. Mùa Xuân, tháng giêng, xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất,
khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm
nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng
ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau."
Cũng ĐVSKTT ghi sự kiện năm 1231 "Thượng hoàng xuống chiếu
thành, nhà vua đặt tên cho là đỡnh Quảng Văn". ĐVSKTT cũng ghi về sự
việc này và chú thích thêm: Quảng văn nghĩa là truyền bá rộng "Đỡnh này ở trong
Long thành, phớa trước Phụng Lâu, có ngũi Ngõn Cõu chảy quanh hai bờn tả hữu"
[18].
Chúng ta chƣa thấy có nét tƣơng đồng giữa đình Quảng Văn với những
ngôi đình làng hiện nay. Tuy nhiên, những tƣ liệu khác cho phép chúng ta
nghĩ rằng đình làng đã xuất hiện dƣới thời Lê Sơ (thế kỷ 15) - giai đoạn Nho
giáo đƣợc đề cao ở nƣớc ta. ĐVSKTT chép sự kiện năm 1522 "Bọn Hưng
Hiền bốn người mang mộc, cầm giáo từ phường Phục Cổ đánh thẳng vào
Điện Thuỵ Quang. Vua bèn tránh ra đóng ở đỡnh cũ xó Nhõn Mục". [18].
Điều này cũng phù hợp với tên một tấm bia ở đình Yên Mô (Ninh Bình) có
niên đại 1472: "Yên Mô xã đình bi ký" [95:83].
Nhƣ vậy, về nguồn gốc ra đời của ngôi đình làng, chúng tôi đồng ý với
nhận xét của GS Hà Văn Tấn “mặc dù còn thiếu chứng cứ, ta tin rằng đình
– ngôi nhà chung của làng xã đã xuất hiện từ lâu đời, néu không phải là thời
tiền sử thì cũng là thời sơ sử của dân tộc. Tất nhiên là thời đó, chưa được gọi
là đình, một từ vay mượn của Trung Hoa”[75:20]. Tới cuối thế kỷ 15, cùng
với sự phát triển của lịch sử, của ý thức hệ Nho giáo, ngôi đình làng - sản
phẩm kiến trúc thuần Việt nhất đã ra đời. Tuy nhiên, dấu vết vật chất của loại
hình kiến trúc này đến nay mới chỉ đƣợc tìm thấy ở thế kỷ 16 và với niên đại
"tu lý" năm 1531 khắc trên cột cái, đình làng Thuỵ Phiêu (Ba Vì - Hà Tây)