2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1. Tính cấp thiết của đề tài 8
2. Tình hình nghiên cứu 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5. Phương pháp nghiên cứu 12
5.1 Phương pháp luận 12
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 12
6. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 12
6.1 Về mặt khoa học 12
6.2 Về mặt ứng dụng 12
7. Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
VỚI SỨ MỆNH CỦA HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 14
1.1. Những vấn đề lý luận chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 14
1.1.1. Nội hàm khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 14
1.1.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 18
1.1.3. Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin 21
1.1.4. Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 26
1.2. Sứ mệnh và cơ cấu tổ chức của Học viện 28
3
1.2.1. Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của Học viện 28
2.4.5 Phần mềm thư viện 101
2.5 Chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm 104
2.5.1 Chất lượng các sản phẩm thông tin 104
2.5.2 Chất lượng dịch vụ thông tin 107
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT & GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
CÁC SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM 111
3.1. Một số nhận xét 111
3.1.1. Ưu điểm 111
3.1.2. Hạn chế 112
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại 115
3.2 Giải pháp hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm
116
3.2.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin – thư viện hiện có 117
3.2.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin – thư viện hiện có 120
3.2.3. Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin 121
3.2.4. Tăng cường nguồn lực thông tin 129
3.2.5. Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất 131
3.2.6. Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ và đào tạo người dùng tin 132
3.2.7. Tổ chức quảng bá các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 137
KẾT LUẬN 138
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
TÊN ĐẦY ĐỦ
1
CNBCVT
Dewey Decimal Classification
11
MARC21
Machine Readable Cataloging
12
OPAC
Online Public Access Catalog
6
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1. 1: Tỷ lệ cán bộ phân theo nghề nghiệp tại Học viện
Hình 1.2: Cơ cấu nguồn lực thông tin theo lĩnh vực tại Trung tâm
Hình 1.3: Nhu cầu tin theo ngôn ngữ tài liệu tại Trung tâm
Hình 2.1: Các trường MARC 21 hiển thị trong biểu ghi thư mục
Hình 2.2: Bộ sưu tập bài giảng trên Green Stone
Hình 2.3: Tìm kiếm dữ liệu bài giảng trên Green Stone
Hình 2.4: Kết quả tìm kiếm dữ liệu trên Green Stone
Hình 2.5: Giao diện CSDL hội nghị khoa học
Hình 2.6: Giao diện CSDL luận văn thạc sỹ
Hình 2.7: Giao diện CSDL quản lý bạn đọc
Hình 2.8: Giao diện tra cứu OPAC
Hình 2.9: Giao diện tìm kiếm đơn giản của phân hệ OPAC
Hình 2.10: Giao diện tìm kiếm chi tiết của phân hệ OPAC
Hình 2.11: Giao diện tìm kiếm nâng cao của phân hệ OPAC
Hình 2.12: Giao diện trang chủ của Trung tâm
Hình 2.13: Giao diện ghi mượn của phần mềm Libol
Hình 2.14:Thống kê công tác phục vụ bạn đọc tại phòng mượn qua từng năm
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học & công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông trong thập kỷ gần đây đã đưa thế
giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển tri thức. Thế
giới ngày nay đang chứng kiến những thay đổi lớn lao và nhiều điều kỳ diệu do
CNTT và truyền thông mang lại. Thông tin và truyền thông đã thực sự trở thành
nguồn động lực đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và ngày càng tỏ rõ là nhân tố
quyết định khả năng của một nước vươn tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
nhanh hơn. Trước thực tế đó, hoạt động thông tin – thư viện (TT - TV) đang có
những bước chuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu thông tin và
tri thức ngày càng cao của xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Trong hoạt động thông tin, hệ thống các sản phẩm và dịch vụ đóng vai trò
quyết định. Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện là một hệ thống động, luôn
phát triển và biến đổi. Đây chính là kết quả của quy trình xử lý, bao gói thông tin, là
cầu nối giữa giá trị của nguồn lực thông tin với NDT. Thông qua hệ thống các sản
phẩm và dịch vụ, các cơ quan thông tin, thư viện có thể khẳng định được vai trò
cũng như vị trí của mình trong xã hội. Bên cạnh đó, nhu cầu giao lưu, hội nhập và
hợp tác giữa các thư viện trong và ngoài nước đòi hỏi các trung tâm thông tin - thư
viện cần cung cấp những sản phẩm và dịch vụ với chất lượng ngày càng cao, chính
xác và kịp thời tới người dùng tin (NDT).
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (sau đây gọi tắt là Học viện) là đơn
vị thành viên trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, lấy nguyên tắc
gắn kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất kinh doanh làm nền tảng hướng tới mục
tiêu đào tạo ra những chủ nhân tương lai của nền kinh tế tri thức và tạo ra những sản
phẩm chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam. Trước
sự phát triển nhanh chóng và biến đổi không ngừng của xã hội thông tin, việc đảm
10
hoàn thiện các sản phẩm thông tin của Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã
hội Quốc gia” của Nguyễn Thị Hồng, bảo vệ năm 2005…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập tới vấn đề về sản phẩm và
dịch vụ TT – TV mang tính đặc thù của một số địa bàn cụ thể, với những đặc điểm
riêng biệt. Ngoài ra có một số đề tài nghiên cứu có đề cập tới hoạt động thông tin –
thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông như:
- “Nghiên cứu khung phân loại thập phân dewey 14 rút gọn và triển khai
ứng dụng tại thư viện cơ sở đào tạo Hà Đông – Học viện Công nghệ Bưu
chính Viễn thông” của Trần Kim Quế, bảo vệ năm 2007.
- “Nghiên cứu phần mềm mã nguồn mở Greenstone và ứng dụng tại Trung
tâm Thông tin – Thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông”
của Thạc sỹ Nguyễn Tài Tuyên, bảo vệ năm 2007.
- “Nghiên cứu quy tắc biên mục Anh Mỹ AACR2 và triển khai ứng dụng
tại thư viện cơ sở đào tạo Hà Đông – Học viện Công nghệ Bưu chính
Viễn thông” của Bùi Thị Minh Huệ, bảo vệ năm 2008.
- “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
thông tin – thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của
Thạc sỹ Nguyễn Văn Hành, bảo vệ năm 2009.
Tuy nhiên, những đề tài trên cũng mới chỉ giải quyết một số khía cạnh trong
hoạt động chuyên môn nghiệp vụ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện tại Học viện.
Nhìn chung, chưa có đề tài nào đề cập trực tiếp và đi sâu nghiên cứu về các sản
phẩm và dịch vụ của Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Công nghệ Bưu
chính Viễn thông. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của tôi là đề tài hoàn toàn mới so
với các công trình nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu thực trạng và đánh giá hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT - TV hiện
có tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Từ đó đưa ra một số kiến nghị,
Thông tin – Thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong giai đoạn
hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác sách báo, TT - TV.
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập tổng hợp, phân tích tài liệu,
- Phương pháp quan sát, điều tra thực tế,
- Phương pháp thống kê,
- Phương pháp trao đổi mạn đàm, phỏng vấn trực tiếp với cán bộ và sinh viên
tại Trung tâm.
6. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Đề tài góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về sản phẩm và dịch vụ
thông tin – thư viện nói chung.
6.2 Về mặt ứng dụng
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ lãnh đạo,
cán bộ quản lý Trung tâm TT - TV vận dụng vào việc hoàn thiện và phát triển hệ
thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động,
đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của NDT tại Học viện CNBCVT.
13
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện với sứ mệnh
của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
Chương 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm Thông tin –
hình. Quá trình tạo ra các sản phẩm này diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùng
chúng.
15
Theo khái niệm trên thì trong lĩnh vực hoạt động TT – TV cũng có sản phẩm
TT – TV. “Sản phẩm TT – TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá
nhân/ tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu người dùng tin” [17, tr.20]
Một quá trình xử lý thông tin có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau
như: biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng quan…hay
như quá trình phân tích – tổng hợp thông tin. Sản phẩm TT – TV có nhiều hình thức
khác nhau, gồm cả những sản phẩm mang tính truyền thống và những sản phẩm
mang tính hiện đại. Những sản phẩm TT – TV truyền thống có thể là hệ thống mục
lục, các thư mục, tổng quan, tổng luận…Các sản phẩm hiện đại tuy ra đời sau
nhưng cũng khác đa dạng, phong phú, có thể là những sản phẩm cũ những xuất bản
dưới dạng điện tử hoặc là những sản phẩm mới như: cơ sở dữ liệu, các bản tin điện
tử…
Sản phẩm TT – TV được hình thành nhằm thỏa mãn những nhu cầu thông tin
/ tài liệu bao gồm: nhu cầu tra cứu thông tin, tài liệu và nhu cầu về chính bản thân
thông tin / tài liệu. Như vậy, sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng
như sự biến đổi của nhu cầu. Tương tự như mọi loại sản phẩm khác, sản phẩm TT –
TV trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần không ngừng được hoàn thiện
để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới (cả về nội dung và hình thức).
Khái niệm dịch vụ thông tin – thư viện
Cũng giống như thuật ngữ sản phẩm, dịch vụ là một thuật ngữ được sử dụng
trước tiên, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và thực tiễn hoạt động của nhiều lĩnh
vực trong xã hội: dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ công, dịch vụ ăn uống, dịch vụ
du lịch, dịch vụ cho vay vốn, dịch vụ thư viện… Theo Bách khoa toàn thư đã định
nghĩa: “Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản
xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Tùy theo trường hợp, dịch vụ bao gồm: một công
việc ít nhiều chuyên môn hóa, việc sử dụng hẳn hay tạm thời một tài sản, việc sử
phẩm cụ thể, không thể nhìn thấy, nắm bắt hay được nhận diện bằng giác quan.
Chính vì vậy, khi muốn quảng bá cho các dịch vụ, cần phải tạo cho NDT biết tiềm
năng của nó bằng cách cung cấp cho họ một cảm giác hữu hình về các dịch vụ.
17
Tính không xác định
Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng của dịch vụ phụ
thuộc chặt chẽ vào cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng…) và hơn thế nữa,
đối với cùng một cá nhân, chất lượng dịch vụ nhiều khi cũng thay đổi theo thời
gian.
Tính không thể tách rời/ chia cắt
Thông thường để thực hiện một dịch vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải
tiến hành một số bước hoặc thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu
được kết quả mà người mua dịch vụ mong muốn. Chẳng hạn, trong dịch vụ tìm
kiếm thông tin, các giai đoạn: phân tích nhu cầu, xác định nguồn cần thực hiện phép
tìm, thực hiện quá trình tìm và gửi kết quả tới người có nhu cầu không thể được tiến
hành một cách hoàn toàn độc lập với nhau. NDT ở đây là người sử dụng dịch vụ
không quan tâm tới các kết quả riêng lẻ (như tính chính xác của việc phân tích nhu
cầu, tính đầy đủ của việc xác định các nguồn tin/ tài liệu cần khai thác…) mà họ chỉ
cần quan tâm tới kết quả mà họ nhận được có thỏa mãn với nhu cầu của họ hay
không.
Có thể nói, một trong những yếu tố làm nên sức mạnh của cơ quan TT – TV
là ở khả năng tổ chức và cung cấp các dịch vụ thông tin theo yêu cầu, khả năng tạo
ra các sản phẩm thông tin có giá trị gia tăng cao. Xây dựng các sản phẩm và dịch vụ
TT – TV là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của cán bộ
TT – TV song việc quản lý, giữ gìn và phát triển càng khó khăn hơn, bởi lẽ nếu
không quản lý và sử dụng hiệu quả sẽ gây lãng phí, đồng thời không phát huy hết
chức năng hữu ích mà các sản phẩm và dịch vụ TT – TV đem đến cho NDT.
Khái niệm hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
Có rất nhiều định nghĩa “Hệ thống” xuất phát từ các quan điểm khác nhau,
– TV mang lại cho NDT, từ đó đưa ra những nhận định thiết thực về sản phẩm và
dịch vụ đó.
19
Một số tiêu chí đánh giá:
Chất lượng của sản phẩm được cung cấp qua dịch vụ: Đối với nhóm
dịch vụ đáp ứng nhu cầu về thông tin – loại dịch vụ mà yêu cầu NDT được thỏa
mãn bởi một hoặc một số sản phẩm thông tin xác định thì rõ ràng chất lượng của
sản phẩm được cung cấp ở đây đóng vai trò quan trọng và trực tiếp chi phối tới chất
lượng dịch vụ
Tính kịp thời: NDT có nhu cầu sử dụng sản phẩm và dịch vụ TT – TV
để thỏa mãn yêu cầu thông tin và để giải quyết một nhiệm vụ xác định. Vì thế, điều
cần thiết ở đây là NDT phải được đáp ứng yêu cầu trước khi họ tiến hành hoặc giải
quyết nhiệm vụ
Tính thuận tiện và thân thiện trong việc khai thác, sử dụng các sản
phẩm và dịch vụ từ phía NDT: Các sản phẩm và dịch vụ phải đa dạng và phong
phú, phải được cung cấp theo các phương thức linh hoạt, tiện lợi nhất cho NDT.
Càng ngày, những tiêu chí này càng trở nên quan trọng đối với chất lượng và hiệu
quả sử dụng của các sản phẩm và dịch vụ TT – TV.
Chi phí thực hiện: được chia thành hai loại là chi phí hiện và chi phí
ẩn. Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá tất yếu đối với hệ thống sản
phẩm và dịch vụ TT – TV.
Mức độ chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ: thể hiện ở kiến thức, kỹ
năng tác nghiệp, thái độ, phong cách phục vụ của đội ngũ cán bộ TT – TV.
Xu hướng quan tâm đến việc tạo nên các sản phẩm và dịch vụ tỏ ra thân
thiện đối với NDT đã tạo nên xu hướng phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ
mang tính định hướng theo người sử dụng, trong đó có cả định hướng theo điều
kiện, tâm lý, tập quán và khả năng khai thác các sản phẩm và dịch vụ của NDT. Đã
từ lâu, nhiều nhà khoa học đã cho rằng, các cơ quan TT – TV không chỉ quan tâm
tạo ra và phát triển các loại sản phẩm và dịch vụ mà họ có thể tạo ra, mà chủ yếu là
động cấu thành đó.
21
1.1.3. Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin
Sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo
dục và đào tạo đã làm gia tăng nhanh chóng khối lượng thông tin, song để khai thác
nguồn thông tin một cách hiệu quả đòi hỏi phải có một hệ thống các công cụ,
phương tiện tra cứu, tham khảo. Hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV là hệ thống
các công cụ, phương tiện, kết quả hoạt động do cơ quan TT – TV tạo ra giúp NDT
có thể tìm kiếm, truy cập và khai thác thông tin.
Sản phẩm và dịch vụ TT – TV là một hệ thống không ngừng thay đổi, hoàn
thiện và phát triển, bởi lẽ các yếu tố trực tiếp tác động và chi phối đến hệ thống sản
phẩm và dịch vụ TT – TV không ngừng thay đổi. Mặt khác, hệ thống sản phẩm và
dịch vụ TT – TV cũng có những linh hoạt để đáp ứng các nhu cầu tin khác nhau, ở
những mức độ khác nhau. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan TT – TV phần lớn
phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV. Chỉ có một
hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV đa dạng, phong phú, phù hợp mới có khả
năng giúp NDT tiếp cận với thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Để đánh giá và xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống sản phẩm và dịch
vụ TT – TV cần phải dựa vào những yêu cầu cụ thể được xác định từ cơ sở lý
thuyết, từ đó áp dụng vào từng cơ quan TT – TV với những điều kiện, hoàn cảnh,
chức năng, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể. Từ đó, cơ quan TT – TV có thể
xem xét một cách khách quan và rút ra những kết luận làm sáng tỏ những ưu, nhược
điểm của hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV.
Yêu cầu đối với sản phẩm TT – TV
Cũng như các sản phẩm khác, sản phẩm TT – TV trong quá trình tồn tại và
phát triển của mình cần không ngừng được hoàn thiện để tạo được sự thích ứng với
nhu cầu của người sử dụng cả về nội dung và hình thức. Như vậy, sản phẩm TT –
TV phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Mức độ bao quát nguồn tin
triển của khoa học công nghệ.
23
Tính kịp thời, chính xác và khách quan:
Trong bối cảnh thông tin ngày càng phong phú, đa dạng và gia tăng với tốc
độ nhanh chóng như hiện nay thì tính kịp thời của sản phẩm TT – TV là một trong
những yêu cầu cần phải đảm bảo và thực hiện hiệu quả. Đối tượng phản ánh trong
các sản phẩm TT – TV luôn biến động, nguồn tài liệu thay đổi không ngừng cả về
số lượng và phạm vi. Vì thế, chu kỳ cập nhật thông tin phải hợp lý, hướng tới mục
đích nâng cao hiệu suất sử dụng sản phẩm TT – TV của NDT. Nhu cầu tin của NDT
càng cao thì đòi hỏi đối với sản phẩm TT – TV càng lớn. Cơ quan TT – TV không
những tạo ra những sản phẩm phù hợp, đáp ứng được yêu cầu hiện tại của NDT cả
về số lượng và chất lượng mà còn phải nghiên cứu, phân tích để nhận định được xu
hướng, thấy trước được yêu cầu của NDT để đưa ra những sản phẩm TT – TV thích
hợp với nhu cầu, trình độ, thói quen, tập quán của NDT và khả năng khai thác thông
tin qua các sản phẩm.
Mặt khác, trong quá trình hoàn thiện hệ thống sản phẩm TT – TV đòi hỏi
thông tin phải có tính chính xác cao, sát thực với tài liệu gốc, đảm bảo những
nguyên tắc trong việc xử lý thông tin từ biên mục, phân loại, định từ khóa…đến
việc sử dụng thông tin phục vụ NDT.
Bên cạnh đó, đảm bảo tính khách quan trong việc tạo lập và tổ chức các sản
phẩm TT- TV cũng là điều cần quan tâm và lưu ý thực hiện. Cơ quan TT – TV phải
thể hiện được tính khách quan trong việc khắc phục, loại bỏ những sản phẩm,
những thông tin không cần thiết, không rõ ràng, nội dung thông tin sai lệch hoặc
không chính xác, không đầy đủ, phiến diện, chậm trễ; giảm tải những sản phẩm TT
– TV không chất lượng, không phù hợp với cơ quan, đoàn thể cũng như không phù
hợp với sự phát triển của xã hội.
Khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin:
Thông tin phát triển với tốc độ nhanh chóng với độ biến động cao dẫn đến
hiện tượng bùng nổ thông tin gây khó khăn cho NDT trong việc tìm kiếm và sử
không thể thiếu đối với mỗi sản phẩm TT_ TV.
25
Yêu cầu đối với dịch vụ TT – TV
Cũng như sản phẩm TT – TV, dịch vụ TT – TV cũng có những yêu cầu cơ
bản để đánh giá: thời gian thực hiện dịch vụ, chất lượng, chi phí thực hiện dịch vụ
và tính kịp thời, thuận tiện của dịch vụ
Thời gian thực hiện dịch vụ TT - TV:
Mọi dịch vụ đều cần một khoảng thời gian xác định để thực hiện. Do vậy,
tính kịp thời được thể hiện ở chỗ các kết quả mà dịch vụ đem lại giúp NDT sử dụng
chúng một cách hợp lý và có hiệu quả.
Chất lượng dịch vụ TT - TV:
Chất lượng của dịch vụ TT – TV xét cho cùng được thể hiện ở việc giúp
NDT tiếp cận, khai thác và thu được khối lượng thông tin lớn, phù hợp, chính xác
và khách quan. Dịch vụ TT – TV được tạo lập, tổ chức và có chất lượng cao thì cơ
hội để NDT truy cập, tìm kiếm và sử dụng sản phẩm TT – TV càng lớn. Chính vì
thế, các cơ quan TT – TV phải luôn coi trọng yếu tố chất lượng của dịch vụ TT –
TV. Đó là một trong những yếu tố quyết định, tác động lớn đến hiệu quả hoạt động
của một cơ quan TT – TV.
Chi phí thực hiện dịch vụ TT - TV:
Chi phí thực hiện dịch vụ TT – TV bao gồm chi phí hiện và chi phí ẩn. Chi
phí hiện là thường là các loại chi phí rõ ràng và dễ xác định, mọi người đều nhận
biết được như: chi phí in ấn tài liệu, sao chụp, dịch tài liệu…Chi phí ẩn là những
khoản chi phí phức tạp, khó xác định và nhận biết được đầy đủ như: chi phí cho
việc đào tạo, cập nhật kiến thức cho các cán bộ tạo ra các sản phẩm và triển khai
dịch vụ; xây dựng, tổ chức hoạt động và bảo trì, phát triển các nguồn thông tin…
Tính kịp thời và thuận tiện của dịch vụ TT – TV:
Yêu cầu này thể hiện ở việc giúp NDT sử dụng những dịch vụ đó một cách
dễ dàng nhất, nhanh nhất, thủ tục đơn giản nhất. Không những thế, dịch vụ TT – TV
phải đảm bảo, khẳng định được tính kịp thời khi cung cấp các sản phẩm TT – TV