1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỒI GIÁO TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM 11
1.1. Một số vấn đề cơ bản về Hồi giáo thế giới 11
1.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Hồi giáo 11
1.1.2. Giáo lý, giáo luật của Hồi giáo 14
1.1.3. Các hệ phái và tổ chức của Hồi giáo. 17
1.1.4. Sự phân bố của Hồi giáo trên thế giới hiện nay 20
1.1.5. Hồi giáo cực đoan và ảnh hưởng của nó đến chính trị - 23
xã hội và quan hệ quốc tế
1.2. Khái quát về Hồi giáo ở Việt Nam 30
1.2.1.Quá trình hình thành và phát triển của Hồi giáo ở Việt Nam. 30
1.2.2. Tình hình Hồi giáo ở Việt Nam hiện nay 36
1.2.3. Một số đặc điểm mang tính quốc tế của Hồi giáo
Việt Nam 38
CHƢƠNG 2: CỘNG ĐỒNG HỒI GIÁO VIỆT NAM TRONG CÁC MỐI
QUAN HỆ QUỐC TẾ: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 48
2.1. Quan hệ giữa cộng đồng Hồi giáo Việt Nam với các
cộng đồng Hồi giáo ở Đông Nam Á 49
2.1.1. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa cộng đồng Hồi giáo
Việt Nam với cộng đồng Hồi giáo các nước Đông Nam Á 49
2.1.2. Mối quan hệ giữa cộng đồng Hồi giáo Việt Nam với các
cộng đồng Hồi giáo trong khu vực 55
2.1.3. Các hoạt động quốc tế của cộng đồng Hồi giáo
Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á 58
2.2. Quan hệ giữa cộng đồng Hồi giáo Việt Nam với
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIW: Alliance Islamic World
ASEAN: Association of Southeast Asia Nations.
ASEM: Asia-Europe Meetting
ECFR: European Council for Fatwa and Research
EU: Europian Union
FULRO: Front Unifié de Lutte des Races opprimées
IDB: Islamic Development Bank
IDF: Islamic Development Funds
INA: Islamic News Agency
IOC: International Office of Champa
ISESCO: Islamic Educational, Scientific and Cultural Organization
MENA: Middle East and North Affrica
MWL: Muslim World League
NGO: Non-Governmental Organization
NATO: North Atlentic Treaty Organization
OIC: Organization of Islamic Cooperation
PACCOM: People’s Aid Coordination Committee
PLO: Palestine Liberation Organization
UAE: United Arab Emirates
UIC: Ulama International Council
5
vực, thân nhân ở nước ngoài để xin tài trợ kinh phí. Hoạt động này càng rõ
nét hơn khi đời sống kinh tế ngày càng được cải thiện thì nhu cầu tín ngưỡng,
tôn giáo và thực hiện các điều luật trong giáo luật đối với tín đồ Hồi giáo là
cần thiết.
Do xu hướng phát triển của thế giới ngày càng mở rộng trong quan hệ
hợp tác song phương, đa phương trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa-
xã hội,… các cá nhân, tổ chức Hồi giáo quốc tế đang tăng cường các hoạt
động để thâm nhập, tạo quan hệ và ảnh hưởng đến cộng đồng Hồi giáo tại các
nước đã và đang phát triển, trong đó có Hồi giáo Việt Nam. Hồi giáo ở Việt
Nam cũng đã từng bước chủ động tạo được các quan hệ với tổ chức Hồi giáo
bên ngoài, tranh thủ để nhận các tài trợ. Các mối quan hệ này ngày càng có xu
hướng gia tăng, dưới nhiều dạng thức phong phú đa dạng. Trong khi tình hình
hiện nay, trước những tác động bên ngoài, những diễn biến phức tạp trong
Hồi giáo tại các nước trên thế giới và trong khu vực sẽ có ảnh hưởng và tác
động sâu sắc đến tình hình Hồi giáo Việt Nam. Nó không chỉ có ảnh hưởng
tới sinh hoạt tôn giáo và các lĩnh vực trong đời sống xã hội của cộng đồng
Hồi giáo Việt Nam mà còn tác động tới an ninh, chính trị của Việt Nam.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với
phương châm "Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển", mối quan hệ
giữa Việt Nam với các nước Hồi giáo thế giới nhất là khu vực Trung Đông và
Đông Nam Á ngày càng được tăng cường không chỉ về kinh tế, văn hoá mà cả
về mặt tôn giáo.
Từ những lý do nêu trên cho thấy nghiên cứu về Hồi giáo thế giới và Hồi
giáo Việt Nam và mối quan hệ của chúng có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở
cho việc giải quyết những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Hồi giáo
Việt Nam với Hồi giáo thế giới, và trong chừng mực nhất định giúp cho Đảng
6
trọng nhất là đối với Hồi giáo. Xung đột giữa thế giới Hồi giáo và phương
Tây vốn đã tồn tại từ lâu, nay càng trở nên căng thẳng khi phương Tây cho
rằng thế giới Hồi giáo là nguồn phát triển của vũ khí hạt nhân và chủ nghĩa
khủng bố, còn người Hồi giáo thì coi đối thủ của mình là “Phương Tây vô
thần” như một cái gì đó thối nát, suy đồi, trái đạo đức và làn song chống
phương Tây của thế giới Hồi giáo không ngừng gia tăng trong thời gian qua.
Vấn đề này cũng được cố Thủ tướng Pakistan Benasir Bhutto đề cập đến
trong cuốn Hoà giải Hồi giáo, dân chủ và phương Tây do NXB Văn hoá -
Thông tin xuất bản năm 2008. Cuốn sách đã giúp độc giả phần nào hiểu được
nguyên nhân xảy ra các cuộc xung đột ngay trong lòng Hồi giáo và giữa Hồi
giáo và phương Tây dưới góc nhìn của một nữ chính khách nổi tiếng được
đào tạo ở phương Tây, đồng thời đưa ra những kiến giải của tác giả về quan
hệ giữa thế giới Hồi giáo với nền dân chủ và phương Tây.
Về Hồi giáo ở Đông Nam Á, cuốn sách Một số vấn đề về xung đột sắc
tộc và tôn giáo ở Đông Nam Á xuất bản năm 2007, do TS. Phạm Thị Vinh
chủ biên đã cung cấp những thông tin quý báu về Hồi giáo và ảnh hưởng của
nó đến an ninh khu vực Đông Nam Á. Các tác giả của công trình này muốn
gửi đến độc giả những bài học lịch sử về cách giải quyết vấn đề xung đột sắc
tộc và tôn giáo bằng con đường hòa bình và hợp tác. Bên cạnh đó, cuốn Islam
ở Malaysia của TS. Phạm Thị Vinh, Nhà xuất bản KHXH ấn hành năm 2008
đã làm rõ được vị trí đặc biệt của Hồi giáo trong đời sống chính trị, văn hóa -
xã hội của Liên bang Malaysia. Đó là tôn giáo của cộng đồng người Melayu -
những người nắm quyền lãnh đạo và có nhiều đặc quyền, đặc lợi trong mọi
lĩnh vực, đặc biệt trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Gần đây,
cuốn sách Trung Đông - những vấn đề và xu hướng kinh tế - chính trị trong
8
bối cảnh quốc tế mới do PGS.TS Đỗ Đức Định chủ biên đã phác họa tương
đối toàn diện về tình hình chính trị - kinh tế và ảnh hướng của Hồi giáo đến
các lĩnh vực này ở khu vực Trung Đông.
trò, vị trí của cộng đồng Hồi giáo Việt Nam trong các mối quan hệ quốc tế của nó.
- Nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa cộng đồng
Hồi giáo Việt Nam và các cộng đồng Hồi giáo thế giới như: hoạt động của
các phong trào Hồi giáo trên thế giới liên quan đến cộng đồng Hồi giáo Việt
Nam; hoạt động quốc tế của chức sắc, tín đồ Hồi giáo Việt Nam; hoạt động
của các cá nhân, tổ chức Hồi giáo thế giới tại Việt Nam, v.v
- Nghiên cứu để có cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa cộng đồng
Hồi giáo Việt Nam với các cộng đồng Hồi giáo ở hai khu vực chính là Đông
Nam Á và Trung Đông.
- Nhận định và kiến nghị các giải pháp đối với những vấn đề liên quan
đến quan hệ quốc tế của Hồi giáo Việt Nam.
IV. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Luận văn dựa trên các cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các lý thuyết về quan hệ quốc tế, chính trị học và tôn giáo học.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: logic, so sánh, tổng
hợp, đánh giá, toạ đàm, hội thảo. Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu
của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm.
V. Đóng góp của luận văn.
1. Bước đầu làm rõ vai trò của Hồi giáo Việt Nam trong các mối quan
hệ quốc tế hiện nay, đặc biệt ở hai khu vực chính là Đông Nam Á và Trung Đông.
10
2. Góp phần làm rõ thực trạng và xu hướng phát triển trong mối quan
hệ giữa cộng đồng Hồi giáo Việt Nam và cộng đồng Hồi giáo thế giới trong
bối cảnh hiện nay.
3. Nêu ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy đối ngoại tôn giáo, góp phần
giúp Đảng, Nhà nước giải quyết vấn đề liên quan đến quan hệ quốc tế của Hồi
giáo ở Việt Nam và xử lý các mối quan hệ về chính trị, kinh tế với các nước
Hồi giáo thế giới trong tiến trình hội nhập.
VI. Kết cấu của luận văn.
Sự ra đời của tôn giáo này xuất phát bởi những tiền đề kinh tế, chính
trị, xã hội và tư tưởng. Nó gắn liền với sự biến chuyển của xã hội chế độ công
xã nguyên thủy sang chế độ xã hội có giai cấp. Sự biến đổi đó kéo theo sự đòi
hỏi cần phải thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Arập thành một nhà nước
phong kiến. Đồng thời, tín ngưỡng thờ đa thần không còn đáp ứng nhu cầu
của xã hội mới mà phải thay thế bằng tôn giáo mới - tôn giáo thờ nhất thần.
Hồi giáo ra đời trong hoàn cảnh đó.
Quá trình hình thành và ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi và sự
nghiệp của Muhammad - người mà tín đồ Hồi giáo (Muslim) tôn vinh là sứ
giả cuối cùng và anh minh nhất, vĩ đại nhất, có sứ mạng cao cả nhất cứu loài
người khỏi tội lỗi, …là Thiên sứ và Giáo chủ.
Muhammad là người thuộc bộ lạc Kuraysh, sinh năm 570 tại Mecca.
Cũng như những người trong bộ lạc, ông không biết chữ nhưng lại tỏ ra thông
12
thái và giàu nghị lực. Năm 25 tuổi, Muhammad đến làm công cho gia đình bà
Khadija - một góa phụ giàu có. Muhammad được bà Khadija rất mực yêu quý,
và không bao lâu Muhammad đã đồng ý kết hôn với bà Khadija mặc dù bà
hơn Muhammad 15 tuổi. Cuộc hôn nhân đó đã đem tới cho Muhammad thành
công trong sự nghiệp mạc khải nền tín ngưỡng Hồi giáo, vì nó bảo đảm điều
kiện vật chất và tinh thần trong quá trình truyền bá tôn giáo này. Và chính bà
Khadija là tác nhân đem đến cho Muhammad nhiều ảnh hưởng trong đời sống
tôn giáo.
Theo truyền thuyết, hàng năm cứ đến tháng 9 (Ramadan) ông thường
vào hang đá ở núi Hira ở gần thành Mecca để tịnh cốc và suy nghiệm, bỗng
một đêm vào năm 610 - khi Muhammad 40 tuổi, với những giây phút xuất
thần chìm sâu trong suy nghiệm ông nghe “thiên thần” Gabriel gọi:
“Muhammad, ông được Thượng đế chọn làm sứ giả của Người” - Ông đặt
niềm tin vào sứ mệnh mà Thượng đế đã ban cho. Từ đó, ông trở thành tiên tri
và Ali - cháu của Muhammad và bà Khadija đã trở thành những tín đồ đầu
của quân Hồi giáo còn đang vang dội thì Muhammad lâm bệnh và chết vào
ngày 8/6/632, thọ 62 tuổi.
Sau khi Muhammad qua đời, từ năm 636, những người kế tục ông đã
tiến hành những cuộc viễn chinh tấn công nhiều nước, bắt đầu một thời kỳ
truyền bá Hồi giáo đến các quốc gia khác như: Syria, Ba Tư, Ai Cập, Tây Bắc
Ấn Độ,…. Cho đến thế kỷ XI, Hồi giáo đã trở thành một tôn giáo thống soái
của các dân tộc từ Địa Trung Hải đến Vịnh Ba Tư; thâm nhập sâu vào các dân
tộc Châu Phi rồi vượt biển vào Tây Ban Nha, châu Âu. Từ thế kỷ XII đến thế
kỷ XVIII, Hồi giáo phải đương đầu với hai thế lực: ở phía Tây là cuộc thập tự
chinh kéo dài gần hai thế kỷ (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII) của Giáo hội Công
giáo và thế lực phong kiến châu Âu, ở phía Đông là quân Nguyên Mông hùng
14
mạnh và hiếu chiến. Tuy nhiên, thế lực Hồi giáo không những không bị suy
giảm mà còn được củng cố và mở rộng. Trong khoảng 3 thế kỷ (từ thế kỷ
XIV - XVI) Hồi giáo đẩy mạnh việc truyền bá sang nhiều nước vùng Đông
Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Trong khoảng từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở lại đây, với đà gia tăng
số lượng người theo Hồi giáo trên thế giới không thể duy trì được dạng thức
thuần nhất của thời tiên tri Muhammad mà đã có sự biến đổi tạo thành những
cộng đồng (Jammaah) ngăn cách bởi chế độ xã hội của mỗi quốc gia. Chính
vì vậy, các quốc gia có đông tín đồ Hồi giáo có khuynh hướng lập các tổ chức
Hồi giáo gắn với lãnh thổ của từng nước, kết hợp hoạt động tôn giáo với việc
chăm lo đời sống cho cộng đồng.
Để xây dựng đế chế của mình, Hồi giáo không chỉ chú ý bành trướng
về phương diện tôn giáo, quân sự mà còn đặc biệt chú ý đến phát triển khoa
học - kỹ thuật, kinh tế và văn hoá. Có thể nói, hiếm có nền văn minh nào lại
phát triển rực rỡ trên nhiều phương diện như văn minh Hồi giáo. Thực tế cho
thấy có nhiều nhà khoa học nổi tiếng của thế giới Hồi giáo về phương diện
thiên văn, triết học, toán học, v.v…
phải có những quy định mới cụ thể cho phù hợp. Từ đó, sách luật Shariah của
tôn giáo này ra đời do những người thân cận Muhammad soạn thảo từ thế kỷ
thứ VII đến thế kỷ X.
Giáo luật Hồi giáo chịu sự chi phối của văn hoá Arập cổ, nó quy định
toàn diện hoạt động của con người, từ đức tin tôn giáo đến đời sống xã hội.
Nhưng điều quan trọng và nổi bật nhất trong giáo luật Hồi giáo mà mỗi tín đồ
Hồi giáo phải thực hiện, đó là năm điều sống đạo cơ bản, còn gọi là “năm cốt
đạo” [65], đó là:
16
- Xác tín, còn gọi là biểu lộ đức tin (Shahadah): Đó là sự kiên nhẫn đón
nhận tất cả những gì mà Thượng đế đã tiền định, thi hành triệt để những lời
răn dạy của Thượng đế và tiên tri Muhammad. Một trong những điều trọng
yếu của sự biểu lộ đức tin là tuyên xưng rằng chỉ tin vào một Thượng đế duy
nhất là Allah và sứ mạng cao cả của tiên tri Muhammad.
- Cầu nguyện mỗi ngày (Salah): Mỗi tín đồ Hồi giáo phải cầu nguyện 5
lần trong một ngày vào lúc rạng đông, giữa trưa, chiều, lúc hoàng hôn và chập
tối. Tín đồ có thể cầu nguyện bất cứ nơi đâu trừ những nơi mà họ cho là dơ
bẩn. Khi cầu nguyện, nhất thiết phải quay về hướng Mecca. Trưa thứ 6 hàng
tuần là buổi cầu nguyện quan trọng đòi hỏi tín đồ phải đến thánh đường.
- Chay tịnh trong tháng Ramadan (tháng 9 Hồi lịch): Trong thời gian
này, tín đồ không được ăn uống, hút thuốc, sinh hoạt vợ chồng, v.v…từ sáng
tới chập tối (trừ người già, trẻ em, phụ nữ mang thai, người bị bệnh). Mọi sinh
hoạt thường ngày chỉ được tiến hành vào ban đêm. Ngoài ý nghĩ nhịn chay để
chuộc lỗi với Allah và tiên tri Muhammad, tín đồ Hồi giáo còn quan niệm
nhịn đói, khát để thông cảm, sẻ chia cảnh thiếu thốn của những người nghèo,
nhằm tạo ra nghị lực chống lại những ham muốn tầm thường.
- Bố thí (Zakat): Người Hồi giáo cho rằng sự giàu có sẽ mang lại khổ
đau cho con người ở kiếp sau, để tránh điều đó, luật Hồi giáo bắt buộc tín đồ
phải trích 1/10 lợi tức thu được hàng năm để bố thí cho người nghèo vào cuối
1.1.3. Các hệ phái và tổ chức của Hồi giáo.
Hồi giáo là một tôn giáo sớm xuất hiện sự chia rẽ nội bộ. Ngay từ khi
Muhammad qua đời đã diễn ra sự tranh chấp quyền lực giữa những người
đứng đầu tôn giáo, làm xuất hiện những phe phái khác nhau trong Hồi giáo.
Hiện nay, Hồi giáo có nhiều hệ phái như: Sunni, Shi’i, Ismalit, Sufit, Babit,
18
Bekhait, v.v Trong đó, đáng chú ý nhất là hệ phái Sunni và hệ phái Shi’i bởi
số lượng tín đồ phần lớn theo hai hệ phái này, phạm vi và tính chất hoạt động
của chúng cũng có những nét đặc trưng rõ rệt.
Hệ phái Shi’i xuất hiện đầu tiên ở Iran vào cuối thế kỷ VII. Sự ra đời hệ
phái này được xem như một phản ứng xã hội chống lại nhà nước phong kiến
Hồi giáo, nó bác bỏ chế độ giáo trưởng Caliph của phái Sunni. Theo hệ phái
này, người cai trị hợp pháp cả mặt đạo lẫn mặt đời phải là con cháu dòng dõi
Muhammad. Tín đồ thực hiện lễ nghi tôn giáo trên cơ sở dựa vào các nhà lãnh
đạo tôn giáo của họ là các vị Imam để có sự dẫn dắt. Hiện nay, hệ phái Shi’I
có khoảng 154 triệu đến 200 triệu tín đồ, chiếm 10-13% tổng số tín đồ Hồi
giáo trên thế giới, tập trung ở bốn quốc gia: Iran, Pakistan, Ấn Độ, Iraq và ở
các quốc gia khác như: Afghanistan, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Trung Á (thuộc
Liên Xô), v.v [89, pg 8].
Sunni là hệ phái Hồi giáo chính thống, hình thành dưới chế độ phong
kiến thần quyền Hồi giáo Caliph. Hệ phái này hành động nhằm bảo tồn những
nền nếp, tập tục hành đạo của tiên tri Muhammad và truyền thống của Hồi
giáo thời sơ khai. Tín đồ hệ phái Sunni thực hiện lễ nghi tôn giáo dựa vào sự
diễn dịch kinh Qur’an từ các nhà thông thái, các học giả uyên thâm. Hiện nay,
hệ phái Sunni chiếm khoảng 87-90% tổng số tín đồ Hồi giáo, gồm 4 phái là:
Hanafy, Maliky, Shafi’y và Hanbaly.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều tổ chức Hồi giáo và có sự khác nhau về
cơ cấu, mục đích, mức độ, hình thức và phạm vi hoạt động. Có thể chia thành
3 loại hình tổ chức Hồi giáo chủ yếu sau [16]:
Dưới góc độ tôn giáo, tất cả các tổ chức này chỉ có tính chất “liên hiệp”
lỏng lẻo, không phải là một tổ chức giáo hội chung của Hồi giáo thế giới như
giáo hội Công giáo.
20
1.1.4. Sự phân bố của Hồi giáo trên thế giới hiện nay
Ra đời muộn hơn so với các tôn giáo lớn khác nhưng Hồi giáo đã
nhanh chóng vượt ra khỏi phạm vi bán đảo Arập, trở thành một tôn giáo có
tốc độ tăng trưởng tín đồ nhanh nhất thế giới và hiện hữu tại mọi vùng, miền
trên mọi châu lục. Nghiên cứu mới đây của Pew Research Center (có trụ sở ở
Mỹ) tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cho kết quả là tính đến năm
2009, toàn thế giới có khoảng 1,57 tỷ tín đồ Hồi giáo thuộc mọi thành phần
dân số, mọi lứa tuổi và số lượng tín đồ này chiếm tới 23% dân số toàn cầu
ước tính 6,8 tỷ người.
Số liệu về tín đồ Hồi giáo cập nhật mới nhất cho thấy sự gia tăng đáng
kể về số lượng cũng như phạm vi ảnh hưởng của tôn giáo này trên khắp thế
giới khi so sánh với một số thống kê trong thập niên 1990 cho rằng tín đồ Hồi
giáo giai đoạn này có dưới 1 tỷ người. Khuynh hướng biến động của Hồi giáo
nhìn nhận từ góc độ số lượng tín đồ cũng cho thấy nhiều đặc điểm đáng chú ý
bao gồm:
- Trong khi tín đồ Hồi giáo hiện diện ở tất cả 5 lục địa lớn trên thế giới
thì có tới hơn 60% trong số họ tập trung ở châu Á và khoảng 20% sinh sống
tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA). MENA cũng là khu vực tập
trung cao nhất các quốc gia có Hồi giáo là quốc giáo và tín đồ Hồi giáo chiếm
đa số trong dân chúng với số liệu cụ thể là hơn một nửa trong số khoảng 20
quốc gia, vùng lãnh thổ tại MENA có người theo Hồi giáo chiếm hơn 95%
dân số.
- Một số lượng lớn tín đồ Hồi giáo, ước tính hơn 300 triệu người hoặc
1/5 tổng số tín đồ Hồi giáo trên thế giới đang sống tại các quốc gia mà Hồi
giáo không phải là tôn giáo chính. Đây thường là các quốc gia có dân số rất
Châu Âu
38.112.000
5,2%
2,4%
Châu Mỹ
4.596.000
0,5%
0,3%
Toàn thế giới
1.571.198.000
22,9%
100,0%
Nguồn: Pew Research Center’s Forum on Religion & Public Life, Mapping the Global
Muslim Population, October 2009
Số liệu trong bảng 1 đưa ra minh họa rõ ràng về tình hình tín đồ Hồi
giáo trên thế giới với tổng số ước tính trên 1,5 tỷ người. Số liệu thống kê cho
thấy phần lớn tín đồ Hồi giáo (61,9%) sống tập trung tại khu vực châu Á -
Thái Bình Dương và khu vực Trung Đông - Bắc Phi (20,1%) và châu lục có ít
người Hồi giáo sinh sống nhất là châu Mỹ với tỷ lệ chiếm khoảng 0,3% tổng
số tín đồ. Sự phân bổ tín đồ Hồi giáo trên thế giới như vậy đã phản ánh đúng
thực tế về quá trình phát triển của tôn giáo này trong giai đoạn nhiều thế kỷ
trong đó Trung Đông - nơi Hồi giáo ra đời đến nay vẫn là nơi sinh sống của
đa số tín đồ và hầu hết đều ở các quốc gia có Hồi giáo là quốc giáo với số
lượng tín đồ chiếm đa số trong dân chúng.
Số lượng tín đồ Hồi giáo đông như vậy nhưng phân bố không đều, hai
phần ba tổng số tín đồ sống ở 10 quốc gia, trong đó có 6 quốc gia ở Châu Á
22
(Indonesia, Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ), 3 quốc gia ở
Bắc Phi (Ai Cập, Algieria, Marốc) và 1 quốc gia Châu Phi cận Sahara
Nigeria
78.056.000
50,4%
5,0%
Iran
73.777.000
99,4%
4,7%
Thổ Nhĩ Kỳ
73.619.000
98%
4,7%
Algieria
34.199.000
98%
2,2%
Ma rốc
31.993.000
99%
2%
Nguồn: Pew Research Center’s Forum on Religion & Public Life, Mapping the Global
Muslim Population, October 2009
Khuynh hướng biến động của Hồi giáo và tín đồ Hồi giáo trong thời
gian tới được dự báo là sẽ rất mạnh với diễn biến chủ đạo là sự gia tăng nhanh
về số lượng tín đồ cũng như về sự hiện diện trên mọi vùng miền của thế giới.
Nghiên cứu đầu năm 2011 của PEW Research Center về Tương lai của dân
số Hồi giáo toàn cầu đã đưa ra nhận định rằng số lượng tín đồ Hồi giáo sẽ
tăng khoảng 35% trong vòng 20 năm tới và đạt khoảng 2,2 tỷ người vào năm
2030.
Nhìn một cách tổng quát và khách quan, Hồi giáo không hàm chứa bạo
lực, mà đại diện cho tư tưởng của Thượng đế, kêu gọi tín đồ tôn trọng người
khác, tôn trọng dân nghèo. Hồi giáo có những điều luật rất nhân đạo, như giúp
đỡ người nghèo, kẻ yếu đuối, cấm gây đau khổ, đổ máu cho người khác, cấm
uống rượu, khuyến khích tín đồ sống đời tốt lành, tránh trụy lạc Giáo sư
Bernard Lewis thuộc Đại học Princeton (Mỹ) cho rằng nhiều lời tuyên bố và
hành động của trùm khủng bố Osama bin Laden đi ngược với những nguyên
lý, giáo huấn của Hồi giáo, tất cả các nhóm Hồi giáo quá khích tự lọc lừa và
giải thích các văn bản thánh theo ý mình. Tuy nhiên, Hồi giáo có những điều
luật mà bọn khủng bố lợi dụng khai thác nhằm gieo rắc sự sợ hãi, thực hiện
tham vọng của chúng, như: Tín đồ Hồi giáo phải đi truyền đạo khắp thế giới
với phương châm: “Tin theo hay là chết”; kẻ nào bạo gan "nói xấu" Hồi giáo
sẽ phải chết, đồng thời cũng truyền bá tư tưởng cho rằng Hồi giáo không thể
là Hồi giáo, nếu nó không chiến thắng (các tôn giáo khác) về mặt quân sự.
24
Một trong những nhiệm vụ chính mà tiên tri Muhammad giao cho tín
đồ Hồi giáo là “jihad”, nguyên nghĩa Arập là cố gắng hoặc phấn đấu, trong
các văn bản cổ điển, nó được dùng sát với nghĩa đấu tranh, chiến đấu, là “một
cuộc đấu tranh về tinh thần của mỗi tín đồ nhằm tự hoàn thiện”, “phấn đấu
theo con đường của Thượng đế. Luật Hồi giáo cho phép tiến hành chiến tranh
chống lại bốn loại kẻ thù: kẻ vô đạo, kẻ bỏ đạo, quân phiến loạn và kẻ cướp.
Mặc dù tất cả bốn loại chiến tranh trên hợp pháp, nhưng chỉ có hai loại đầu
mới được coi là jihad và jihad là một nghĩa vụ tôn giáo. Trong chiến tranh tấn
công, jihad là một nghĩa vụ cho toàn thể mọi tín đồ Hồi giáo nói chung, có thể
chỉ do những người tình nguyện và chuyên nghiệp đảm trách; trong chiến
tranh phòng vệ, jihad là nghĩa vụ cho mọi người còn khoẻ mạnh. Chính trùm
khủng bố Osama bin Laden lợi dụng điểm này để kêu gọi chiến tranh chống
lại nước Mỹ.
Lịch sử hình thành, phát triển của Hồi giáo có những vấn đề gắn với
dường như họ coi các thường dân vô tội cũng là mục tiêu chính, bởi lẽ càng
có nhiều nạn nhân chết trong một vụ khủng bố thì chúng càng đạt được tiếng
vang lớn trong dư luận và càng gây được sự sợ hãi cho đối phương, và coi đó
là một chiến thắng về tâm lý. Điển hình là vụ tổ chức al-Qaeda cho nổ bom tại
Tòa Đại sứ Mỹ ở Đông Phi năm 1998 nhằm giết hại 12 nhà ngoại giao Mỹ,
nhưng đã làm thiệt mạng trên 200 người vô tội có mặt gần đó, hầu hết là
người Hồi giáo Châu Phi. Sự coi rẻ mạng người ở mức độ cao hơn là cơ sở
cho những hành động khủng bố thực hiện tại New York và Washington vào
ngày 11/9/2001 cướp đi sinh mạng của 3.000 người dân đến từ 90 quốc gia,
trong đó có cả người Hồi giáo. Các nhóm khủng bố Hồi giáo phần lớn được
hình thành ở các nước Trung Đông, nhưng chúng chủ yếu nhằm vào Mỹ và