Chính sách đối ngoại của liên bang Nga dưới thời tổng thống V. Putin - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Hải Vân Anh
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA
LIÊN BANG NGA DƯỚI THỜI
TỔNG THỐNG V.PUTIN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Phạm Quang Minh

HÀ NỘI-2008

1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

4
1.
Lý do chọn đề tài
4
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
6
3.
Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
8
4.
Phương pháp nghiên cứu

27
2.2.
Nội dung của chính sách đối ngoại
32
2.2.1.
Chính sách đối ngoại “định hướng Âu- Á”
32
2.2.2.
Chính sách đối ngoại của Nga với một số đối tác
35
2.2.2.1.
Chính sách đối ngoại của Nga đối với SNG
36
2.2.2.2.
Chính sách đối ngoại của Nga đối với Châu Âu
38
2.2.2.3.
Chính sách đối ngoại của Nga đối với Mỹ
44
2.2.2.4.
Chính sách đối ngoại của Nga đối với Châu Á
47

2
2.2.3.
Chính sách đối ngoại linh hoạt, thực dụng
63
CHƯƠNG 3
Đánh giá chính sách đối ngoại của Liên bang Nga dưới thời
Tổng thống V.Putin 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
Association of Southeast Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ARF
ASEAN Regional Forum
Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN
ABM
Anti-Ballistic Missile Treaty
Hiệp ước phòng thủ chống tên lửa đạn đạo
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
NATO
North Atlantic Treaty Organization
Khối hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương
NMD
National Missile Defense
Hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo quốc gia

năm cải tổ, để bước vào thế kỷ mới.
Sự xuất hiện của V.Putin trên vũ đài chính trị nước Nga, sự thăng tiến quá nhanh và
cả uy tín của ông, cùng với lòng ngưỡng mộ mà người dân Nga dành cho ông đã trở thành
một sự kiện không chỉ riêng với nền chính trị của nước Nga mà cả thế giới. Lịch sử nước
Nga trong thế kỷ XX, chưa từng biết đến một sự vươn tới đỉnh cao quyền lực của một lãnh
tụ chính trị nào nhanh đến như vậy. Trong nhiều trường hợp thường thì điều này chỉ đạt
được nhờ đấu tranh chính trị phức tạp và bền bỉ, thậm chí có thể phải đổ máu.

5
Vực dậy một đất nước đã quá suy yếu và chia rẽ là điều không đơn giản với bất kỳ
nhà lãnh đạo nào. Nhưng V.Putin đã làm được điều đó. V.Putin đã biến một nước Nga hỗn
loạn thành một nước Nga ổn định, một nền kinh tế đổ vỡ thành một nền kinh tế phát triển,
một nước Nga suy sụp thành một nước Nga đầy tự tin và kiêu hãnh.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, nước Nga đạt được những thành tựu đó là
do chính sách đối nội và chính sách đối ngoại đúng đắn của Tổng thống V.Putin. Ngay sau
khi trở thành Tổng thống, V.Putin đã đưa ra chính sách đối ngoại “Định hướng Âu - Á”,
theo đó Nga sẽ thiết lập mối quan hệ cân bằng giữa phương Đông và phương Tây trên
nguyên tắc linh hoạt, thực dụng với ưu tiên hàng đầu là bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích
dân tộc.
Nhìn lại nước Nga những năm đầu sau khi trở thành quốc gia độc lập, chúng ta
thấy người tiền nhiệm của V.Putin, Tổng thống B.Elsin đã thực hiện một chính sách đối
ngoại khác hẳn, chính sách đối ngoại “Định hướng Đại Tây Dương” hay còn có tên gọi
khác là đường lối ngoại giao “hướng Tây”. Nội dung cơ bản của chính sách này là đặt quan
hệ với Mỹ và các nước tư bản phương Tây lên hàng đầu, coi đó là quan hệ “hữu nghị”, là
“liên minh chiến lược”. Tổng thống B.Elsin trong bài phát biểu ngày 17 tháng 4 năm 1992,
tại kỳ họp thứ 6 Đại hội đại biểu nhân dân toàn Nga đã khẳng định: “nhiệm vụ trung tâm
bao trùm mọi hoạt động quốc tế của Nga là xây dựng quan hệ bạn bè với các nước dân chủ
trên thế giới nhằm đảm bảo cho nước Nga gia nhập cộng đồng các nước phương Tây một
cách hợp pháp và hài hòa” [17, tr. 84]. Nga “bỏ rơi” hầu như tất cả các đồng minh truyền
thống ở Đông Âu cũng như ở Châu Á và Châu Phi. Với chính sách trên, nước Nga đã có

Tuy nhiên, ở Việt Nam đây còn là đề tài tương đối mới mẻ. Phần lớn các nhà
nghiên cứu khi tìm hiểu về V.Putin mới chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu chính sách đối
ngoại của V.Putin trong phạm vi tác động với từng khu vực, như quan hệ giữa Nga với
Liên minh Châu Âu - EU, hay giữa Nga với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, và các
khu vực khác,…
Có thể chia các sách, tài liệu và bài báo viết về V.Putin theo ba nhóm:
* Nhóm thứ nhất: Tìm hiểu về tiểu sử của V.Putin, về quãng đời là một nhà tình
báo trước khi trở thành Thủ tướng rồi Tổng thống của Liên bang Nga. Như các sách:
- V.Putin - Từ trung tá KGB đến Tổng thống Liên bang Nga; Tác giả: Lý Cảnh
Long.
- V.Putin và những người cộng sự; Tác giả: A.A. Mukhin.

7
- V.Putin - Đường tới điện Kremlin; Tác giả: Hồng Thanh Quang.
Những tác phẩm này đã cho chúng ta thấy được chân dung của V.Putin, từ tính
cách, sở thích, bản lĩnh và con người V. Putin.
* Nhóm thứ hai: Đó là các bài báo nói về những nội dung cơ bản trong chính sách
đối ngoại của Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V.Putin, được đăng trên tạp chí Nghiên
cứu Châu Âu. Ví dụ: Chiến lược đối ngoại của nước Nga thời kỳ Tổng thống V.Putin của
tác giả Hồ Châu, số 3 - 2001; Những xu hướng khác nhau trong chính sách đối ngoại của
Nga và Mỹ thời gian gần đây của tác giả Phạm Văn Dân và Phạm Thị Phúc, số 6 -
2001,…. Các bài báo này mới chỉ nêu được những điểm mới trong chính sách đối ngoại
của Liên bang Nga nhưng chưa chỉ ra được cụ thể chính sách đối ngoại đó là như thế nào.
* Nhóm thứ ba: Đó là các bài báo nghiên cứu về quan hệ của Liên bang Nga với
những đối tác cụ thể như: quan hệ Nga - Hoa Kỳ, Nga - Trung Quốc, Nga - Châu Âu,
Nhìn chung, các tài liệu nói trên mới chỉ tìm hiểu những nội dung riêng lẻ trong
chính sách đối ngoại của Tổng thống V.Putin, chưa nghiên cứu tập trung và toàn diện,
chưa làm rõ được tính linh hoạt và thực dụng trong chính sách đối ngoại của V.Putin, chưa
thấy được sự thay đổi trong quan điểm của Tổng thống V.Putin trong hai nhiệm kỳ Tổng
thống của ông.

phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp
hệ thống, nhằm tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển, điều chỉnh trong đường lối đối
ngoại của Tổng thống V.Putin. Các phương pháp được kết hợp với nhau để tạo ra sự tiếp
cận toàn diện khi nghiên cứu chính sách đối ngoại. Trong các phương pháp đó, luận văn
đặc biệt chú ý đến phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh. Thông qua hai phương
pháp này đã xác định những điểm giống và khác trong đường lối đối ngoại của V.Putin với
những người tiền nhiệm của mình. 5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chương:

9
Chương 1: Tình hình thế giới và Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V.Putin.
Chương này sẽ tập trung làm rõ những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới và tình hình
nước Nga trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Đồng thời, trong chương này
cũng đề cập đến vai trò của V.Putin trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga.
Chương 2: Nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga
dưới thời Tổng thống V.Putin. Chương này trình bày những nội dung cơ bản trong chính
sách đối ngoại của Liên bang Nga, bao gồm các mục tiêu, các giai đoạn trong quá trình
hình thành chính sách đối ngoại và các đặc điểm chính của chính sách đó.
Chương 3: Đánh giá chính sách đối ngoại của Liên bang Nga dưới thời Tổng
thống V.Putin. Chương này sẽ đưa ra những đánh giá về chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga dưới thời Tổng thống V.Putin, bao gồm những thành tựu mà nước Nga đã đạt
được và những hạn chế của chính sách này. Ngoài ra, chương này còn đánh giá những tác
động của chính sách đối ngoại của V.Putin đối với nước Nga, đối với khu vực và thế giới
thông qua một số đối tác cụ thể. Phần cuối là một số đánh giá về triển vọng của chính sách
đối ngoại của Liên bang Nga trong tương lai.

năm 2008” [26, tr.24]. Bên cạnh Trung Quốc, Ấn Độ cũng đang có những bước phát triển
nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực. Vai trò của Ấn Độ liên quan nhiều tới phát triển dịch
vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và các dịch vụ hiện đại, tức là các nước đang phát
triển [52, tr. 15]. Những trung tâm quyền lực này đang đe dọa tới vị trí đứng đầu của Mỹ
trong nền kinh tế, chính trị thế giới, đồng thời cũng đang cạnh tranh với nhau để củng cố vị
thế của mình.
Từ sự vươn lên mạnh mẽ của những nền kinh tế mới trên thế giới đã chứng minh
cho một xu thế mới hiện này là thế giới sẽ chuyển mạnh từ chạy đua về quân sự, tranh
giành những khoảng trống quyền lực sang cạnh tranh về kinh tế chiếm lĩnh thị trường. Vì
sức mạnh kinh tế là nhân tố hàng đầu quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia,
đóng vai trò quyết định vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế, nên Liên bang Nga sẽ
càng khó khăn hơn trong việc lấy lại vị trí cường quốc của Liên Xô trước đây.
Trong những thập niên gần đây, “toàn cầu hoá” đã trở thành một trong những thuật
ngữ được nhắc đến nhiều nhất. Toàn cầu hoá được biết đến hiện nay với những đặc điểm
nổi bật là sự lưu chuyển tự do các dòng hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động ngày
càng tăng, là sự hình thành các mạng lưới sản xuất quốc tế với vai trò chi phối các công ty

11
xuyên quốc gia, là sự cạnh tranh giữa các quốc gia và các khu vực. Tham gia toàn cầu hoá
các quốc gia có thể nhanh chóng hội nhập và tiếp cận thị trường thế giới, qua đó hình thành
đồng bộ các thể chế kinh tế thị trường trên quy mô toàn cầu. Ngoài ra, các quốc gia khi
tham gia vào quá trình toàn cầu hóa còn có khả năng tiếp cận được những thành quả sáng
tạo về khoa học công nghệ, về tổ chức quản lý, về sản xuất và kinh doanh. Từ đó, thúc đẩy
sự cải cách sâu rộng của nền kinh tế quốc gia và cả sự hợp tác khu vực để các quốc gia có
thể nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng đặt ra hàng loạt nguy cơ và thách thức đối với các
quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Do yêu cầu của toàn cầu
hoá là đòi hỏi các nước phải dỡ bỏ các luật lệ bảo hộ kinh tế, các hàng rào thuế quan và
phi thuế quan, cũng như các rào cản khác về đầu tư, tài chính, kỹ thuật, thể chế, nên
những quốc gia này luôn luôn phải chịu sức ép nặng nề của các dòng hàng hoá, dịch vụ,

với muôn vàn khó khăn và thách thức.
* Về chính trị: Đặc điểm nổi bật của nền chính trị Nga trong thập niên 90 là sự
mất ổn định và sự đối đầu tranh giành quyền lực giữa các thế lực.
Cuộc chính biến tháng 8 năm 1991 ở Liên Xô thất bại. B.Elsin thâu tóm mọi quyền
lực, đẩy nhanh sự tan rã của Liên Xô. Tháng 12 năm 1991, Tổng thống ba nước Nga,
Bêlarút, Ucraina ký Hiệp ước tại Bêlarút tuyên bố sự cáo chung của Liên Xô và sự ra đời
của cộng đồng các quốc gia độc lập - SNG. Liên bang Nga trở thành người thừa kế Liên
Xô cũ. Chính quyền Nga do B.Elsin làm Tổng thống chuyển nhanh sang nền kinh tế thị
trường tự do, đẩy mạnh việc tư nhân hoá, tạo dựng chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng,
cộng hoà tổng thống, tập trung nhiều quyền lực cho tổng thống. Đồng thời, B.Elsin cũng
đề ra chính sách đối ngoại “định hướng Đại Tây Dương” với mục tiêu đưa nước Nga
nhanh chóng hội nhập với phương Tây và phục hồi vị thế cường quốc của Liên bang Nga
trên trường thế giới.
Cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực diễn ra gay gắt trong chính quyền mới của
nước Nga, mâu thuẫn giữa B.Elsin, đại diện cho cơ quan hành pháp mới và Chủ tịch Xô
viết tối cao Khasbulatov, đại diện cho hệ thống cơ quan lập pháp cũ, đẩy đến cao điểm
thành cuộc xung đột vũ trang đẫm máu tháng 10 năm 1993. Kết quả là hệ thống Xô viết cũ
từ Trung ương đến địa phương bị xoá bỏ. Đối thủ chính trị của B.Elsin đã bị loại bỏ và
quyền lực của B.Elsin được củng cố.
Ngày 12 tháng 12 năm 1993, B.Elsin tổ chức trưng cầu dân ý, thông qua Hiến pháp
và bầu Quốc hội mới. Nước Nga theo chế độ cộng hoà tổng thống với Quốc hội liên bang

13
gồm hai viện là Thượng viện (Hội đồng liên bang) và Hạ viện (Duma quốc gia). Với chế
độ này, quyền lực tập trung chủ yếu trong tay Tổng thống. Tổng thống đã dàn xếp với các
lực lượng chính trị ký kết thoả ước cam kết không dùng vũ lực để giành chính quyền, thay
đổi một số thành phần chính phủ, đưa một số người có quan điểm cải cách ôn hoà vào
chính phủ để giảm bớt sức ép của phe đối lập đối với chính phủ và Tổng thống. Tổng
thống trực tiếp chỉ huy các Bộ Quốc phòng, An ninh, Ngoại giao, Nội vụ. Tuy nhiên, do
ảnh hưởng của tình hình kinh tế và việc đưa quân vào Chechnya (12-1994), uy tín của

* Về kinh tế - xã hội: Sau khi Liên Xô sụp đổ, Liên bang Nga ra đời với tư cách là
một quốc gia độc lập, là người kế thừa địa vị pháp lý của Liên Xô, được thừa hưởng chủ
yếu “gia tài” vĩ đại của Liên Xô để lại. Liên bang Nga thừa hưởng khoảng 75% tiềm lực
công nghiệp và khoảng 70% tiềm lực kinh tế nói chung của Liên Xô.
Nước Nga bước vào công cuộc cải cách kinh tế trong điều kiện rất khó khăn và
chứa đựng đầy mâu thuẫn. Hậu quả của thời kinh tế bao cấp và 5 năm cải tổ thời
Goócbachốp (1986-1991) đã để lại cho Liên bang Nga một di sản nặng nề. Thực trạng kinh
tế của Nga năm 1991 là: GDP giảm 15%, công nghiệp giảm 12-15%, ngũ cốc giảm 24%,
lạm phát 15-20%/ tháng [25, tr. 83]. Sự sụp đổ của Liên Xô làm cho các mối quan hệ kinh
tế thương mại giữa các nước cộng hoà và các bạn bè truyền thống bị tan vỡ. Chương trình
cải cách kinh tế 500 ngày của Yavlinski- lãnh tụ phái Yablaco, “Liệu pháp sốc” thả nổi giá
cả, tư nhân hoá ồ ạt, thực hiện chính sách tài chính chặt chẽ theo mô hình của IMF, cơ cấu
lại nền kinh tế, tự do hoá kinh tế và mở rộng kinh tế đối ngoại của quyền Thủ tướng Gaida
đã thất bại. Nguyên nhân là do tình hình chính trị không ổn định, các biện pháp cải tổ kinh
tế vội vã không tính đến đặc thù của nước Nga và đã mắc phải nhiều sai lầm trong cách
thức tiến hành. Một năm sau cải cách, năm 1992, GDP giảm 19%, công nghiệp giảm
18,8%, nông nghiệp giảm 8%, đầu tư cơ bản giảm 45%, thâm hụt ngân sách 20,0% GDP,
lạm phát trên 20%/ tháng, giá cả tăng 26 lần, thu nhập thực tế của người dân chỉ bằng 44%
đầu năm 1992 [26, tr. 83].
Chương trình cải cách kinh tế thất bại, xung đột vũ trang và khủng hoảng chính trị
xảy ra liên miên đã làm cho nền kinh tế nước Nga lại tiếp tục suy giảm và đã xuống tới
điểm thấp nhất. Năm 1994, GDP giảm 12%, bằng 53% GDP của Nga năm 1990, công
nghiệp giảm 23%, lạm phát khoảng 12%/tháng, nợ chồng chéo giữa các xí nghiệp không
thanh toán được với nhau khoảng 125 ngàn tỷ rúp [26, tr. 84].
Để cứu vãn tình hình, cuối năm 1994, Chính phủ Nga đưa ra Chương trình ổn định
và phát triển kinh tế trung hạn 1995-1997 với ý đồ kiềm chế lạm phát, chống suy thoái sản
xuất để ổn định kinh tế vào năm 1996. Nhà nước quy định biên độ dao động tỷ giá giữa

15
đồng rúp và đồng đôla, phát hành tín phiếu, trái phiếu, hạn chế lưu thông tiền mặt nên đã

Khủng hoảng kinh tế trầm trọng đã làm cho đời sống xã hội của người dân Nga bị
suy giảm. Thu nhập thực tế của người dân Nga liên tục giảm trong những năm tiến hành

16
quá trình cải tổ và đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tháng 8 năm 1998. Tổng thu nhập bằng
tiền của người Nga, theo phương pháp tính toán của Liên hiệp quốc, chỉ bằng gần 10% chỉ
số tương ứng của người Mỹ. Các chỉ số chủ yếu cho thấy chất lượng của cuộc sống như:
tình trạng sức khoẻ, tuổi thọ của người Nga tiếp tục giảm sút. Nhân dân mất niềm tin vào
nhà nước.
* Về uy tín quốc tế: Uy thế của Nga trên trường quốc tế đã giảm sút mạnh so với
Liên Xô trước đây. Sự suy giảm vị thế của Nga không chỉ gắn liền với cuộc khủng hoảng
kinh tế xã hội trầm trọng cả về bề rộng lẫn chiều sâu, mà còn với thực tế rất bất lợi sau khi
trật tự thế giới hai cực tan rã, Liên bang Nga trở thành quốc gia không có kẻ thù công khai
và trực tiếp, nhưng cũng không có đồng minh lẫn đối tác tin cậy, những nước có thể giúp
đỡ Nga trong trường hợp xảy ra nguy cơ đe dọa những lợi ích sống còn của Nga.
Ảnh hưởng của Nga bị suy giảm ngay cả đối với các nước SNG và các nước cộng
sản cũ. Những nước ở Châu Âu thì đang có xu hướng gia nhập EU và NATO. Những nước
ở Châu Á, cụ thể là Trung Á, đang rơi vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc hoặc của Mỹ.
Với tình hình kinh tế còn eo hẹp, Nga không đủ khả năng để giành ưu thế so với Mỹ nên
buộc phải nhượng bộ và hoà hoãn nhiều vấn đề. Nga hoàn toàn không phải là đối thủ
ngang bằng với Mỹ.
Trong quan hệ chính trị quốc tế, nước Nga rơi vào nguy cơ bị cô lập, bị gạt ra ngoài
lề các công việc của châu Âu và thế giới, không lọt vào danh sách các trung tâm sức mạnh
chủ yếu của trật tự thế giới thế kỷ XXI. Nước Nga hầu như đứng tách biệt khỏi xu thế khu
vực hoá và quốc tế hoá.
Như vậy, bức tranh toàn cảnh về đất nước Nga mang đậm một gam màu xám:
chính trường nước Nga rối như mớ bòng bong, kinh tế suy thoái nghiêm trọng, tài sản quốc
gia bị đục khoét mục ruỗng, các băng đảng mafia mọc lên như nấm sau cơn mưa. Nước
Nga không có một trung tâm quyền lực tuyệt đối và như thế cuộc đấu tranh giành quyền
lực sẽ diễn ra vô cùng khốc liệt. Có thể nói, thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX là thập kỷ

Trong suốt thời gian từ tháng 5 năm 1990 đến tháng 6 năm 1996, V.Putin đã hoàn
thành nghĩa vụ của một người trợ lý, cán sự, thư ký và đại diện cho Chủ tịch Hội đồng
Lêningrad, ông A.Sobchak. V.Putin là chiến hữu duy nhất, luôn bên cạnh A.Sobchak. Bề
ngoài V.Putin chỉ giữ vai phụ nhưng lại thực hiện những chuẩn mực của vai chính. V.Putin
đã trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất ở Saint-Peterburg. Thời gian
bên cạnh A.Sobchak này đã giúp V.Putin rất nhiều trên con đường chính trị của ông sau
này và cũng có thể, chính nhiệm vụ cố vấn về các vấn đề quốc tế đã giúp ông trong việc
định hình chính sách đối ngoại cho Liên bang Nga.

18
Sự xuất hiện của V.Putin trên chính trường nước Nga thời điểm này được coi là
một trong những sự kiện quan trọng khép lại thế kỷ XX và mở ra thế kỷ XXI. Phản ứng
của người dân Nga trước sự xuất hiện của V.Putin rất khác nhau. Không quan tâm bởi lẽ
cũng sẽ giống như những người tiền nhiệm trước, ông không mang đến được nhiều sự thay
đổi cho nước Nga. Là sự hoài nghi về thời gian tồn tại của chính quyền mới và tác động
của những chính sách mới. Nhưng cũng có không ít người tin tưởng vào sự trẻ tuổi và bản
lĩnh của cựu điệp viên tình báo thời Liên bang Xô viết.
Tính đến thời điểm hiện nay, V.Putin đã đi hết hai nhiệm kỳ Tổng thống của mình.
Nhìn lại tình hình nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XX, chúng ta mới có thể cảm
nhận được sự thay đổi rõ rệt của nước Nga hiện nay. Và sự thay đổi đó của nước Nga có
được đó chính là nhờ sự linh hoạt, khéo léo và đầy tính thực dụng của Tổng thống V.Putin
được thể hiện qua chính sách đối ngoại của ông. V.Putin được coi như là một vị thuyền
trưởng đã dẫn dắt con thuyền nước Nga vượt qua nhiều sóng gió. Trong cuộc họp báo cuối
cùng trên cương vị Tổng thống ngày 14 tháng 2 năm 2008, V.Putin đã nói: “Tất cả các
mục tiêu đặt ra đều đã đạt được và các nhiệm vụ đã được hoàn thành”. Năm 2007, tăng
trưởng kinh tế Nga đạt 8,1% và sức mua sắm đứng thứ 7 trong các nền kinh tế thế giới.
Nước Nga đã xây dựng được cơ sở cho một nền kinh tế thị trường mới và đang nhanh
chóng trở thành một trong những “ông lớn” của nền kinh tế thế giới. Về uy tín quốc tế,
Nga đã không còn là vị khách của Châu Âu mà đang dần lấy lại được vị thế cường quốc
của mình, được Mỹ và Châu Âu tôn trọng.

mạnh kinh tế, quyền lực kinh tế trở nên quan trọng hơn, quyết định đến sự tồn tại và hưng
thịnh của một quốc gia. Khi nước Nga có được dấu hiệu hồi phục và bắt đầu đi vào quỹ
đạo phát triển thì ưu tiên tiếp theo đó là khôi phục địa vị cường quốc thế giới cho nước
Nga. Việc xác định mục tiêu này đóng một phần quan trọng trong sự thành công của chính
sách đối ngoại. Trong “Chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga”, công bố ngày 28 tháng 6
năm 2000, V.Putin đã từng khẳng định:“Một đường lối đối ngoại thành công của Nga phải
được xây dựng trên cơ sở tuân thủ sự cân bằng giữa các mục tiêu và khả năng đạt được các
mục tiêu đó”.
Chiến lược đối ngoại mới của Nga phải nhằm hai mục tiêu:
- Một là, tạo mọi điều kiện thuận lợi để có thể ổn định tình hình chính trị và từng
bước khôi phục, phát triển nền kinh tế trong nước.

20
- Hai là, bảo đảm cho nước Nga giữ được vị trí nhất định trên trường quốc tế, trước
hết là ở các khu vực, lĩnh vực chiến lược quan trọng nhất.
Đây được xem là mục tiêu cơ bản trong chính sách đối nội và chính sách đối ngoại
của Tổng thống V.Putin. Nhưng ở Tổng thống V.Putin có điểm khác biệt so với những
người tiền nhiệm trước, đó là ranh giới giữa chính sách đối ngoại và đối nội của ông hầu
như đã bị xoá nhoà. Chính sách đối ngoại của Nga phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản của
nhân dân Nga: tích cực vượt qua nghèo đói, xây dựng đội ngũ công chức trong sạch không
tham nhũng, hạn chế ảnh hưởng của “bọn tài phiệt”, chấm dứt chiến tranh ở Chechnya,…
Việc củng cố thể chế nhà nước Nga cũng như sự gia tăng tốc độ phát triển kinh tế đã ảnh
hưởng tích cực tới vị thế quốc tế của nước Nga và ngược lại một mối quan hệ hợp tác quốc
tế hiệu quả sẽ có thể đem lại lợi ích trong phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá -
giáo dục trong nước.
Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga cần đóng góp thiết thực vào những nhiệm
vụ chung của quốc gia như nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Nga, tăng cường
xuất khẩu hàng hoá, bảo vệ lợi ích của các công ty Nga ở nước ngoài và thúc đẩy sự liên
kết giữa kinh tế Nga với nền kinh tế thế giới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng gấp đôi
tổng sản phẩm quốc nội của Nga vào năm 2010.

và hành động, tham gia vào hoạt động của các tổ chức khu vực và quốc tế”[64].
Quan điểm chiến lược của V.Putin: “Lấy lợi ích quốc gia làm hạt nhân; lấy phát
triển kinh tế làm tiền đề; lấy tinh thần dân tộc làm động lực; lấy chính quyền hiệu quả làm
chỗ dựa; lấy đoàn kết xã hội làm biện pháp; lấy lịch sử làm bài học kinh nghiệm; không chỉ
một chiều phê phán sai lầm của thời kỳ Liên Xô mà còn khẳng định những thành tựu của
thời kỳ Liên Xô; lấy việc chọn con đường phát triển phù hợp làm phương hướng; không đi
theo con đường của Châu Âu và Mỹ; lấy hợp lý hóa môi trường bên ngoài làm điều kiện và
cuối cùng lấy chấn hưng địa vị nước lớn làm mục tiêu” [52, tr. 61].
Chính sách đối ngoại của Nga phải hướng tới mục tiêu tác động vào tiến trình
chung của thế giới nhằm xây dựng một trật tự thế giới ổn định, công bằng và dân chủ trên
cơ sở những nguyên tắc của luật pháp quốc tế đã được thừa nhận, kể cả những mục tiêu và
nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, trên cơ sở bình đẳng và quan hệ đối tác giữa
các quốc gia.
Nhìn chung, chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia đều nhằm ba mục tiêu cơ bản là
an ninh, phát triển và phát huy ảnh hưởng của quốc gia trên thế giới. Ba mục tiêu này có
quan hệ chặt chẽ với nhau và thứ bậc ưu tiên của mỗi mục tiêu trong việc hoạch định và

22
triển khai chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể
trong từng giai đoạn nhất định. Chính sách đối ngoại của V.Putin cũng nhằm thực hiện
những mục tiêu đó. Và khi được bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng thống Nga, V.Putin đã quyết
định bắt tay ngay vào công cuộc khôi phục đất nước bằng mọi giá. V. Putin cho rằng đó là
mục tiêu lớn nhất, là ý nghĩa sống còn của cuộc đời ông. Ông nói: “Số phận đã mang đến
cho tôi cơ hội giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc và tôi có nhiệm vụ phải thực
hiện trọng trách đó” [66].
Với những mục tiêu trên, chúng ta thấy ở V.Putin một con người yêu nước, tràn
đầy ý tưởng về sự vĩ đại của nước Nga. Ông muốn nước Nga giữ một vị trí xứng đáng trên
trường quốc tế và được thế giới kính trọng.

2.1.2. Những giai đoạn chính trong quá trình hình thành chính sách đối ngoại

Dựa trên tình hình thế giới và đặc biệt chú trọng đến chính sách đối ngoại của Nga
sau chiến tranh lạnh, nước Nga dưới thời V.Putin sẽ theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập
và xây dựng. Chính sách đó dựa trên sự nhất quán và chủ nghĩa thực dụng cùng có lợi.
Chính sách đó phải hoàn toàn rõ ràng, có tính đến lợi ích hợp pháp của các nước khác và
nhằm tìm kiếm những giải pháp chung.
Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga cần nhằm thúc đẩy thực hiện phương
châm ngoại giao tích cực. Trước hết, cần củng cố cơ chế quản lý đa phương tiến hành
chính trị và kinh tế có tính mấu chốt, tạo điều kiện có lợi cho phát triển kinh tế và xã hội
của đất nước, bảo đảm ổn định toàn cầu và khu vực, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
của công dân Nga sống ở nước ngoài.
Nước Nga cần phát triển quan hệ với các quốc gia thành viên của Cộng đồng các
quốc gia độc lập theo chuẩn mực luật pháp quốc tế, phát triển tiến trình nhất thể hoá thích
ứng với lợi ích của Nga trong phạm vi Cộng đồng các quốc gia độc lập. Phải bảo đảm việc
Nga gia nhập cơ cấu kinh tế, chính trị toàn cầu và khu vực với tư cách là một thành viên
được hưởng quyền lợi đầy đủ, được hỗ trợ giải quyết xung đột, bao gồm tham gia vào các
hoạt động gìn giữ hoà bình mà Liên Hợp quốc, Hội đồng Bảo an và cộng đồng các quốc
gia độc lập lãnh đạo.
Nước Nga phải tìm kiếm sự tiến bộ trong lĩnh vực giám sát vũ khí hạt nhân, bảo vệ
sự ổn định chiến lược, bảo vệ và tăng cường địa vị của “Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo”
ký năm 1972. Thực hiện nghĩa vụ trong lĩnh vực cắt giảm và tiêu huỷ vũ khí giết người
hàng loạt và vũ khí thông thường, thi hành biện pháp củng cố sự tín nhiệm và ổn định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status