Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay - Pdf 25


Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng Đại học khoa học Xã hội và nhân văn

Khúc Diệu Huyền
Vấn đề đói nghèo trong quan
hệ quốc tế hiện nay
Luận văn thạc sĩ ngành Quốc Tế học
Hà Nội -2008 Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng Đại học khoa học Xã hội và nhân văn

Khúc Diệu Huyền Vấn đề đói nghèo trong quan hệ
quốc tế hiện nay

2.2 Tác động của vấn đề đói nghèo đối với Quan hệ quốc tế 38
2.2.1 Trong lĩnh vực an ninh - chính trị 38
2.2.2. Trong lĩnh vực kinh tế 43
2.2.3 Trong lĩnh vực xã hội và các vấn đề toàn cầu khác 51
Ch-ơng 3: Hợp tác quốc tế trong việc khắc phục nạn
đói nghèo 54
3.1 Các nỗ lực của các tổ chức quốc tế trong việc khắc phục nạn đói nghèo 54
3.2 Hợp tác giữa các quốc gia trong việc khắc phục nạn đói nghèo 81
3.3 Hợp tác của Việt Nam trong việc khắc phục nạn đói nghèo 92
Kết luận 100
Tài liệu tham khảo 105
Phụ lục 115

28
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT AU
African Union
Liên minh Châu Phi
CPRGS
Comprehensive Poverty Reduction and Growth
Strategy
Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói giảm
nghèo
CFS
Committee of Food Security
Uỷ ban An ninh Lương thực
EU
European Union

ILO
Internation Labour Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
INGO
International Non-governmental Organizations
Tổ chức Phi Chính phủ Quốc tế
OAU
Organization of African Union
Tổ chức thống nhất Châu Phi
ODA
Official Development Assistance
Viện trợ Phát triển Chính thức
OECD
Organization for Economic Co-operation and
Development
Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
MDG
Millennium Development Goals
Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ
NGO
Non - governmental Organizations
Tổ chức phi Chính phủ
SAARC
South Asian Assciation for Regional Cooperation
Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á

30

World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới 28

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình hình nghèo nàn trên thế giới 29
Bảng 2.2: Vốn ODA cung cấp bởi một số nước phát triển (2004) 51
Sơ đồ 3.1: Tổng trị giá cho vay của IBRD - IDA theo lĩnh vực năm
tài khoá 2004 79
Bảng 3.2: Xu thế ODA 1990 - 2005 84
Bảng 3.3: FDI theo vùng nhận đầu tư và một số nền kinh tế chính 2004 – 2006 . 87 28
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Chúng ta đang sống trong một thế giới mất cân bằng, vừa giàu lại vừa

nghèo. Nghiên cứu về vấn đề toàn cầu này và tác động của nó trong quan hệ
quốc tế góp phần bổ sung một cách nhìn mới về đói nghèo dưới góc độ quốc tế,
từ đó phân tích, tìm hiểu các yếu tố mang tính quốc tế của vấn đề này, đồng thời
chỉ ra những tồn tại cần phải khắc phục. Đói nghèo là vấn đề hiện đang tác động
đến Việt Nam, tìm hiểu đói nghèo và tác động trong quan hệ quốc tế nhằm giúp
tìm hiểu sâu hơn về tác động của vấn đề đối với Việt Nam. Qua đó để khắc phục,
khai thác những yếu tố tích cực trong quan hệ quốc tế nhằm phục vụ cho công
cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn “Vấn đề đói nghèo
trong quan hệ quốc tế hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề đói nghèo là một vấn đề rất quan trọng nhưng chưa được nhiều
người nghiên cứu và phân tích sâu dưới góc độ quốc tế. Chỉ có một số các ấn
phẩm từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Liên hợp quốc, Tổ chức
Nông lương Thế giới hoặc các tổ chức phi chính phủ khác nghiên cứu về vấn đề
này. Tuy nhiên, phần lớn các ấn phẩm này chủ yếu phân tích hiện tượng đói
nghèo, các phương hướng giải quyết, các chương trình xoá đói giảm nghèo và
thành tựu đạt được mà chưa xét tới góc độ phân tích quốc tế. Trong khuôn khổ

30
bài luận văn, người viết mong muốn có được một cái nhìn khái quát về vấn đề
đói nghèo trên thế giới hiện nay đồng thời thấy được tác động của nó trong quan
hệ quốc tế.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình đói nghèo trên thế giới và tác
động của đói nghèo đối với quan hệ quốc tế.
Đói nghèo không phải là hiện tượng mới mà đã có từ lâu trong lịch sử. Bên
cạnh đó đói nghèo cũng không phải là hiện tượng của riêng vùng nào đó mà là
hiện tượng có tính phổ biến trên toàn thế giới. Trong phạm vi của một bản khoá

Nam – Nam để thấy được nỗ lực của cả nước giàu và nước nghèo trong cuộc
chiến chống đói nghèo. Phần cuối của chương 3 là một vài nét về tình hình hợp
tác quốc tế của Việt Nam trong việc khắc phục nạn đói nghèo, những nỗ lực và
kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua. Qua đó người đọc có thể
thấy được các nỗ lực mang tính quốc gia và quốc tế trong cuộc chiến chống đói
nghèo được nhìn nhận một cách khách quan dưới góc độ quốc tế.
Bên cạnh đó, bài viết còn đưa ra các bản phụ lục, với tư cách như một nguồn
tài liệu tra cứu, về các số liệu, chỉ số về đói nghèo và các biểu bảng số liệu.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO
1.1 Vài nét về đói nghèo
1.1.1 Khái niệm "Đói nghèo"
Khái niệm đói nghèo (poverty) là một khái niệm khá rộng với nhiều cách
định nghĩa khác nhau. Đối với mỗi người, mỗi cách tiếp cận, đói nghèo lại được
thể hiện các khía cạnh rất riêng của nó. Trong luận văn này, đói nghèo được
hiểu là một từ chứ không phải hai từ vì đói và nghèo liên quan chặt chẽ đến
nhau. "Đói" hiện nay là tình trạng cao nhất của đói nghèo và là tiêu điểm của sự
quan tâm quốc tế; còn "nghèo" là trạng thái vật chất gắn chủ yếu với cá nhân và
là đối tượng khắc phục của quốc gia. Đói là biểu hiện cao nhất của nghèo, và
ngược lại nghèo cũng là nguyên nhân dẫn đến đói. Thuật ngữ "đói nghèo" được
sử dụng trong bài chính nhằm phản ánh mối quan hệ qua lại giữa "đói" và
"nghèo". Đói nghèo ngày càng được coi là vấn đề toàn cầu bởi tính cách nhân
đạo và hậu quả quốc tế của nó.
Khái niệm đói nghèo được thể hiện một cách khá đầy đủ theo nghĩa rộng
và hẹp:
- Theo nghĩa hẹp, đói nghèo được hiểu là sự thiếu những nhu cầu cơ bản
cần thiết cho sự tồn tại như các nhu cầu ăn, mặc, ở.
- Còn theo nghĩa rộng, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn lương thực, thực

nghèo ngay trong bản thân những nước đó trở thành một vấn đề xã hội lớn
[43]".
Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) trung bình một
ngày có khoảng 25.000 người chết vì đói nghèo. 850 triệu người trên thế giới
được xếp vào diện đói ăn, số người này nhiều hơn số dân của Mỹ, Canada và
Liên minh Châu Âu. Chỉ ở các nước đang phát triển, con số người đói đã lên tới
815 triệu người, 1/3 trong số đố sống ở khu vực Châu Phi cận Sahara. "Tính đến
tháng 3 năm 2005 của FAO, trên thế giới có 36 nước đang đối mặt với nạn
nghèo đói trong đó có 23 quốc gia Châu Phi, bảy quốc gia Châu Á/ Cận Đông,
năm quốc gia Châu Mỹ La Tinh và một quốc gia Châu Âu [43].
Tình trạng nghèo đói cũng thúc giục mọi người hành động vì người nghèo,
đòi hỏi thay đổi thế giới để ngày càng có nhiều người có cái ăn, chỗ ở, được
chăm sóc y tế, tiếp cận giáo dục, có khả năng chống lại bạo lực và có tiếng nói
trong cộng đồng.
1.1.2 Phân loại đói nghèo
Có nhiều cách phân loại đói nghèo khác nhau. Căn cứ theo quy mô và thời
gian tác động, người ta phân chia đói nghèo thành 4 loại cơ bản sau:
- Đói nghèo chu kỳ (Cyclical poverty): Là loại đói nghèo trong toàn bộ dân
cư nhưng diễn ra trong một thời gian hạn chế và có thể lặp đi lặp lại [19].
Cuộc đại suy thoái (Great Depression) trong những năm 1930 là một ví dụ
tiêu biểu cho đói nghèo chu kỳ mà nguyên nhân chủ yếu là sự dao động trong
chu kỳ kinh doanh, sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu. Đói nghèo chu kỳ
được khắc phục bằng nhiều biện pháp khác nhau như trợ cấp thất nghiệp, thành
lập quỹ bình ổn giá cả, dự trữ lương thực, xây dựng các chính sách tài chính,
các quy định và nhiều chính sách khác nhằm kích thích nền kinh tế, tạo công ăn
việc làm cho người thất nghiệp
- Đói nghèo tập thể (Collective poverty): Khác với đói nghèo chu kỳ
thường mang tính tạm thời, sự đói nghèo phổ biến hay đói nghèo tập thể liên
quan đến sự thiếu thốn thường xuyên các phương tiện đảm bảo những nhu cầu
cơ bản. Tình trạng này có thể là chung cho mức sống bình quân trong xã hội

khác liên quan gồm những người có năng lực lao động bình thường nhưng vì
nhiều lý do khác nhau mà trở nên đói nghèo như hoang phí, lười lao động, sa cơ
lỡ vận, đông con, hay mắc phải các tệ nạn xã hội (cờ bạc, nghiện hút). Giải pháp
chung cho cả hai nhóm người đói nghèo điểm này thường là giáo dục, tạo công
ăn việc làm thích hợp, hay tạo nơi cư trú, giúp đỡ về kinh tế, và các biện pháp
mang tính từ thiện khác
Trong cách phân loại trên, đói nghèo chu kỳ khác với đói nghèo tập thể,
đói nghèo tập thể tập trung và đói nghèo điểm ở chỗ chỉ diễn ra theo chu kỳ, còn
ba hình thức còn lại đều diễn ra lặp đi lặp lại và kéo dài liên tục về mặt thời
gian. Đói nghèo chu kỳ và đói nghèo tập thể lại khác với đói nghèo tập thể tập
trung và đói nghèo điểm về không gian. Bởi lẽ, nếu như đói nghèo chu kỳ và
đói nghèo tập thể diễn ra trên một không gian rộng với số lượng người bị ảnh
hưởng rất lớn thì đói nghèo tập thể tập trung và đói nghèo điểm chỉ diễn ra trong
một không gian hẹp và ở một bộ phận dân cư nhất định.
Bên cạnh cách phân loại trên, căn cứ vào cấp độ của đói nghèo người ta
chia đói nghèo thành: đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo tương đối.
- Đói nghèo tuyệt đối: Đói nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới
ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu
tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ, trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm
cách vượt quá sức tưởng tượng". Ngân hàng thế giới (World Bank) xem thu
nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đôla thế
giới để thoả mãn như cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn đói nghèo tuyệt
đối.
- Đói nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, đói
nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Đói nghèo tương
đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và
phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với
sự sung túc của xã hội đó.
1.1.3 Chuẩn đói nghèo
Hàng năm, vào ngày 17 tháng 10, cả thế giới tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc

Trong hơn 20 năm qua, quá trình đổi mới đã đạt được những thành tựu
đáng kể trong việc tăng thu nhập và giảm đói nghèo ở Việt Nam. Tuy nhiên, số
người nghèo vẫn còn rất nhiều và giúp họ thoát nghèo là một trong những ưu
tiên hàng đầu của Chính phủ. Để đánh giá về nghèo đói cũng như xác định
chuẩn đói nghèo, một loạt các chỉ tiêu về nghèo đói và phát triển xã hội đang
được sử dụng ở Việt Nam:
- "Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội dùng phương pháp dựa trên thu
nhập hộ. Các hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập đầu người của họ ở
dưới mức chuẩn được xác định, mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và
miền núi. Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ dân số có thu nhập dưới ngưỡng
nghèo.
- Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người để
tính tỷ lệ nghèo. Theo đó xác định ngưỡng tiêu dùng dựa trên chi phí cho một
giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho
lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho một người. Các hộ được
coi là thuộc diện nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ
tiêu dùng này.
- Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn tính chỉ số Phát triển con người
(HDI) ở cấp tỉnh qua việc đo thành tựu của đất nước ở 3 khía cạnh phát triển
của con người: tuổi thọ, tri thức và mức sống thoả đáng" [1].
Theo Quyết định số 143/2001/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
27/09/2001 phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai
đoạn 2001-2005". Theo đó chuẩn đói không còn được đặt ra, do Việt Nam đã
đạt mức dư thừa lương thực. Chuẩn nghèo gồm 3 mức: Đối với nông thôn miền
núi và hải đảo: dưới 80.000 đồng/người/tháng (tức 960.000 đồng/người/năm);
Đối với nông thôn, đồng bằng: dưới 100.000 đồng/người/tháng (tức 1.200.000
đồng/người/năm); Đối với thành thị: dưới 150.000 đồng/người/tháng (tức
1.800.000 đồng/người/năm). Mức chuẩn nghèo này đã tăng khoảng 1,5 lần so
với chuẩn nghèo được đặt ra trong giai đoạn trước đó, tuy nhiên mức này vẫn
còn thấp hơn so với mức chuẩn của thế giới.

yếu gây nạn đói ở các vùng khô cằn. Hạn hán đã đi vào lịch sử với những tác
động không nhỏ như nạn đói do hạn hán ở Ethiopia năm 1971-1973 đã gây ra
cái chết và đe doạ mạng sống của khoảng 1,5 triệu người. Hạn hán đe doạ gây
ra nạn đói cho 150 triệu người ở vùng tiểu Sahara [19]. Hạn hán gây thiếu lương
thực ở CHND Triều Tiên, thậm chí ngay cả các vùng mưa nhiều ở Việt Nam
cũng xảy ra hạn hán. Gần đây, vào năm 2004, một trận hạn hán gây mất mùa và
thiệt hại nặng nề về vật nuôi tại Ethiopia, Eritrea, Somalia, Uganda và Kenya.
Để khắc phục hậu quả của hạn hán, người ta cố gắng dùng thuỷ lợi để tưới tiêu.
- Mưa bão, lụt lội: đây cũng là một nguyên nhân góp phần không nhỏ dẫn
đến tình trạng đói nghèo trên thế giới trong lịch sử cũng như hiện nay. Mưa bão,
lụt lội hay xảy ra ở các vùng mưa nhiều, các vùng đồng bằng gần các con sông
lớn nơi thường tập trung sản xuất lương thực. Chính vì vậy đây là nguyên nhân
quan trọng gây nên nạn đói ở chính các vùng sản xuất lương thực chính. Mưa
bão lũ lụt phá hoại mùa màng, chôn vùi thành quả của người lao động, phút
chốc biến họ thành những người tay trắng, vô gia cư, gây nên những tác hại
nghiêm trọng đến đời sống và quá trình ổn định đời sống của người dân. Trong
lịch sử, các nạn đói thường xuyên xảy ra ở Trung Quốc trước kia do vỡ đê sông
Hoàng Hà hay nạn đói năm 1945 tại Việt Nam cũng có phần do vỡ đê, lụt lội
gây ra. Gần đây nhất là trận động đất và sóng thần xảy ra vào ngày 26 tháng 12
năm 2004 đã gây thiệt hại không nhỏ cho 12 nước ven biển Ấn Độ Dương, làm
hơn 285.000 người thiệt mạng, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất
lượng sống và đời sống của khoảng 5 triệu người [43]. Ngày nay, Việt Nam và
nhiều nước trên thế giới vẫn phải hứng chịu không ít những tác động của thiên
tai do mưa bão, lũ lụt hàng năm gây ra. Tuy nhiên, do đã có các biện pháp nhằm
hạn chế tác hại và ngăn ngừa bão lụt như trồng, giữ rừng đầu nguồn, xây dựng
đê điều, tác hại của thiên tai cũng đã giảm bớt phần nào.
- Sâu bệnh và côn trùng: Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới
sản xuất lương thực thực phẩm vì nó làm giảm năng suất của cây trồng. "Hàng
năm trên thế giới, côn trùng đã phá huỷ khoảng 33 triệu tấn lúa mì và lúa gạo
nghĩa là bằng một lượng lương thực đủ để nuôi sống 150 triệu người trong một

lương thực và thực phẩm nuôi sống nhân loại và có khả năng tránh được nguy
cơ của nạn đói thì một mặt phải mở rộng thêm diện tích đất canh tác, mặt khác
phải phục hồi lại đất trồng trọt bị suy thoái và hoang hoá. Một số biện pháp cụ
thể được đưa ra để khắc phục tình trạng này như: khai thác đất thuộc các vùng
hoang mạc và bán hoang mạc, phục hồi đất canh tác đã bị hoang hoá, trồng cây
lương thực thay thế cây công nghiệp
Nhìn chung, các nguồn tài nguyên tự nhiên càng ngày càng cạn kiệt và suy
thoái, sự ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng, bên cạnh đó nạn hạn
hán và lũ lụt đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, sự tấn công phá hoại
của các loài dịch hại , đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng lương thực và thực
phẩm của con người. Đó là những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ của nạn đói có
thể xảy ra cho nhân loại trong tương lai.
1.2.2 Các nguyên nhân nhân tạo
Bên cạnh những nguyên nhân mang tính tự nhiên gây ra nạn đói nghèo,
các nguyên nhân nhân tạo (là các các nguyên nhân kinh tế - chính trị, văn hoá,
chiến tranh ) tức là những nguyên nhân do chính hành vi của con người gây ra
và hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của con người cũng đã góp phần không
nhỏ trong việc gây ra tình trạng đói nghèo trên thế giới.
- Quá tải dân số: là nguyên nhân cũng khá phổ biến và ngày càng trở thành
quan trọng trong thời đại ngày nay. Dân số thế giới đặc biệt tăng nhanh ở nửa
sau của thế kỷ XX. Vào giữa thế kỷ, tỷ lệ tăng dân số ở các nước đang phát triển
đã tăng tới mức chưa từng có vì tỷ lệ sinh không giảm trong khi tỷ lệ chết giảm
và tuổi thọ trung bình tăng, Trung Quốc và Ấn Độ là hai cường quốc về dân số.
“Theo báo cáo dự đoán của Liên Hợp quốc cho biết vào năm 2050 dân số thế
giới sẽ đạt mức 9,1 tỷ người, tăng 40% so với con số 6,5 tỷ người như hiện nay
[50]”. Quá tải dân số tạo ra sự thiếu hụt về lương thực. Đặc biệt "dân số tăng
nhiều nhất thuộc về những quốc gia nghèo nhất, những nước mà cơ sở vật chất
còn quá nghèo nàn để chăm lo thoả mãn nhu cầu của những công dân mới và để
đầu tư cho tương lai [13, tr.75]." Dân số tăng nhanh là nguyên nhân sâu xa và
chủ yếu gây suy giảm môi trường sinh thái, tác động trực tiếp đến chất lượng

cuộc chiến tranh 1812 chống quân đội Napoleon đã không chỉ ngăn chặn việc
cung cấp lương thực cần thiết cho quân đội Pháp mà còn làm chính người Nga
vốn phụ thuộc vào đồng ruộng khi đó bị đói. Nguyên nhân chiến tranh cùng với
sự bất ổn định đã làm ảnh hưởng tời hàng chục triệu người ở vùng Tiểu Sahara.
Lương thực lại được sử dụng như một vũ khí trong trường hợp Sudan và
Ethiopia (sau này là Somalia), bởi lẽ theo như Shun Chetty của UNHCR: "Ai
kiểm soát được đường sá thì sẽ kiểm soát được lương thực. Ai kiểm soát được
lương thực thì sẽ kiểm soát được nhân dân". Chính vì vậy, đó là lý do tại sao
trong chiến tranh các bên đều quyết tâm giành giật các nguồn lương thực không
chỉ để cung cấp cho bên mình mà còn để phong toả đối phương.
Hiện nay, theo đánh giá của Uỷ ban An ninh Lương thực Thế giới (CFS)
tại kỳ họp hàng năm lần thứ 33 diễn ra tại Rome, Italy: trong số 34 quốc gia
hiện nay đang phải đối mặt với tình trạng khẩn cấp về lương thực thì có tới hơn
một nửa số nước (18 nước) với nguyên nhân chủ yếu là do xung đột, nội chiến.
Xung đột và nội chiến đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định của các nguồn cung
cấp lương thực, tới sức khỏe cộng đồng trên quy mô rộng và cũng chính là
nguyên nhân dẫn đến đói nghèo tại nhiều quốc gia trên thế giới [56].
- Phân phối không đều: Sự phân phối không đều các nguồn lực cũng là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giàu-nghèo, hay nói cách khác
nghèo đói là một trong những hệ quả mà phân phối không đều đem lại. Tình
trạng phân phối không đều chủ yếu do năng suất và sản lượng khác nhau giữa
các vùng, do chính sách kinh tế và chính trị. Mức độ chênh lệch về đói nghèo
cũng diễn ra hết sức khác nhau ngay ở cấp quốc gia, giữa các vùng, các nhóm
chủng tộc và các giới. Vì vậy, sự hợp tác quốc tế tốt là cấn thiết để góp phần
hạn chế tác động của tình trạng này đối với đói nghèo.
Năng suất và sản lượng khác nhau giữa các vùng: Mặc dù sản lượng lương
thực sau Chiến tranh thế giới II đã tăng lên nhưng sự tăng lên theo đầu người
không giống nhau ở các nơi. Trong các nước phát triển, sản lượng lương thực
theo đầu người từ những năm 1950 cũng tăng lên mạnh mẽ cùng với tăng sản
lượng nói chung. Còn trong các nước đang phát triển, sản xuất lương thực theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status