ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGHIÊM TUẤN HÙNG
VẤN ĐỀ DI CƯ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
SAU CHIẾN TRANH LẠNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Khắc Nam
Hà Nội-2010
MỤC LỤC MỞ ĐẦU
1.
Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Tr. 1
Tr. 16
1.3.
Những nguyên nhân cơ bản của hiện tƣợng di cƣ quốc tế 1.3.1. Nhóm những nguyên nhân liên quan đến kinh tế
Tr. 19
1.3.2. Di cư để đoàn tụ gia đình
Tr. 23
1.3.3. Di cư vì vấn đề môi trường
Tr. 25
1.3.4. Nguyên nhân liên quan đến sắc tộc và văn hóa
Tr. 26
CHƢƠNG 2: TÌNH HÌNH DI CƢ QUỐC TẾ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
2.1.
Những điều kiện mới thúc đẩy di cƣ quốc tế
Tr. 27
2.2.
Tình hình di cƣ quốc tế sau Chiến tranh Lạnh 2.2.1. Trên phạm vi quốc tế
Tr. 32
KẾT LUẬN
Tr. 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tr. 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GCIM
Global Commission on International Migration
Ủy ban toàn cầu về Di cư quốc tế
ILO
International Labour Organization
Tổ chức Lao động quốc tế
Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ người muốn di cư vĩnh viễn theo điều tra của Gallup
Tr. 24
Bảng 2.1: Số người nhập cư (ước tính) vào năm 2010 (theo khu vực)
Tr. 33
Bảng 2.2: 20 nước có tổng số người nhập cư cao nhất thế giới
Tr. 35
Bản đồ 2.1: Những luồng di cư nổi bật những năm đầu thế kỷ XXI
Tr. 47
Biểu đồ 3.1: Top 20 nước nhận nhiều kiều hối nhất
Tr. 52
Biểu đồ 3.2: Top 20 nền kinh tế có tỉ lệ kiều hối trong GDP cao nhất
Tr. 52
1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Kể từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, những vấn đề toàn cầu bắt đầu nổi
lên và thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý. Thực tế, các vấn đề toàn cầu đã xuất
hiện từ lâu, chúng tích tụ và phát triển cùng những bước tiến của nhân loại. Do
những tác động mang tính toàn cầu, các vấn đề này đã dần nhận được sự quan tâm
đáng kể không chỉ của chính giới hay giới nghiên cứu mà của toàn nhân loại. Hội
nghị Stockholm về vấn đề môi trường năm 1972 đã đánh dấu một bước ngoặt trong
nhận thức chung của con người về vấn đề toàn cầu. Từ thái độ không quan tâm, con
người đã quan sát và thực sự chú ý về những vấn đề toàn cầu cùng các nguy cơ do
chúng mang lại. Hiện nay, các vấn đề toàn cầu vẫn đang tiếp tục phát triển, mang
thêm những nét mới, đặc trưng mới. Trong những năm tới, không loại trừ khả năng
những vấn đề mới sẽ nảy sinh hoặc những vấn đề còn mờ nhạt trong quá khứ sẽ bộc
Về ý nghĩa thực tiễn
Chiến tranh Lạnh kết thúc được tiếp nối bằng sự mở ra một giai đoạn mới
trong lịch sử nhân loại. Nghiên cứu về vấn đề di cư và tác động của nó trong quan
hệ quốc tế sẽ cho thấy sự tương tác giữa hiện tượng này với những vấn đề toàn cầu
khác như phát triển, dân số, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, môi
trường… Từ đó, chúng ta có thể nhận thức rõ để đẩy mạnh khai thác các tác động
tích cực đồng thời tìm ra và hạn chế tối đa những tác động tiêu cực.
Thực tiễn lịch sử chỉ ra rằng Việt Nam là một trong nước chịu tác động lớn của
vấn đề di cư quốc tế. Nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khu vực và quốc tế có thể
mang lại những hiểu biết sâu hơn về xu hướng cũng như tác động của nó tới Việt
Nam. Qua đó, chúng ta có thể khai thác những yếu tố tích cực nhằm phục vụ cho
công cuộc phát triển đất nước.
Rõ ràng, nghiên cứu vấn đề di cư quốc tế mang nhiều ý nghĩa và cần nhận
được nhiều hơn sự quan tâm chú ý. Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định
chọn “Vấn đề di cư trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh Lạnh” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp.
3
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung đề cập tới tình hình di cư quốc tế và những tác động của nó
trong quan hệ quốc tế. Về chủ thể chính thực hiện hoạt động di cư, có một số quan
niệm khác nhau. Quan niệm thứ nhất cho rằng chỉ nghiên cứu đối tượng là những
người di cư vĩnh viễn. Quan niệm thứ hai rộng hơn, cho rằng di cư quốc tế bao gồm
cả những cá nhân và nhóm người di cư vĩnh viễn và di cư tạm thời như xuất khẩu
lao động, du học (nhưng thời gian không quá ngắn) Đối tượng nghiên cứu trong
luận văn là những người di cư theo quan niệm rộng.
Tuy vậy, một câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu người tị nạn có được coi là một
dạng của người di cư quốc tế hay không? Có nhiều khái niệm và tiêu chuẩn về
người tị nạn được đưa ra ở hai cấp độ thế giới và khu vực nhưng với những biến đổi
không ngừng của thực tiễn, các khái niệm, bộ tiêu chuẩn đó đã trở nên lỗi thời. Mỗi
4. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn này chủ yếu
là tiếng Anh, bên cạnh một số tài liệu tiếng Việt.
Các nhà nghiên cứu, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức quốc tế đã
công bố nhiều tài liệu bằng tiếng Anh. Đối với các tổ chức quốc tế như IOM,
UNHRC và các tổ chức khác thuộc Liên Hợp Quốc, việc công bố tài liệu nghiên
cứu, báo cáo diễn ra hàng năm liên quan đến tình hình di cư trên toàn thế giới.
Những công trình nổi bật mới được công bố gần đây có thể kể ra là:
- “World migration 2005: Costs and benefits of international migration”: Báo
cáo này nêu lên tình hình di cư các khu vực, lý do tại sao con người di cư. Đồng
thời, báo cáo cũng phân tích những thách thức mà các nhà hoạch định chính sách
của cả nước di cư, nhập cư và quá cảnh phải đối mặt. “World Migration Report
2005” phân tích những tác động của toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại, hội nhập
kinh tế và chênh lệch phát triển giàu nghèo đối với những dòng di cư quốc tế.
- “Migration in an interconnected world: New directions for action”: Trong
báo cáo dài 90 trang trình bày trước Tổng thư ký và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc,
5
GCIM đưa ra nhận định rằng cộng đồng quốc tế đã không thể nhận ra tiềm năng của
hoạt động di cư nên không ứng phó và khai thác được những thách thức cũng như
cơ hội mà di cư mang lại. GCIM nhấn mạnh yêu cầu hợp tác tích cực, sâu rộng hơn
nhằm đạt được kết quả quản trị hiệu quả hơn trong vấn đề di cư quốc tế. Bản báo
cáo phân tích ngắn gọn tình hình di cư quốc tế, đưa ra những nguyên tắc hành động
kèm 33 khuyến nghị giúp hoạch định chính sách quản trị di cư hợp lý trên 3 cấp độ
là quốc gia, khu vực và toàn cầu. GCIM cũng đưa ra những bằng chứng cho các kết
luận và khuyến nghị của mình, bao gồm một loạt các báo cáo theo chủ đề di cư
quốc tế tại các khu vực khác nhau trên thế giới trong khoảng thời gian 2 năm, từ
2003 đến 2005.
- “World Migration report 2008: Managing Labour Mobility in the Evolving
Global Economy”: Báo cáo năm 2008 của IOM về di cư quốc tế mô tả những xu thế
những thống kê và ước lượng về số lượng người di cư quốc tế. Các báo cáo của
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đọc tại phiên họp toàn thể Đại hội đồng thường niên
cũng thường nhắc tới di cư quốc tế . Các báo cáo này tuy tập trung nhiều vào vấn đề
di cư và lao động nhưng cũng có nhắc tới những tác động về mặt an ninh chính trị.
Ngoài ra, trong kho dữ liệu tại các website của những tổ chức quốc tế lớn kể trên
như www.un.org, www.unhcr.org, www.wb.org, www.iom.int, www.gcim.org
cũng lưu trữ một số lượng lớn những tài liệu và báo cáo liên quan đến vấn đề di cư
quốc tế.
Một số công trình nghiên cứu về du cư quốc tế đã được thực hiện bằng tiếng
Việt. Vấn đề di cư và tị nạn mới chỉ được đề cập trong hai công trình đã xuất bản
thành sách là “Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay” của bộ đôi tác giả
Đỗ Minh Hợp và Nguyễn Kim Lai cùng “Những vấn đề toàn cầu trong hai thập
niên đầu thế kỷ XXI” do Nguyễn Trọng Chuẩn làm chủ biên. Hai cuốn sách trên tập
trung mô tả tình hình và một số xu thế lớn của hiện tượng di cư quốc tế, chủ yếu là
trong nửa cuối của thế kỷ XX, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của vấn
đề này. Trong đó, những nước đang phát triển là nguồn của người di cư, đặc biệt là
di cư lao động kể từ những năm cuối thế kỷ XX, ngược lại, các nước phát triển của
phương Tây và Trung Đông thu hút nhiều người di cư quốc tế. Bên cạnh đó, những
7
kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu lao động, du học của một số quốc gia trên thế
giới cũng được phân tích, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam.
Những vấn đề liên quan đến di cư quốc tế cũng đã được đăng tải trên các tạp
chí chuyên ngành.
- Bài viết như “An ninh con người và vấn nạn buôn người: Các khái niệm
chính và một số vấn đề liên quan đến nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Hồng Bắc trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới
(số 11, 2006) giải thích khái niệm và những vấn đề liên quan đến an ninh con người
cùng tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Nam.
- Bài viết “Tệ nạn buôn người trên thế giới” của Đỗ Trọng Quang trên Tạp chí
tượng di cư dựa trên góc nhìn kinh tế.
Luận văn sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên để tiếp cận, phân tích
vấn đề di cư quốc tế cùng những tác động của nó dưới một góc nhìn đầy đủ, toàn
diện hơn. Nói cách khác, vấn đề di cư quốc tế sẽ được phân tích từ góc nhìn quan hệ
quốc tế.
6. Cấu trúc của luận văn
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương một giới thiệu khái quát về vấn đề di cư quốc tế. Cụ thể, chương này
sẽ đề cập tới khái niệm hiện tượng di cư và người di cư, phân loại người di cư, khái
quát hiện tượng di cư trong lịch sử (trước Chiến tranh Lạnh), và tìm hiểu những
nguyên nhân cơ bản nhất thúc đẩy hiện tượng di cư.
- Chương hai đề cập tới những điều kiện mới cho hiện tượng di cư phát triển;
tình hình cùng một số đặc điểm của vấn đề di cư trên thế giới và các khu vực.
- Chương ba bước đầu nêu lên, phân tích và đánh giá những tác động của hiện
tượng di cư, bao gồm những tác động tích cực và tiêu cực đối với con người, quốc
gia và quan hệ quốc tế.
9
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ DI CƢ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm và phân loại
1.1.1. Khái niệm
Di cư là hiện tượng mang tính lịch sử. Đó là kết quả tổng hợp của sự tương tác
giữa các hoạt động chính trị, kinh tế và xã hội. Đây cũng là một hiện tượng đặc
trưng trong lịch sử loài người bởi hoạt động này gần như gắn với lịch sử phát triển
của nhân loại.
Có nhiều quan niệm khác nhau về di cư nói chung và di cư quốc tế nói riêng.
Theo quan niệm thông thường, với nghĩa rộng, di cư có thể được hiểu là sự chuyển
dịch bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự di
Hợp Quốc tháng 9/2006: “Nói một cách đơn giản nhất, người di cư quốc tế là những
người di chuyển từ một quốc gia này sang một quốc gia khác với mục đích hoặc có
khả năng ở lại nước đó một thời gian, có thể là một năm hoặc lâu hơn” [43], có
nghĩa là người di cư phải ở lại nơi ở mới trong thời gian ít nhất một năm thì đó mới
được coi là nơi cư trú thường xuyên.
Nhìn chung, những định nghĩa trên nêu lên những đặc thù của hoạt động di cư
và người di cư quốc tế: Thứ nhất, hoạt động di cư cần có một chủ thể xác định là
con người; Thứ hai, di cư quốc tế là hoạt động mang tính xuyên biên giới; Thứ ba,
chủ thể của hoạt động di cư phải thực hiện hành vi với mục đích xác định; Thứ tư,
chỉ những cá nhân hoặc nhóm người sống ngoài lãnh thổ nước mình trong một
khoảng thời gian không quá ngắn mới được coi là người di cư quốc tế. Từ đó, ta có
thể hiểu khái niệm về hoạt động di cư quốc tế và người di cư quốc tế như sau:
Di cư quốc tế là hoạt động di chuyển qua biên giới quốc gia của con người với
mục đích xác định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
Người di cư quốc tế là những cá nhân hoặc nhóm người di chuyển từ nước
này sang nước khác với mục đích xác định trong khoảng thời gian ít nhất là một
năm.
1.1.2. Phân loại
Dựa trên những tiêu chí riêng biệt, chúng ta có thể phân chia người di cư thành
những dạng khác nhau. Trong cuốn sách “Migration in World History” (2005), tác
11
giả Patrick Manning dựa trên tiêu chí về cộng đồng ngôn ngữ trong lịch sử, đã phân
chia di cư làm bốn dạng chính. Thứ nhất là di cư trong cộng đồng (Home–
community migration), bao gồm sự di chuyển của các cá nhân từ nơi này đến nơi
khác nhưng không vượt ra ngoài khuôn khổ cộng đồng. Đây là trường hợp một
người trong gia đình này đến một gia đình khác để tìm bạn đời. Dạng di cư này là
cần thiết cho hoạt động tái sinh, duy trì nòi giống. Trong chế độ phụ hệ, người phụ
nữ phải di chuyển từ nơi này sang nơi khác, ngược lại với chế độ phụ hệ khi người
di chuyển là đàn ông. Dạng di cư thứ hai là di cư lấn chiếm (Colonization). Dạng di
của nhóm sắc tộc, nhóm dân tộc, ví dụ như những cuộc di cư của người nô lệ da đen
đến tây bán cầu trong thế kỉ 18, hoạt động di cư của hàng triệu người Do Thái tới
các trại tập trung của phát xít Đức trong Thế chiến 2. Chiến tranh và những bất ổn
chính trị khác dẫn tới sự xuất hiện của hiện tượng di cư hàng loạt và tị nạn, ví dụ
như những cuộc di cư giữa Ấn Độ và Pakistan khi hai nước này tách ra năm 1947
hay trường hợp tương tự giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vào đầu những năm 1920. Sự
chuyển dịch của các quân nhân theo mệnh lệnh quân đội cũng có thể được xếp vào
một dạng của di cư cưỡng ép. Thực dân hóa được coi là hoạt động trong đó bao
gồm sự chuyển dịch dân cư (một nhóm, gia đình hoặc cá nhân) nhằm mục đích bình
định và khai thác những khu vực “mẫu quốc” mới phát hiện ra hoặc mới chinh phục
được, ví dụ như hoạt động di dân của người châu Âu đến tây bán cầu trong thời kỳ
thực dân hay sự di cư của người Anh đến lục địa Úc đầu thế kỷ 20. Trong lịch sử,
còn có dạng di cư khác liên quan tới chủ nghĩa thực dân là những người di cư lao
động, vế lý thuyết là tự nguyện, đến những vùng đất thực dân và thường dẫn tới
hoạt động định cư lâu dài, thậm chí là vĩnh viễn. Hiện tượng này nở rộ trong thế kỷ
19 với nỗ lực của các đế quốc khi đó, đặc biệt là Anh, Pháp và Mỹ. Ví dụ, chính
quyền Anh tuyển dụng công nhân người Ấn đi lao động tại các đồn điền hoặc khu
mỏ tại Miến Điện, Sri Lanka, Fiji, khu vực Đông Phi, các đảo ở Ca–ri–bê; chính
quyền Pháp đưa người Đông Dương đến New Caledonia; chính quyền Mỹ tuyển
công nhân Trung Quốc, Nhật, Phi-lip-pin và các nước châu Á khác đến làm việc ở
Hawai, người Mê-hi-cô đến làm việc ở các bang phía Tây Nam nước Mỹ.
Dựa trên khía cạnh pháp lý, người di cư có thể là di cư hợp pháp hoặc bất hợp
pháp. Người di cư hợp pháp là người được phép xuất cảnh khỏi nước nhà và được
13
nước nhập cư tiếp nhận. Đưa người di cư bất hợp pháp và buôn bán người là những
loại hình tội phạm đẩy người di cư vào tình trạng nguy hiểm. Dù cùng có thể gọi
những người di cư theo bọn tội phạm và người bị buôn bán là người di cư bất hợp
pháp nhưng vẫn có một sự phân biệt của 2 loại hình di cư này
1
di cư dài hạn và di cư ngắn hạn. Những người di cư dài hạn đã được đề cập trong
định nghĩa ở trên. Người di cư ngắn hạn được coi là sinh sống ngoài đất nước cư trú
trong khoảng thời gian trên 3 tháng nhưng không quá 1 năm, đồng thời, những hoạt
động như đi buôn bán, giao dịch, chữa bệnh, thăm viếng người thân không được
tính là di cư. Di cư dài hạn mang tính ổn định cao thường là kết quả của những áp
lực về chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, chính trị và kinh tế hoặc sự kết hợp của những
vấn đề trên. Hiện tại, hầu hết người di cư quốc tế là di cư lao động, chủ yếu là mang
tính chất tạm thời. Người di cư lao động có thể không được tính vào số liệu về di cư
vĩnh viễn nhưng chiếm một tỉ lệ lớn của di cư tạm thời. Điều này đặc biệt chính xác
trong trường hợp của châu Âu khi hàng ngày, hàng tuần hay hàng quý người dân
nơi dân thực hiện hoạt động dịch chuyển qua biên giới quốc gia với số lượng đáng
kể. Ta cũng có thể nhận thấy trường hợp tương tự ở Bắc Mỹ, nơi hoạt động di cư
mang tính thời vụ xảy ra giữa Mỹ và Mê-hi-cô hay sự dịch chuyển hàng ngày giữa
người dân qua biên giới Mỹ và Canada.
Dựa theo mục đích di cư. Các quốc gia đều đưa ra những điều kiện theo đó
người nước ngoài có thể nhập cư vào, sinh sống hay hoạt động kinh tế trong lãnh
thổ các nước. Điều đó tạo nên những dạng khác nhau của người di cư. Người di cư
đến các nước thường tham gia vào thị trường lao động, nhưng điều đó không có
nghĩa là người di cư chỉ là người lao động. Luận văn này sử dụng cách phân chia
theo chính sách nhập cư của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
(OECD – Organization of Economic Cooperation and Development). Cách phân
chia này dựa trên mục đích của di cư.
– Di cư vì mục đích định cư: Australia, New Zealand, Canada, Hoa Kỳ cùng
một số nước phát triển khác ở châu Âu là những nước tiếp nhận người nước
ngoài với tư cách là người nhập cư và cho phép họ quyền được cư trú vĩnh
viễn. Người nhập cư thường được ban cho những quyền lợi kinh tế – xã hội
tương đương với công dân sở tại và có thể được nhập quốc tịch sau một thời
gian cư trú liên tục. Ở những nước này, tỉ lệ người nhập cư đến từ những nước
15
năm 1990, Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… đang
được cho là địa điểm du học mới phát triển và được du học sinh ưa thích.
Những cách phân loại nêu trên tuy không hoàn toàn đầy đủ nhưng cũng giúp
chúng ta hiểu thêm về vấn đề phức tạp này. Mỗi học giả, quốc gia hay tổ chức quốc
tế lại đưa ra một cách phân loại riêng, dựa trên những tiêu chí khác nhau để tìm ra
các loại hình thích hợp. Sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối và có nhiều điểm
đan xen lẫn nhau. Xác định được những loại hình phù hợp sẽ tạo điều kiện cho các
cơ quan, tổ chức nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung tìm ra cách quản lý, giúp
đỡ và bảo vệ người di cư một cách hiệu quả nhất.
1.2. Đôi nét về hiện tƣợng di cƣ quốc tế trong lịch sử
Trong suốt chiều dài lịch sử loài người, sự di cư luôn là sự thể hiện ý chí vượt
khó của con người để tìm tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong chiều dài lịch sử
loài người, có thể tạm chia hoạt động di cư ra làm 5 giai đoạn lớn: trước thế kỷ XV,
từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, từ đầu thế kỷ XIX đến 1945, giai đoạn Chiến
tranh Lạnh, và thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh.
Hiện tượng di cư của loài người bắt đầu từ khoảng một triệu năm trước đây
khi người đứng thẳng (Homo Erectus) di chuyển từ châu Phi sang lục địa Á – Âu.
Giống người tinh khôn (Homo Sapiens) xuất hiện ở châu Phi 150 nghìn năm trước
đây và di chuyển sang những khu vực khác ở châu Á, châu Âu và châu Úc cách đây
khoảng 40 nghìn năm. Sự di chuyển sang châu Mỹ diễn ra cách đây khoảng 15 đến
20 nghìn năm. Vào khoảng 2 thiên niên kỷ trước thì các đảo trong khu vực Thái
Bình Dương đã có người sinh sống. Những cuộc di cư sau này đáng chú ý có những
cuộc di cư trong thời kỳ đồ đá; hoạt động du canh du cư, những cuộc săn bắn;
những cuộc di cư của người Barbarians ở châu Âu (năm 300–700 sau Công
nguyên), những cuộc di cư của người Thổ (Turkic) ở khu vực châu Âu, châu Á và
Trung Đông (thế kỷ VI – thế kỷ XI), những cuộc di cư của người Ả–rập cùng sự mở
rộng của Đế quốc Ả-rập ra khắp Á – Âu – Phi (năm 632–732). Những cuộc di cư
trong thời Trung cổ thường gắn với các cuộc viễn chinh của nhiều đạo quân trong
các cuộc chiến tranh lớn ở các khu vực Trung Đông, Trung Á, Tây La Mã hay quá
18
nhất có thể kể đến Anh (41% dân số), Na–uy (36%), Bồ Đào Nha (30%), Ý (29%),
Tây Ban Nha (23%).[37, pg. 2] Trong khoảng từ 1846 đến 1940, những cuộc di cư
diễn ra ồ ạt trên toàn thế giới. Tốc độ và số lượng của những cuộc di dân trong thời
gian này chưa từng có trong lịch sử. Có khoảng 55 triệu người đã di chuyển từ châu
Âu sang châu Mỹ và khoảng 2,5 triệu người châu Á cũng di cư sang châu Mỹ.
Trong những cuộc di dân xuyên Đại Tây Dương thì 65% đến Hoa Kỳ, còn lại chủ
yếu người di cư tìm đến Canada, Bra-xin, Argentina… Cũng trong thời kỳ này thì
có một số lượng tương tự người di cư trong khu vực châu Á. Khu vực Đông Nam Á
đón khoảng 50 triệu người, chủ yếu đến từ Ấn Độ và miền Nam Trung Quốc. Khu
vực Bắc Á (bao gồm miền bắc Trung Quốc, vùng Siberia), Trung Á và Nhật Bản
cũng đón nhận khoảng 50 triệu người.[60]
Nguồn di cư lao động xuyên quốc gia đạt
mức đỉnh 3 triệu người/năm trong những năm đầu của thế kỷ XX. Chiến tranh Thế
giới thứ nhất, sự phát triển của Chủ nghĩa Sô–vanh trong những năm 1920 và cuộc
đại khủng hoảng kinh tế những năm 1930 đã dẫn tới sự đóng cửa biên giới các nước
và sự suy giảm của các luồng di cư quốc tế.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, những điều khoản trong Hiệp định Postdam
giữa các nước phe Đồng minh và Liên Xô, trong đó có việc phân định lại biên giới
giữa các nước ở châu Âu cũng đã dẫn tới việc di chuyển và tái định cư cho hàng
chục triệu người.
Từ những năm 1960, số lượng các nước là điểm đến của người di
cư cũng tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh những nước có truyền thống về nhập cư
như các nước châu Mỹ và châu Đại dương, các nước ở Tây Âu cũng thu hút một số
lượng lớn người nhập cư như Đức, Pháp, Ý, Hà Lan…[37, pg. 4] Đến những năm
1970, những nước có nhiều người di cư ở châu Âu như Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha… thậm chí đã bắt đầu nhận những người di cư đến từ Trung Đông và châu Phi.
trong một khoảng thời gian dài nhất định ở khu vực thành thị (hay là cân nhắc
chênh lệch giữa cái được và cái mất của việc di cư) với mức thu nhập trung bình
đang có ở nông thôn, và sẽ di cư nếu như thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập hiện
có.[9, tr. 34] Từ xa xưa, chênh lệch về thu nhập đã là nguyên nhân cơ bản của hiện
tượng di cư. Điều kiện kinh tế thấp kém cũng thường đi với những sự yếu kém về
điều kiện của y tế và giáo dục. Trước tiên, hoạt động di cư có thể chỉ là chuyển dịch