Hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HỒ MINH TRANG

HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC
TIÊU CHUẨN HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC Hà Nội-2007

1
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
82

2
PHỤ LỤC
86

3
B¶NG NH÷NG Tõ VIÕT T¾T
ACCSQ

ASEAN Consultative Committee for Standards and Quality
Ủy ban Tư vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng của ASEAN
AFTA

Asean Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
APEC

Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
ASEAN

Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM

Asia-Europe Meeting
Hội nghị cấp cao Á-Âu

Hiệp hội Viễn thông Quốc tế
PASC

Pacific Area Standards Congress
Hội nghị Tiêu chuẩn khu vực Thái Bình Dương
SCSC

APEC Subcommittee on Standards and Conformance
Tiểu ban Tiêu chuẩn và phù hợp
SEV
Soviet Ekonomitreskoji Vjajiminoschi
Hội đồng Tương trợ kinh tế
TBT

Technical Bariers to Trade
Rào cản Kỹ thuật trong thương mại
WTO

Word Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới

5
Më §ÇU

1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Tiêu chuẩn hóa là một lĩnh vực hoạt động bao gồm việc xây dựng và áp
dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật với sự tham gia của các bên có liên quan
nhằm đạt được hiệu quả chung có lợi nhất cho mọi người và cho toàn xã hội.
Cùng với mục đích phát triển đời sống kinh tế xã hội, tiêu chuẩn hóa đã

trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chúng ta đã
cam kết thực hiện đầy đủ Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại
(TBT), một trong nhiều Hiệp định đa phương của WTO mà linh hồn chính
của Hiệp định là các quy định về việc xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Điều này đòi hỏi hoạt động tiêu chuẩn hóa ở
nước ta phải đổi mới cả nội dung và hình thức hoạt động sao cho phù hợp với
các chuẩn mực và điều lệ quốc tế, tháo dỡ rào cản kỹ thuật trong thương mại,
khai thông và phát triển quan hệ thương mại song phương và đa phương của
nước ta trên thị trường quốc tế và khu vực. Đây chính là tiền đề quan trọng
cho sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong lĩnh vực tiêu
chuẩn hóa.
Công tác trong một cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường,
chất lượng - Tổng cục Tiêu Chuẩn Đo lường Chất lượng, tôi nhận thức sâu
sắc vai trò của tiêu chuẩn hóa với việc hội nhập kinh tế quốc tế và đã chọn đề
tài này cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình. Về mặt lý luận, việc nghiên
cứu của đề tài là hết sức cần thiết nhằm làm rõ cơ sở khoa học của tiêu chuẩn
hóa, tác dụng của tiêu chuẩn hóa đối với phát triển kinh tế xã hội và tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu đề tài này hy vọng

7
sẽ đóng góp ít nhiều cho việc phát triển công tác tiêu chuẩn hóa ở nước ta,
nhất là trong bối cảnh kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Hoạt động tiêu chuẩn hóa ở nước ta và các nước khác đã được đề cập
đến trong nhiều đề tài nghiên cứu khoa học. Những đề tài, những công trình
nghiên cứu đã cung cấp những kiến thức cơ bản về một lĩnh vực tuy hẹp
nhưng không thể thiếu trong quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và trong hội
nhập kinh tế quốc tế nói riêng, đó là tiêu chuẩn hóa. Nhà nước cũng đã ban

khó khăn của hoạt động tiêu chuẩn hóa thời gian qua với việc đề xuất các biện
pháp thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa của Việt Nam để phù hợp với chuẩn
mực và thông lệ quốc tế.

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Tiêu chuẩn hóa ra đời đã lâu và là một hoạt động gắn bó chặt chẽ với
các mặt của đời sống kinh tế-xã hội, góp phần vào sự phồn vinh của đất nước.
Chính vì vậy, vai trò của tiêu chuẩn hóa là không thể thiếu trong quá trình
“toàn cầu hoá, khu vực hoá” ngày nay. Mục đích của luận văn hướng tới là
quá trình phát triển công tác tiêu chuẩn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế và đưa ra những thuận lợi, khó khăn và khuyến nghị các
biện pháp để thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xây dựng trong khoảng thời gian
từ sau đổi mới, đặc biệt là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO (1995 đến
nay).

9
5 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng các nguồn tài liệu
chính:
 Các Nghị quyết, quyết định của Đảng và Chính phủ về hội nhập kinh tế
quốc tế
 Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về tiêu chuẩn hóa
 Tài liệu nghiên cứu, báo cáo khoa học, đề tài trong lĩnh vực tiêu chuẩn
hóa
 Các bài báo, tạp chí chuyên đề trong và ngoài nước liên quan đến hoạt
động Tiêu chuẩn hóa
 Ngoài ra, Luận văn còn có thêm nguồn tham khảo Internet và các

Trong quá trình hội nhập, hoạt động tiêu chuẩn hóa đã đạt được nhiều
thành tích, song cũng còn nhiều việc phải hoàn thiện, đổi mới để hoạt động
tiêu chuẩn hóa luôn phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, đặc biệt phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Qua những thuận lợi và khó khăn đó, chương này sẽ đề xuất các giải
pháp đổi mới hoạt động tiêu chuẩn hóa nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập
kinh tế thế giới. Đây chính là mục tiêu mà Việt Nam đã đặt ra để thúc đẩy
hoạt động tiêu chuẩn hóa trong tương lai.

11
CH¦¥NG 1
VAI TRß CñA TI£U CHUÈN HãA §èI VíI
HéI NHËP KINH TÕ QUèC TÕ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1 Lịch sử phát triển của tiêu chuẩn hóa

Tuy mới được hình thành và phát triển một cách có tổ chức trong phạm
vi quốc tế từ đầu thế kỷ này, song có thể nói hoạt động tiêu chuẩn hóa xuất
hiện từ thời cổ xa xưa. Lịch sử phát triển của tiêu chuẩn hóa gắn liền với lịch
sử phát triển của loài người. Ban đầu là sự phát triển tự phát không có tổ
chức. Thống nhất hoá là một trong những biểu hiện đầu tiên của tiêu chuẩn
hóa. Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường xuyên quan sát thiên
nhiên và môi trường xung quanh để lựa chọn cho mình những gì thích hợp
cần thiết cho sự sống. Hiểu theo nghĩa rộng thì chữ viết, lịch, hệ đếm cũng là
kết quả của tiêu chuẩn hóa.
Ở Trung Quốc thời cổ đã có hệ đơn vị đo thống nhất, đến thế kỷ thứ 2

thành lập năm 1926. Ở Việt nam, Cơ quan Tiêu chuẩn quốc gia là Viện Đo
lường - Tiêu chuẩn được thành lập từ năm 1962, sau này được gọi là Tổng
cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng. 13
1.1.2 Khái niệm Tiêu chuẩn

Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) đã định nghĩa Tiêu
chuẩn như sau: “Tiêu chuẩn là văn bản do cơ quan được thừa nhận ban hành
để sử dụng rộng rãi và lâu dài; trong đó quy định các quy tắc, hướng dẫn
hoặc các đặc tính đối với sản phẩm hoặc quy trình và phương pháp sản xuất
có liên quan mà việc tuân thủ chúng là không bắt buộc”
1
.
Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam ban hành năm
2006 đã quy định định nghĩa Tiêu chuẩn như sau: “Tiêu chuẩn là quy định về
đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân biệt, đánh giá
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác
trong hoạt động kinh doanh xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
của đối tượng này. Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để
tự nguyện áp dụng”
2
.
Qua định nghĩa trên, tiêu chuẩn được hiểu là các quy định kỹ thuật nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động kinh tế xã hội và sản xuất,
kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
trên thị trường trong nước và quốc tế. Tiêu chuẩn do các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức xây dựng dự thảo, đề nghị thẩm định.
Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và công bố đối với tiêu chuẩn quốc gia

cực tham gia xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, cùng với việc hội
nhập nền kinh tế toàn cầu, việc đẩy mạnh hài hòa tiêu chuẩn Việt Nam với
tiêu chuẩn quốc tế và nước ngoài là hết sức cần thiết nhằm xoá bỏ rào cản kỹ
thuật đối với thương mại, phục vụ việc tham gia của Việt Nam vào Khu vực
thương mại tự do (FTA) và nền kinh tế thế giới.

1.1.3 Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật

Hiệp định TBT/WTO đã định nghĩa Quy chuẩn kỹ thuật như sau: “Quy
chuẩn kỹ thuật là văn bản quy định các đặc tính của sản phẩm hoặc quá trình

15
có liên quan đến sản phẩm và quá trình sản xuất; bao gồm các điều khoản
hành chính thích hợp mà việc tuân thủ chúng là bắt buộc”
3
.
Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ban hành năm 2006 đã quy định
định nghĩa về Quy chuẩn kỹ thuật: “Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức
giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý của sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế-
xã hội phải tuân thủ để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, bảo vệ
động vật, thực vật, bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người
tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác. Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng”
4
.
Với mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động, thực vật, môi
trường; bảo vệ lợi ích quốc gia; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống gian
lận thương mại và không gây trở ngại trong thương mại quốc tế; Quy chuẩn
kỹ thuật là văn bản pháp quy kỹ thuật, là công cụ quản lý nhà nước của các cơ


Ngày nay hoạt động tiêu chuẩn hóa được thừa nhận là hoạt động không
thể thiếu, được coi trọng và phát triển mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực, mọi lãnh thổ,
không phân biệt chế độ chính trị, cơ chế quản lý.
Tiêu chuẩn hóa là hoạt động xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn
và quy chuẩn kỹ thuật, là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động sản
xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế-xã hội. Theo Tiêu chuẩn
TCVN 6450:2006 (ISO/IEC Guide 2:2004) “Tiêu chuẩn hóa và các hoạt
động có liên quan - Thuật ngữ chung và định nghĩa” đã đưa ra định nghĩa tiêu
chuẩn hóa phù hợp với quan niệm chung của thế giới: “Tiêu chuẩn hóa là một
hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung và lặp đi lặp lại đối
với những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn, nhằm đạt được mức độ trật tự tối
ưu trong một khung cảnh nhất định”
5
.
Có thể nói tiêu chuẩn hóa là hoạt động bao gồm quá trình xây dựng,
ban hành và áp dụng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Lợi ích quan trọng 5
[20, tr 2]

17
của tiêu chuẩn hóa là nâng cao mức độ thích ứng của sản phẩm, quá trình
và dịch vụ với những mục đích đã định, ngăn ngừa rào cản trong thương
mại và tạo thuận lợi cho sự hợp tác về khoa học, công nghệ.
Ở Việt Nam, thuật ngữ về tiêu chuẩn hóa cũng được chính thức qui định
trong Điều lệ về Công tác tiêu chuẩn hóa ban hành theo Nghị định 141/HĐBT
năm 1982: “Công tác tiêu chuẩn hóa bao gồm việc xây dựng và áp dụng tiêu
chuẩn được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ

cũng đòi hỏi mở rộng hơn: từ phạm vi từng công ty sang phạm vi quốc gia và
sau này phát triển ở cấp khu vực và quốc tế. Dựa theo quy mô tham gia vào
hoạt động tiêu chuẩn hóa, xét về các khía cạnh địa lý, chính trị và kinh tế, tiêu
chuẩn hóa thể hiện ở bốn cấp độ song đều có ý nghĩa đối với quan hệ quốc tế.
Tiêu chuẩn hóa công ty (cơ sở) là hoạt động tiêu chuẩn hóa được tiến
hành ở cấp một công ty, nhà máy hay trong một đơn vị cơ sở.
Tiêu chuẩn hóa quốc gia là hoạt động tiêu chuẩn hóa được tiến hành ở
cấp một quốc gia riêng biệt. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới đều có
hoạt động tiêu chuẩn hóa ở cấp quốc gia. Ở mỗi nước có một cơ quan tiêu
chuẩn quốc gia, ví dụ như: Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng
(STAMEQ) của Việt Nam; Viện Tiêu chuẩn công nghiệp Thái Lan (TISI);
Cục năng suất và tiêu chuẩn Singapore (PSB); Viện Tiêu chuẩn CHLB Đức
(DIN) Ngoài ra tại mỗi nước có thể tồn tại những cơ quan hoạt động tiêu
chuẩn hóa cấp quốc gia khác nhau khác.
Cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia là cơ quan ban hành tiêu chuẩn quốc
gia và đại diện cho quốc gia trong các tổ chức quốc tế và khu vực về tiêu
chuẩn hóa. Mô hình hoạt động tiêu chuẩn hóa ở các quốc gia rất khác nhau.
Đối với các nước kinh tế phát triển, Cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia thường
là tổ chức phi chính phủ nhưng được Chính phủ thừa nhận. Trong khi ở phần
lớn các nước đang phát triển, Cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia thường là cơ
quan Chính phủ. Hoạt động của các tiêu chuẩn hóa quốc gia dựa trên khuôn
khổ của Nhà nước và luật pháp của nước đó quy định. Bên cạnh đó, các cơ
quan này còn hoạt động trong khuôn khổ của sự hợp tác với các cơ quan tiêu
chuẩn hóa ở các quốc gia khác trong phạm vi khu vực và toàn cầu.
Tiêu chuẩn hóa khu vực là hoạt động tiêu chuẩn hóa được hình thành
do yêu cầu liên kết kinh tế khu vực nhằm phục vụ cho hoạt động hợp tác kinh

19
tế và thương mại khu vực. Điển hình ở quy mô này là Hội nghị Tiêu chuẩn
khu vực Thái Bình Dương (PASC) với hơn 20 nước thành viên; Tiểu ban tiêu

kỹ thuật trên bình diện quốc tế, trong đó phải kể đến Tổ chức tiêu chuẩn hóa
quốc tế (ISO), Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế (IEC) và Ủy ban tiêu chuẩn hóa
thực phẩm (CAC).

1.2 Vai trò của tiêu chuẩn hóa đối với quá trình Hội nhập kinh tế
quốc tế

Xu thế toàn cầu hóa trên thế giới đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, có
ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong
các quốc gia và toàn bộ các quan hệ quốc tế. Xu thế này đã tạo động lực mạnh
mẽ cho sự hội nhập của các nước có nền kinh tế toàn cầu và khu vực. Đặc biệt
sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với 150 quốc gia và vùng
lãnh thổ tham gia chiếm đến 90% tổng lượng buôn bán toàn cầu đã ảnh hưởng
sâu sắc đến cơ cấu thương mại thế giới cũng như sự phát triển kinh tế toàn
cầu. Thế giới đã bước vào thời đại mới, sự cạnh tranh giữa các nước ngày
càng trở nên phức tạp. Trong đó, nhu cầu hợp tác và hội nhập ngày càng trở
nên không thể thiếu ở mỗi quốc gia. Trong cuộc cạnh tranh này, chất lượng
hàng hoá và dịch vụ sẽ giữ vai trò quan trọng hàng đầu.
Ngày nay, trong quá trình toàn cầu hoá, nền kinh tế của Việt Nam đang
ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới. Cùng với tiến trình
hội nhập đó, hoạt động tiêu chuẩn hóa luôn đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy công nghệ và phát triển thương mại, là nền tảng cho quá trình
hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

21
Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức này vào cuối năm 2006 đã tạo cho nước
ta về thế và lực mới. Chúng ta có cơ hội để tham gia thị trường toàn cầu, kinh
tế và thương mại của chúng ta sẽ được đối xử bình đẳng với các nước khác,

khích, mở rộng hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế, khu
vực, tổ chức, cá nhân nước ngoài về tiêu chuẩn hoá, ký kết và thực hiện các
Hiệp định, thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau song phương và đa phương về kết
quả đánh giá sự phù hợp giữa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ, khuyến
khích các tổ chức đánh giá sự phù hợp ký kết thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau.
Một trong những Hiệp định quan trọng quy định việc hài hoà các tiêu
chuẩn quốc gia và các quy chuẩn kỹ thuật mà Việt Nam có nghĩa vụ phải tuân
thủ trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đó là Hiệp định về hàng rào kỹ
thuật trong thương mại (TBT).
Trong thương mại hàng hóa tồn tại hàng rào thuế quan và hàng rào phi
thuế quan. Hàng rào kỹ thuật là hàng rào phi thuế quan, liên quan đến việc áp
dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo cung cấp cho thị trường những
sản phẩm, hàng hóa có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của người tiêu
dùng.
Mỗi quốc gia đều cần thiết xây dựng và duy trì cho mình một hàng rào
kỹ thuật hợp pháp để đảm bảo an toàn và sức khỏe con người, vật nuôi, cây
trồng, bảo vệ môi trường, an ninh quốc gia, chống gian lận thương mại Tuy
nhiên, bên cạnh đó, cũng có nhiều hàng rào kỹ thuật đã hạn chế thương mại
của các nước khác, hoặc mang tính phân biệt đối xử như áp dụng chính sách
ưu đãi đối với nước này, song lại khắt khe với nước khác. Nới lỏng quản lý
với hàng hóa trong nước song lại quản lý chặt chẽ với hàng nhập khẩu

23
Những hàng rào như vậy thực sự trở thành rào cản đối với thương mại quốc
tế và trái với nguyên tắc của thương mại tự do mà WTO đã đề ra.
Để loại bỏ rào cản kỹ thuật trong thương mại, WTO đã sử dụng Hiệp
định TBT như là một luật chung để điều chỉnh các hoạt động về tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp giữa các nước thành
viên WTO. Về lý thuyết thì tiêu chuẩn hóa không phải là rào cản kỹ thuật
trong thương mại nhưng trên thực tế chúng đều có thể trở thành rào cản kỹ

ok
k

ỹt
t
h
h
u
u


t
tt
t
r
r
o
o
n
n
g

ư


c
cA
AC
C
á
á
c
cq
q
u
u
y
yc
c
h

á
c
cb
b
i
i


n
np
p
h
h
á
á
p
pk
k
i
i


tC
C
á
á
c
cb
b
i
i


n
np
p
h
h
á
á
p
p



v
v


t
tC
C
á
á
c
ct
t
i
i
ê
ê
u
uc
c
h

,

H
H
i
i


u
uc
c
h
h
u
u


n
nG
G
i

h


n
nB
B
a
a
o
og
g
ó
ó
i
iG
G
h
h
i
i



u
uk
k
h
h
á
á
c
c N
N
ư

h
u
u


n
nk
k

ỹt
t
h
h
u
u


t
tC
C
á


m
md
d


c
c
h

đ


n
n
g
gv
v


t


k
k
i
i


m
md
d


c
c
h
ht
t
h
h


c
c


h
u
u


n
nT
T
h
h

ửn
n
g
g
h
h
i
i


m
m
,

i
á
á
m

đ


n
n
h
hC
C
ô
ô
n
n
g
gn
n
h


n
n
h
h
ã
ã
n
nC
C
á
á
c
cy
y
ê
ê
u
uc
c


thời gian, chi phí cho hoạt động trao đổi thương mại quốc tế.
Hiệp định TBT đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản: không phân biệt đối xử
tối huệ quốc và đối xử quốc gia. Hài hòa tiêu chuẩn, tương đương của các
quy chuẩn kỹ thuật, thừa nhận lẫn nhau trong quy trình đánh giá sự phù hợp
với tính minh bạch. Trong đó, hài hòa tiêu chuẩn có ý nghĩa quan trọng, được
sự ủng hộ và chấp nhận của nhiều quốc gia và trở thành xu thế chung của
toàn thế giới.
Bản chất của hài hòa tiêu chuẩn là làm cho các tiêu chuẩn quốc gia của
các nước hoặc nền kinh tế xích lại càng gần nhau càng tốt trên cơ sở lấy tiêu
chuẩn quốc tế làm gốc nhằm hạn chế và tiến tới xoá bỏ rào cản kỹ thuật
không cần thiết đối với thương mại quốc tế.
Việc nghiên cứu hài hoà và thống nhất tiêu chuẩn quốc gia với tiêu
chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn khu vực, hoặc giữa các tiêu chuẩn quốc gia với
nhau là việc làm đang được hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế quan
tâm. Các tổ chức ASEAN, ASEM và APEC đã đưa ra và thực hiện các

Trích đoạn Hiệp hội các quốc gia Đông Na mÁ (ASEAN) với chương trình AFTA Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) với Chương trình tự do và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư TILF Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ với những nội dung về Tiêu chuẩn hóa Yêu cầu và nguyên tắc của đổi mớ Nội dung đổi mới hoạt động tiêu chuẩn hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status