Sự mở rộng của NATO nhìn từ góc độ địa chính trị - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…………………………………….

Hµ H¶i B×nh
sù më réng cña nato
nh×n tõ gãc ®é ®Þa chÝnh trÞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC

nhìn từ góc độ địa chính trị
Chuyờn ngnh: Quan h quc t
Mó s: 60.31.40
LUN VN THC S NGNH QUC T HC
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TSKH LNG VN K
H Ni - 2008 3

2.3.2. Nhân tố bên trong NATO. 80
2.4. Nội dung chiến l-ợc mở rộng của NATO 90
2.5. Diễn biến của quá trình mở rộng của NATO từ sau 1990. 100
2.5.1. Giai đoạn 1991 - 1999 100
2.5.2. Giai đoạn 2000 - 2004 105
2.5.3. Giai đoạn 2004 - 2008 107
Chng 3
Tác động địa chính trị của việc NATO mở rộng và
triển vọng 111
3.1 Tác động đến cục diện chính trị thế giới nói chung. 111
3.2. Tác động đến vị thế địa chính trị của Liên Bang Nga 114
3.3. Tác động đến điều chỉnh chính sách đối ngoại của Liên bang Nga118
3.4. Điều chỉnh trong bố trí quân sự của n-ớc Nga. 125
3.5 Tác động đến vị thế n-ớc lớn của Nga 129
3.6. Triển vọng mở rộng không gian NATO đối với các khu vực trên thế
giới. 132
3.7. Khả năng NATO mở rộng về chức năng, nhiệm vụ thông qua cam
kết, dính líu và can thiệp. 135
3.8. Khả năng NATO ngừng mở rộng 136
Kết luận 137

5
Danh mc ti liu tham kho 139
Phụ lục1: Hiệp -ớc Bắc Đại Tây D-ơng NATO 146
Phụ lục 2: Bản Đồ các n-ớc thành viên NATO 153
Phụ lục 3: Bản đồ các năm mở rộng của NATO 154
Phụ lục 4: Các căn cứ chỉ huy NATO tại châu Âu 155
Phụ lục 5: Bản đồ vị chí chiến l-ợc của các n-ớc xin gia nhập NATO 2008156
Phụ lục 6: Cơ Cấu Tổ Chức NATO 157


National Missile Defense
Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia

7
OSCE
Organisation of Security and Cooperation in Europe
Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu
PFP
Partnership for Peace
Đối tác vì hòa bình
START
Strategic Arms Reduction Treaty
Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí chiến l-ợc
SALT
Strategic Arms Limitation Talks
Hiệp -ớc giới hạn vũ khí chiến l-ợc
SCO
Shanghai Cooperation Organisation
Tổ chức hợp tác Th-ợng Hải
SNG
Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarstv
Cộng đồng các quốc gia độc lập (tên viết tắt tiếng Nga)
WEU
Western Europe Union
Liên minh tây Âu 8
lời mở đầu


NATO mở rộng là một vấn đề đã đ-ợc nhiều học giả, chuyên gia quan
tâm nghiên cứu. Vấn đề này luôn mang tính thời sự và bao hàm mối quan hệ
rộng, phức tạp giữa nhiều chủ thể, mà tr-ớc hết là mối quan hệ giữa các n-ớc
lớn Mỹ, Nga, khối Tây Âu và Trung Quốc ấn Độ.
Từ cách tiếp cận vấn đề đứng ở các góc cạnh khác nhau, các học giả n-ớc
ngoài có những nghiên cứu tổng kết, đánh giá về vấn đề này với những quan
điểm không hoàn toàn giống nhau. ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu đều là
các tác giả n-ớc ngoài hoặc dịch sang tiếng Việt, trong đó có nhiều vấn đề cần
phải xem xét, đánh giá một cách khách quan và không phiến diện. Cũng có
nhiều bài nghiên cứu về NATO mở rộng và những tác động của nó đến quan
hệ quốc tế, trong đó có Nga của học giả Việt Nam, tuy nhiên, ch-a có công
trình nghiên cứu chuyên sâu nào, tổng kết đánh giá về quá trình mở rộng của
NATO sau Chiến tranh lạnh, và ch-a có công trình nghiên cứu nào về xu
h-ớng mở rộng của khối này trong t-ơng lai, những chủ thể chịu tác động của
sự mở rộng này nhìn trên góc độ Địa chính trị thế giới.
Do vậy, việc thực hiện đề tài này là nhằm góp phần phác hoạ những nét
cơ bản nhất về tiến trình NATO mở rộng, những tác động đối với các chủ thể
trong quan hệ quốc tế, và xu h-ớng tới của NATO nhìn trên góc độ Địa chính
trị thế giới, dựa trên các nguồn tài liệu mà tôi đă nghiên cứu và tiếp cận.
3. Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Với giới hạn phạm vi nghiên cứu nêu trên, mục đích của luận văn là cố
gắng làm rõ những nét khái quát nhất về NATO tr-ớc chiến tranh và việc mở

10
rộng của NATO trong và sau Chiến tranh lạnh, những tác động địa chính trị
đối với châu Âu nói chung và đối với Liên Bang Nga nói riêng. Dự báo tình
hình, đối t-ợng nhắm tới tiếp theo của khối này. Nội dung luận văn này bao
gồm những thông tin, kiến thức cơ bản trong phạm vi giới hạn đã đ-ợc xác
định.
NATO là một liên minh quân sự có nhiều chủ thể tham gia, trong đó có

trình bày trong 3 ch-ơng nh- sau:
Ch-ơng 1
Một số khía cạnh lý luận địa chính trị liên quan
Mục đích của ch-ơng này tập trung vào nêu lý thuyết địa chính trị thế
giới. Giải thích thế nào là khoa học chính trị và khoa học địa lý, và làm rõ về
mối quan hệ giữa đại chính trị hiện đại và địa chính trị truyền thống.
Các khái niệm cơ bản của địa chính trị đ-ợc vận dụng trong luận văn này
chỉ là nhận định của giới nghiên cứu quan hệ quốc tế từ khía cạnh không gian
địa lý, và các khu vực trọng điểm trên bản đồ chính trị quốc tế.
Cuối cùng phân tích rõ việc NATO ứng dụng khái niệm, lý thuyết này
nh- thế nào trong việc hoạch định chính sách mới của mình.
Ch-ơng 2
Khái quát về NATO và quá trình mở rộng
Mục đích của ch-ơng này tập trung vào nêu khái quát bối cảnh tình hình
thế giới và khu vực châu Âu, lý do ra đời và quá trình phát triển của NATO
trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Một vài nhận xét, đánh giá về NATO thời kỳ
này giúp cho việc nhìn nhận bản chất khối NATO đ-ợc tổng quát hơn.

12
Ch-ơng này đi sâu vào phân tích những cơ sở dẫn đến NATO thực hiện
chiến l-ợc mở rộng sang phía Đông thời kỳ sau chiến tranh lạnh, những mục
tiêu chung mở rộng của NATO cũng nh- các n-ớc thành viên và nội dung
của chiến l-ợc này. Ch-ơng này cũng trình bày quá trình mở rộng của NATO
qua hai lần mở rộng và đ-a ra những đánh giá về NATO mở rộng d-ới góc độ
địa chính trị, những dự báo khả năng NATO tiếp tục mở rộng ra các khu vực
khác.
Ch-ơng 3
1. Tác động của việc NATO mở rộng
NATO mở rộng là vấn đề quốc tế lớn và tác động tới nhiều chủ thể khác
nhau. Tuy nhiên, ch-ơng 3 chỉ tập trung vào phân tích những tác động của

quc t ca Th gii c. Vic M tham gia chin tranh bỏo hiu s xõm nhp
ca ch ngha lý tng v nhng quan h quc t nh l cỏch t chc nhng
cụng vic ca quc gia ca Th gii mi. Tng thng Wilson tc khc bt u
vin lý cho vic can thip ca M vo chin tranh bng nhng nguyờn tc
tru tng iu hnh nhng cụng vic quc t. Trong khi ch ngha duy thc
cho nhng quc gia mnh gỏnh ly trỏch nhim v nhng cụng vic quc

14
tế, chủ nghĩa lý tưởng mới yêu cầu một sự kiểm soát quyền lực như vậy phải
được hành động tập thể của tất cả các quốc gia tiến hành. Sản phẩm chính của
loại tư duy này là Hội Quốc Liên được thành lập trong hoàn cảnh sau Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất để ngăn ngừa một sự tàn phá như vậy chẳng bao
giờ xảy ra một lần nữa. Do vậy, trong khi chủ nghĩa duy thực thường được coi
là bảo thủ trong thiên vị của kẻ mạnh, chủ nghĩa lý tưởng là một học thuyết tự
do có ý định đặt những quan hệ quốc tế trên cơ sở “hợp hiến” chắc chắn hơn.
Môn địa chính trị bình thường đã là bộ phận của truyền thống duy thực
của những quan hệ quốc tế. Ví dụ lời phát biểu chủ yếu ban đầu của
Mackinder (1904) về môn địa chính trị đã trở thành một trong những kinh
điển của chủ nghĩa duy thực. Nhưng, sau 1918, trong không khí mới của dư
luận theo chủ nghĩa lý tưởng, Bowman (1924) đã đưa ra khảo sát thế giới nổi
tiếng của ông, Cuốn Thế giới mới, trong đó chủ nghĩa duy thực kiểu cổ đã bị
loại bỏ khỏi địa lý. Mặc dù như vậy quan điểm của Bowman đã đóng góp lớn
lao đối với di sản quyền lực chính trị của môn địa chính trị quốc tế. Ngay cả
trong trường hợp này, những lý lẽ của Bowman không trình bày rõ một triển
vọng quốc tế thực sự, mà trái ngược lại, ông nhìn thế giới phần rất lớn thông
qua con mắt của người Mỹ. Thực ra cả những người theo chủ nghĩa duy thực
và những người theo chủ nghĩa lý tưởng cùng chia xẻ cái về cơ bản là cách
nhìn thế giới lấy quốc gia là trung tâm. Điều này làm cho tất cả các công trình
nghiên cứu như vậy thiên vị về đất nước riêng của một tác giả. Trong trường
hợp của môn địa chính trị, luôn luôn dễ dàng xác định tính chất quốc gia của

thường khi gặp phải sự đề cập đến địa chính trị trong bất cứ một bài báo
nghiêm túc nào về những vấn đề chính trị thế giới. Trong việc sử dụng này,
địa chính trị hình như là một câu viết tốc ký được dùng để chỉ ra một quá trình
chung điều khiển sự kình địch toàn cầu sản sinh ra một sự cân bằng quyền lực

16
hay một tình trạng cân bằng trong những công việc của thế giới. Một hàm ý
chung là ở chỗ các nhà chính trị Mỹ cần làm chủ được cái nghệ thuật này
trong những hoàn cảnh mới của sự giảm sút tương đối quyền lực của Mỹ.
Thứ hai là địa chính trị đi sâu vào việc nghiên cứu địa lý chiến tranh và
hoà bình, nghiên cứu sự kình địch của các cường quốc có vị trí chiến lược
trên bản đồ chính trị toàn cầu trong địa chính trị. Và cuối cùng là khi nghiên
cứu địa chính trị nước Mỹ cần phải chú trọng đến yêu cầu cân bằng trong
quan hệ quốc tế và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại can thiệp của Mỹ
vào các vấn đề quốc tế.
Ngoài ra, Đối với nguồn gốc ra đời của địa chính trị cũng được xác
định trên những tư tưởng, quan điểm của những đế quốc trên thế giới khi mà
những quan điểm này ảnh hưởng đến chính trị về sự kình địch giữa các cường
quốc trên phạm vi toàn cầu. Trước hết, tư duy khoa học địa chính trị này dựa
nhiều trên truyền thống có gốc gác chủng tộc và văn hoá, có thể coi đó là
quan điểm đế quốc chủ nghĩa trong khoa học. Hai là, các trào lưu địa chính trị
trước CTTG II chứa đựng nhiều yếu tố Tân Lamarck luận, dựa chủ yếu trên
giả thuyết của họ về tính ưu đẳng của chủng người da trắng, cường điệu khả
năng kế thừa các tri thức và năng lực tích luỹ được, can dự vào quá trình tiến
hoá, cường điệu nhân tố môi trường, coi chủ nghĩa đế quốc là điều đương
nhiên, hợp tự nhiên. Ba là, các nhà địa chính trị tiền bối đã đưa ra một cách
nhìn nhất định đối với nền chính trị quốc tế. Cơ sở triết học của quan điểm đó
dựa trên thuyết De Carte về thực tiễn, tách rời lịch sử với không gian và tạo
thuận lợi cho việc không gian hoá các đối tượng và hiện tượng xã hội - lịch
sử, đơn giản hoá lịch sử thành một thứ tả pí lù (Tableau) duy tâm, đầy mâu

phần diện tích trái đất và thông qua những đường ranh giới tư tưởng hay

18
những không gian trống rỗng mà phân biệt với các cơ thể sống khác có cùng
cách chiếm lĩnh mặt đất như nhau”[16;tr.20]
Địa chính trị nghiên cứu cơ sở biến đổi nhân khẩu theo hình thái lãnh
thổ. Và biến thái về lãnh thổ của 1 nước đều tác động mạnh đến các nước
khác. Trên thực tế có 2 nhân tố tác động không gian đó là mở rộng và phục
hưng.
Tính chất quan hệ giữa quốc gia và hoàn cảnh ảnh hưởng tới tốc độ
trưởng thành + thời gian duy trì một cách hữu hiệu.
Theo lý thuyết của Ratzel thì 7 Qui luật tăng trưởng không gian của các
nhà nước[67,tr.130] gồm: Độ lớn lãnh thổ của nhà nước tăng lên cùng với
trình độ văn hoá của nhà nước đó, và việc tăng trưởng của nhà nước mặt khác
gắn liền với mức tăng trưởng dân số, chẳng hạn trình độ phát triển nông
nghiệp và tầm mở rộng chân trời địa lý của họ. Việc tăng trưởng của nhà nước
được thực hiện bằng cách thôn tính các nhà nước nhỏ hơn bởi những xâu
chuỗi lớn hơn trong không gian sinh tồn của nó; Biên giới là cơ quan ngoại vi
của nhà nước, đảm trách việc tăng trưởng và củng cố sự phát triển nhà nước.
Việc can dự vào mọi quá trình biến hoá của cơ thể nhà nước là rất cần thiết
cho một đất nước. Tuy nhiên trong quá trình tăng trưởng, nhà nước theo đuổi
các vị trí chính trị tương xứng với cơ thể nhà nước đó. Hơn thế nữa trong thực
tế thì sự kích thích đầu tiên để bành trướng lãnh thổ thường đến từ bên ngoài
cơ thể nhà nước; Và xu thế chung để mở rộng lãnh thổ lần lượt do nhà nước
chuyển giao cho nhau và nó tăng cường sức mạnh không ngừng.
R. Kjellen-người Thuỵ Điển: Là người đầu tiên đưa ra khái niệm Địa chính
trị Geopolitik (1899). Với tác phẩm chính của ông là Các cường quốc được
xuất bản năm 1914. Do vị trí quan trọng của tác phẩm nên trong vòng 16 năm,
tác phẩm này được tái bản tới 22 lần


liên địa cầu của các quá trình chính trị. Nó bắt rễ trên một nền tảng rộng rãi
của địa lý, đặc biệt là của địa lý chính trị với tư cách là lý thuyết về các thể
không gian hữu cơ chính trị và cấu trúc của chúng.
Theo Haushofer thì nhiệm vụ chuyên môn của khoa địa lý chính trị là
nghiên cứu các mối tương tác giữa môi trường không gian của con người và
các hình thái đời sống chính trị.
Sự cấu thành các nhóm người và tương tác giữa các nhóm người là hình
thái cơ bản của đời sống chính trị; con người với tư cách là thực thể xã hội và
là hợp thể của nhiều tiêu chí: (1) tiêu chí sinh học (huyết thống), (2) tiêu chí
tuổi tác, (3) tiêu chí ngôn ngữ, (4) tiêu chí về cách xung đột với môi trường ,
(5) các tiêu chí phong tục tập quán, luật pháp và nền thống trị, và (6) tiêu chí
về niềm tin.
Tóm lại trong khi địa chính trị phụ thuộc vào chủ nghĩa duy vật khoa học
của Ratzel, chủ nghĩa xã hội Quốc gia thúc đẩy những tư tưởng về những
phẩm chất bẩm sinh của con người để tôn cao những lý thuyết chủng tộc.
Trường phái Anglo-Saxong (Anh-Mỹ):
Alfred Thayer Mahan (1840-1914)
Tác phẩm chính là The Enfluence of Sea Power upon History (Ảnh
hưởng của quyền lực biển trong lịch sử, 1890)với những dẫn luận
như“Elements of Sea Power”
Trong tác phẩm này Mahan đưa ra 6 điều kiện phát huy được sức mạnh
biển:
vị trí địa lý đối với biển của quốc gia đó, những đặc trưng địa chất của
lãnh thổ quốc gia trong tương quan với các đại dương, chiều dài bờ biển, số

21
lượng hải cảng, độ sâu của nước và địa hình che chắn các hải cảng, diện tích
lãnh thổ và tương quan giữa địa lý địa chất và địa lý nhân văn, dân số, có hay
không có truyền thống thương mại trong bản tính dân tộc, đặc trưng của lãnh
đạo quốc gia, thiên về một nhà nước chuyên chế (despotic, như Carthage, Tây

bối cảnh văn hoá và các tác động môi trường và tác động chức năng. Các đại
diện tiêu biểu là:
Boesler (1969,1983) nhận định các hành động chính trị nhà nước có
thể tác động theo hai qui mô - qui mô tổng thể và qui mô khu vực -, làm biến
đổi cảnh quan văn hoá tuỳ vào các nhân tố địa lý. Bên cạnh đó ông cũng phê
phán địa lý chính trị trong các thập niên sau CTTG II của địa lý chính trị của
Đức và các nước nói tiếng Đức: là thiếu tính nhất quán trong đánh giá ý nghĩa
của những kiến thức địa chính trị đối với sự phát triển không gian xã hội -
kinh tế của khu vực, thiếu chú ý môi trường, và Địa chính trị cần thận trọng,
sáng suốt và nghiêm khắc, tránh gắn với một hệ tư tưởng chính trị, tránh sự
phân tích cảm tính và duy lý.
Herold: Nghiên cứu “các mối tương tác giữa các yếu tố môi trường
không gian của xã hội cũng như các bộ phận của nó và các trạng thái chính trị
(cơ cấu), các quá trình hay chức năng và sự phát triển” (1973, tr. 14).
Schwind: “Địa lý học nhà nước đại cương” (Allgemeine
Staatengeographie, 1972). Địa lý học nhà nước bao gồm 3 nhóm vấn đề: Làm
sáng tỏ vấn đề những gì là môi trường địa lý của nhà nước, khẳng định nhà
nước sở hữu những sức mạnh nào và những tổ chức nào để có thể gây tác
động vào môi trường địa lý, và nghiên cứu cách thức tác động của những giải

23
pháp mà nhà nước đưa ra trước những thách thức của môi trường địa lý xét về
mặt cảnh quan, địa hình địa mạo và chức năng.
Trường phái địa chính trị Pháp
Ở Pháp thì tiêu biều cho thời kỳ này là các công trình của Yves Lacoste
đằng trên tạp chí Hérodote: Revue de geographie et de geopolitique (1976)
cho rằng, Đối tượng phục vụ của nó là những người xung kích chính trị,
những người Marxist, giới công đoàn, các nhà địa lý học, triết học, chính
khách và các nhà qui hoạch đô thị. Các chủ đề tập trung chủ yếu là địa chính
trị vô chính phủ, điạ lý sinh thái, lý thuyết chống chủ nghĩa thực dân, các cuộc

Mackinder xuất phát từ những lợi ích chiến lược của Mỹ, phân tích chiến lược
an ninh chính trị thế giới với quan điểm phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau của các
khu vực và trận tuyến, những nguy cơ cho Tây Bán cầu vì Âu-á liên minh;
Mỹ cần phải tham chiến lục địa; kết hợp hải lục không quân và hậu cần.
Chú trọng đến khu vực biên cương để đưa ra những sách lược phù hợp
với tình hình quốc tế mà vẫn đảm bảo được chiến lược tổng thể như
Mackinder đã nhận định rằng "Ai chi phối được vùng biên, kẻ đó kiểm soát
được đại lục Âu-Á; Ai kiểm soát được lục địa Âu-Á, kẻ đó sẽ nắm chắc vận
mệnh thế giới"

25 Hình 1.1. Bản đồ Khu vực vành đai đất liền của Spykman
Henry Kissinger: Trường phái địa chính trị thực tiễn cân bằng
Theo ông thì về Địa chính trị, cần phải chú trọng yêu cầu cân bằng xuất
phát từ thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại can thiệp của Mỹ vào các khu
vực trọng điểm trên thế giới với những nội dung là phải phân tích rất cụ thể về
tình hình địa chính trị hậu Chiến tranh lạnh và xác định vai trò của Mỹ trong
khuôn khổ trật tự thế giới mới, cần xác định được các cường quốc thế giới để
đưa ra chính sách ngăn chặn và răn đe phù hợp. Theo ông sau chiến tranh lạnh
nổi lên 6 cường quốc thế giới, đứng đầu là Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Nga,
Nhật và Ấn Độ. Với xu thế của thời đại là toàn cầu hoá. Vì vậy triển vọng của
trật tự thế giới là Mỹ đưa ra chính sách ngăn chặn bất cứ nước nào có ý muốn
chi phối đại lục Âu – Á. Trong quan hệ với các cường quốc không đánh đồng
chính sách mà phải đưa ra những đối sách mền dẻo hơn như là trong quan hệ

Trích đoạn Nhân tố bên ngoài Nhân tố bên trong NATO Nội dung chiến l-ợc mở rộng của NATO Giai đoạn 199 1 1999 Giai đoạn 200 0 2004
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status