Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TẠ THỊ KIM NIÊN
TIỀM NĂNG DU LỊCH THÁI NGUYÊN
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ
(1995 - 2007) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY TIẾN THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Lịch sử và các
Giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình truyền
đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
Luận văn Thạc sĩ.
Em xin gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Duy Tiến - Người trực tiếp chỉ bảo,
hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Thái
Nguyên, Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Sông Công và các thầy cô
VĂN HOÁ .................................................................................................................................................................................... 24
2.1. Thành phố Thái Nguyên ...................................................................................................................................... 26
2.2. Đại Từ ................................................................................................................................................................................................ 29
2.3. Định Hoá - Phú Lương ........................................................................................................................................... 32
2.4. Đồng Hỷ - Võ Nhai .................................................................................................................................................... 39
2.5. Phú Bình, Phổ Yên ...................................................................................................................................................... 44
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................................................................................................ 54
Chƣơng 3. MỘT VÀI GIẢI PHÁP PHÁT HUY TIỀM NĂNG DU LỊCH THÁI
NGUYÊN ................................................................................................................................................................................. 56
3.1. Thực trạng ................................................................................................................................................................................... 56
3.2. Một vài giải pháp nhằm phát huy tiềm năng du lịch Thái Nguyên....... 67
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................................................................................................ 80
KẾT LUẬN ....................................................................................................................................................................................................................... 82
Tài liệu tham khảo ........................................................................................................................................................................ 86
Phần phụ lục ........................................................................................................................................................................................... 92 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng thống kê các dân tộc sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên ....... 10
Bảng 1.2. Tỷ trọng kết cấu các dân tộc theo đơn vị hành chính trong tỉnh......... 11
Bảng 3.1. Doanh thu du lịch trên địa bàn ...................................................................................................... 60
Bảng 3.2. Tình hình khách du lịch đến Thái Nguyên qua các năm .............................. 61
Bảng 3.3. Số lượng cơ sở lưu trú và công suất sử dụng buồng, phòng của
du lịch Thái Nguyên ................................................................................................................................... 65
Thái Nguyên là chiếc cầu nối giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng với vùng
miền núi phía Bắc của Tổ quốc, là trung tâm vùng Việt Bắc, có bề dày lịch sử và
văn hoá, giàu truyền thống cách mạng, vì vậy Thái Nguyên có vị trí hết sức quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong tiến trình lịch sử, các
dân tộc ở Thái Nguyên đã đoàn kêt gắn bó cùng nhân dân cả nước xây dựng Tổ
quốc và bảo vệ giang sơn. Công sức của nhiều người, của nhiều thế hệ khác
nhau đã cống hiến tạo nên một Thái Nguyên giầu truyền thống lịch sử, văn hoá
với những địa danh nổi tiếng, những danh nhân văn hoá, những di tịch lịch sử
được đánh giá cao.
Các di tích lịch sử, các yếu tố văn hoá đó trải rộng khắp mọi vùng, miền
của cả tỉnh, không đâu là không có. Đây chính là thế mạnh phục vụ thiết thực
cho ngành du lịch của tỉnh nhà. Những tiềm năng đó đã và đang được khơi dậy,
nhưng cần được quan tâm, nghiên cứu, thông tin tuyên truyền rộng rãi hơn nữa,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
tạo dựng được mạng lưới du lịch rộng khắp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu để
cho du khách chỉ một lần đến với Thái Nguyên, sẽ không quên mảnh đất có
truyền thống lịch sử lâu đời và đầy sắc thái văn hoá này.
Là một giáo viên công tác tại Thái Nguyên, qua đề tài nghiên cứu này,
bằng các phương pháp trực quan sinh động về lịch sử và văn hoá, tôi mong
muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao lòng tự hào dân tộc, truyền
thống yêu nước, yêu quê hương xứ sở cho các em học sinh Thái Nguyên, đồng
thời quảng bá cho du lịch tỉnh nhà, nêu lên được thực trạng và những giải pháp
nhằm khai thác tiềm năng du lịch vào việc phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương. Từ những lý do trên tôi chọn “Tiềm năng du lịch Thái Nguyên - Nhìn
từ góc độ lịch, sử văn hoá (1995-2007)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ lịch sử.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Tìm hiểu và quảng bá cho du lịch, nhất là du lịch Thái Nguyên là một vấn
đề mới mẻ, thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Trung ương và địa
Thái Nguyên làm khoá luận tốt nghiệp với đề tài Tiềm năng, hiện trạng và định
hướng phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên, đã phân tích, đánh giá tiềm năng tự
nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn dưới góc độ kinh tế có liên quan đến hoạt
động du lịch của Thái Nguyên, đánh giá hiện trạng du lịch của tỉnh qua năm du
lịch Quốc gia tổ chức tại Thái Nguyên, tìm hiểu định hướng và đưa ra một số
kiến nghị góp phần thúc đẩy du lịch Thái Nguyên phát triển theo hướng bền vững.
Những công trình nghiên cứu trên đã trực tiếp, hoặc gián tiếp đề cập tới vấn
đề du lịch Thái Nguyên. Ngoài ra còn có một số bài báo, tạp chí, thông tin khoa
học cũng nghiên cứu các vấn đề đề tài quan tâm. Song, cho đến nay, vẫn chưa
có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng và trình bày một cách hệ thống về
sự phát triển của du lịch Thái Nguyên với những tiềm năng du lịch về lịch sử,
văn hoá và danh thắng vốn có. Mặc dù vậy, chúng tôi đánh giá rất cao những
công trình trên và coi đó là nguồn tài liệu quý, giúp chúng tôi trong quá trình tìm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
hiểu về “Tiềm năng du lịch Thái Nguyên - Nhìn từ góc độ lịch sử, văn hoá
(1995 – 2007)”.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn đề cập tới các di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng chính ở Thái
Nguyên gắn với vấn đề du lịch hiện nay. Quá trình phát triển của ngành du lịch
Thái Nguyên từ 1995 đến 2007. Những giải pháp nhằm phát triển du lịch Thái
Nguyên dựa trên thế mạnh du lịch lịch sử, du lịch văn hoá.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: Từ 1995 đến 2007.Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề, luận văn có đề
cập đến một số vấn đề của du lịch Thái Nguyên trước năm 1995.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
hoá, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và vị trí, vai trò của nó
với vấn đề du lịch hiện nay.
- Luận văn đã chỉ ra thực trạng tình hình du lịch ở Thái Nguyên, đồng thời
đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng du lịch của Thái Nguyên dựa
trên thế mạnh du lịch lịch sử, du lịch văn hoá, du lịch danh thắng.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy và
học tập lịch sử địa phương của các trường chuyên nghiệp và phổ thông trên địa
bàn tỉnh. Luận văn góp phần vào việc giáo dục lòng tự hào về quê hương, đất
nước cho các thế hệ.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Thái Nguyên trong lịch sử dân tộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chương 2: Tiềm năng du lịch Thái Nguyên - Nhìn từ góc độ lịch sử, văn
hoá.
Chương 3: Một vài giải pháp nhằm phát huy tiềm năng du lịch
Thái Nguyên.
Yên) lên phía Bắc (cầu Ổ Gà, Phú Lương) qua Bắc Kạn lên Cao Bằng. Quốc lộ
1B từ cầu Gia Bẩy (thành phố Thái Nguyên) qua 2 huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai lên
Lạng Sơn. Quốc lộ 19 chạy từ Hiệp Hoà (Bắc Giang) sang Thái Nguyên. Ngoài
ra Thái Nguyên còn có 2 đường sắt Hà Nội - Quan Triều - Núi Hồng và Lưu Xá
(Thái Nguyên). Kép (Bắc Giang), Uông Bí (Quảng Ninh), cùng nhiều tuyến giao
thông nội tỉnh, liên tỉnh thuận tiện như: Đường 13A từ Bờ Đậu (Phú Lương) qua
Đại Từ, vượt Đèo Khế sang Tuyên Quang … với hệ thống giao thông thuận lợi
như vậy có thể giúp du khách đến với Thái Nguyên dễ dàng, để từ Thái Nguyên,
du khách toả đi khắp những di tích rải rác trên 6 tỉnh Việt Bắc xưa để tìm lại cội
nguồn sức mạnh của dân tộc thế kỉ XX.
Sự kết hợp giữa hoàn lưu gió mùa với yếu tố địa hình tạo cho tự nhiên ở
Thái Nguyên phân hoá thành 3 vùng rõ nét: Vùng phía Tây và Tây Bắc tỉnh, bao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
gồm huyện Đại Từ, Định Hoá và các xã miền tây huyện Phú Lương, đây là khu
vực miền núi, có tài nguyên rừng phong phú. Vùng núi phía Đông, gồm có các
huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, địa hình không cao lắm, chỉ khoảng 500 - 600m
nhưng rất phức tạp và hiểm trở, được cấu tạo từ núi đá vôi - địa hình Caxtơ tạo
thành nhiều hang động với cảnh quan thiên nhiên đẹp, đồng thời có thể dùng
làm nơi ẩn náu trong thời kỳ có chiến tranh như các hang động của Võ Nhai,
Đồng Hỷ. Theo hướng Đông Nam, vùng có địa hình thấp dưới 100m gồm phía
Nam huyện Phú Lương, phía Tây huyện Đồng Hỷ, Thành phố Thái Nguyên, các
huyện Phú Bình, Phổ Yên, và thị xã Sông Công, đây là vùng đồi trung du xen
với đồng bằng phù sa sông Cầu và sông Công, có điều kiện thuận lợi để phát
triển kinh tế, xã hội.
Nhìn chung, địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi, diện tích đồi núi cao
trên 100m chiếm 2/3 diện tích đất đai toàn tỉnh. Vùng có độ cao dưới 100m
chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh. Đất nông nghiệp chiếm 221,6% tổng diện tích, đất
đồi rừng chiếm chiếm 47,1%. Với điều kiện tự nhiên đó, ta thấy Thái Nguyên có
Theo sách Đại nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn “Ở Thái
Nguyên vào cuối mùa xuân mới hơi nóng, đến mùa hè nóng lắm, đầu thu lạnh
dần, đến mùa đông thì rét lắm.Vì địa thế núi cao nên rét nhiều, nóng ít” [41,
tr.162,163]. Với khí hậu tương đối mát mẻ, Thái Nguyên có điều kiện phát triển
du lịch quanh năm, như: Du lịch lễ hội vào mùa xuân, du lịch thám hiểm vào
mùa đông, du lịch tham quan nghỉ dưỡng vào mùa hè…
Đất Thái Nguyên chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng, ngoài ra còn có đất đá vôi
được hình thành chủ yếu ở các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, đất đầm lầy trong các
thung lũng và đất ruộng lúa… Do đó Thái Nguyên có tiềm năng phát triển nền
kinh tế nông, lâm nghiệp đa dạng. Trong lòng đất có nhiều khoáng sản quý như:
“Vàng ở huyện Võ Nhai có mỏ Kim Hỷ, mỏ Thuần Mang, mỏ Bảo Nang. Sắt có ở
các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương … Huyện Định Hoá có bạc, đồng, chì,
vàng…” [41]
Trong lịch sử, ở Thái Nguyên, các tộc “Người Kinh, người Thổ ở lẫn nhau,
tiếng nói líu lo; mặc áo mầu xanh thẫm; chỗ thì làm nhà sàn dựa vào núi, gặp
ngày sinh thì ăn uống linh đình; giá thú thì nặng về của cải” [41, tr. 163,164]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
(Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Bảng thống kê các dân tộc sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên
(Theo kết quả điều tra dân số năm 1979)
Số TT Dân tộc Số dân Tỷ lệ (%)
1. Kinh 789.903 75,23
2. Tày 106.238 10,15
3. Nùng 54.628 5,22
4. Sán Dìu 37.365 3,57
5. Sán Chay 29.229 2,79
6. Dao 21.818 2,08
7. Hmông 4.831 0,46
Bảng 1.2.Tỷ trọng kết cấu các dân tộc theo đơn vị hành chính trong tỉnh
Đơn vị tính: %
Dân tộc
TP. Thái
Nguyên
TX.
Sông
Công
Định
Hoá
Phú
Lương
Võ
Nhai
Đại
Từ
Đồng
Hỷ
Phú
Bình
Phổ
Yên
Kinh
Tày
Nùng
Dao
Sán Dìu
Các dân
tộc khác
90,07
2,14
1,29
3,75
39,14
22,23
19,80
12,30
0,01
6,49
63,74
2,53
13,15
4,34
12,77
3,44
93,99
1,18
2,97
0,01
1,51
0,31
93,02
0,54
0,32
0,23
0,54
Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên chiếm 5,22% dân số toàn tỉnh (Bảng 1.2),
người Nùng có nhiều chi tộc: Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh. Phạm vi
cư trú của người Nùng gần như người Tày, ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh,
nhưng nhiều nhất là ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ. Người Nùng sống chủ yếu
bằng trồng trọt và chăn nuôi. Người Nùng ở Thái Nguyên cũng có lễ cấp sắc,
nhưng không bắt buộc. Lễ cấp sắc của người Nùng ở xã Động Đạt - Phú Lương
có hai bậc là tiểu tao và đại tao. Tiểu tao làm một đêm, lễ vật gồm có: Một thủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
lợn, một đến hai chai rượu, khách mời là anh em trong họ, người được cấp sắc
phải ngồi trong màn đọc sách trong 49 ngày, kiêng không đến chỗ bẩn thỉu. Lễ
đại tao làm trong một ngày, một đêm, lễ vật gồm có: Một con lợn, mười con gà,
mười chai rượu, ba thầy cúng, người được cấp sắc mặc áo cà sa mới. Về mặt xã
hội, những người đã qua lễ cấp sắc được tôn trọng hơn. Ngoài ra việc cấp sắc
còn mang ý nghĩa làm “Danh giá cửa nhà”…
Dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên chiếm 2,79% dân số toàn tỉnh, chủ yếu
sống ở Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Lương (Bảng 1.1, 1.2). Cũng giống như các dân
tộc Tày, Nùng, Dao… sinh sống trên đất Thái Nguyên, người Sán Dìu đã biết
dựa vào thiên nhiên, khai thác tự nhiên để duy trì cuộc sống của mình. Nguồn
sống chính của đại đa số các gia đình người Sán Dìu ở Thái Nguyên là trồng các
loại cây lương thực, chủ yếu là lúa. Ngoài ra chăn nuôi, thủ công nghiệp của
người Sán Dìu cũng khá phát triển. Người Sán Dìu thường chỉ làm lễ cấp sắc
cho người đã có vợ (có nơi còn cấp sắc cho cả phụ nữ là vợ thầy cúng hoặc
những người không có con). Lễ cấp sắc của người Sán Dìu khác với người
Nùng, có ba cấp: Cấp thứ nhất là pháp sư, người được cấp sắc có quyền hạn
thấp, chỉ được cầu khấn, trả lễ thông thường, được thay tên đệm, gọi theo tên
mới. Sau đó muốn được cấp sắc ở cấp cao hơn, thì phải lấy điệp tử do Phan chủ
thay mặt Thiên Đình cấp cho các đệ tử qua lễ Đại phàn. Cấp thứ hai là Chức sư,
được cấp ấn chức sư và được khắc họ tên của thầy vào ấn. Cấp thứ ba là Thứ gia
Lương (Bảng 1.1, 1.2). Cây lương thực chính của người Hmông là ngô, khoai,
sắn. Người Hmông có rất nhiều làn điệu dân ca, trong đó nổi tiếng là các làn
điệu mộ nha (đi làm dâu), cú nhe ca (yêu nhau), mọ ha rưng (đi rừng)… Đi liền
với các làn điệu dân ca là các loại nhạc cụ khèn, kèn, sáo. Những điệu múa
khèn, thổi khèn lá của người đàn ông Hmông không chỉ làm say mê các dân tộc
trong nước mà còn cuốn hút cả du khách nước ngoài. Người Hmông có nhiều trò
chơi dân gian như pá mò ma (tung còn), tàu xí (đánh khăng), xi pá rối (đánh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
ngón tay)…
Dân tộc Hoa chiếm 0,24% dân số toàn tỉnh, cư trú phân tán trong một số
huyện, thị như: Định Hoá, Đồng Hỷ, Phú Bình (Bảng 1.1, 1.2). Họ sống bằng
nhiều ngành nghề khác nhau, như nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, thủ công
nghiệp… Trong những ngày lễ tết, ngày hội… người Hoa thường hát sơn ca,
múa sư tử, múa quyền thuật, đấu vật, đánh đu…
Ngoài ra ở Thái Nguyên còn có các dân tộc Mường, Thái, Ngái… chiếm
một tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân (Bảng 1.1, 1.2). Như vậy, Thái Nguyên là địa
bàn sinh sống của nhiều dân tộc, mỗi dân tộc đều có những sắc thái văn hoá
riêng, giống như những gam màu tạo nên một bức tranh văn hoá hết sức đặc sắc,
riêng biệt mà không nơi nào có được. Sự giao lưu văn hoá là một hiện tượng
mang tính phổ biến và quen thuộc ở các quốc gia đa dân tộc. Song ở Thái
Nguyên, sự giao lưu đó không diễn ra lẻ tẻ, rời rạc mà là một sự tiếp thu, bồi đắp
của cả quá trình lâu dài, mang tính hệ thống, tạo nên những chuyển biến cơ bản
trong việc hình thành và phát triển một truyền thống văn hoá phong phú và đặc
sắc, thể hiện qua các lễ hội truyền thống như: Hội đền Đuổm - Phú Lương, hội
chùa Hang - Đồng Hỷ, hội Lồng Tồng - Định Hoá… cùng với nếp văn hoá nhà
sàn và cách sống quần cư theo làng bản.
1.2. ĐỊA DANH THÁI NGUYÊN QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, đời các Vua Hùng, nước Văn Lang
trấn Thái Nguyên.
Từ thời Lê Trung Hưng (1533-1789), đến hết thời Nguyễn Gia Long, Thái
Nguyên vẫn gọi là trấn.
Dưới thời Gia Long, Thái Nguyên thuộc tổng trấn Bắc Thành. Năm 1831,
1832, Minh Mệnh chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên, trấn Thái
Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Dưới thời Pháp thuộc từ tháng 10-1890 đến tháng 9-1892, tỉnh Thái
Nguyên bị xóa bỏ, phân tán vào các địa bàn khác nhau đặt dưới quyền quản lí
của chính quyền quân sự Pháp.
Ngày 11-4-1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Bắc
Kạn trên cơ sở toàn bộ phủ Thông Hoá của Thái Nguyên. Ngày 21/4/1965, Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà quyết định hợp nhất tỉnh Thái Nguyên và
tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Ngày 29/12/1978, Quốc hội khoá VI quyết
định tách 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã khỏi Bắc Thái chuyển về tỉnh Cao Bằng.
Tháng 4/1985 thị xã Sông Công được thành lập trên cơ sở một số xã phía
Bắc của huyện Phổ Yên và một xã phía Nam của huyện Đồng Hỷ theo quyết
định số 113/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái tách thành 2 tỉnh: Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Tỉnh Thái Nguyên ngày nay có một thành phố, một thị xã và 7 huyện: Thành
phố Thái Nguyên, thị Sông Công, các huyện Phú Bình, Phổ Yên,Võ Nhai, Đại
Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Định Hoá. Dân số trên 1,1 triệu người với 9 dân tộc
anh em cùng chung sống [59, tr.11].
1.3. TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM
Là trung tâm của vùng chiến lược phía Bắc sông Hồng, với địa hình sông
núi hiểm trở nên trong lịch sử, các dân tộc Thái Nguyên phải thường xuyên đối
mặt với các thế lực ngoại bang và cả các tầng lớp phản nghịch trong nước. Từ xa
xưa, Thái Nguyên đã từng được coi là “phên giậu” phía Bắc của kinh thành
Bắc, Tây Bắc và cả miền rừng núi Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh: “Nghĩa
quân chiến đấu rất anh dũng phát triển phong trào ra khắp vùng Việt Bắc và
còn lan rộng sang Tây Bắc và đến núi Thanh Nghệ, suốt 17 năm ròng rã gây
cho giặc nhiều tổn thất nặng nề” [38, tr.239].
Ngày 7/2/1418, Lê Lợi cùng nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn -
Thọ Xuân - Thanh Hoá đã thu hút nhiều hào kiệt quy tụ, trong đó có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Lưu Nhân Chú (con trai Lưu Trung - một gia đình nhiều đời làm quan nhỏ ở
vùng An Thuật - Huyện Đại Từ - Thái Nguyên). Năm 1884, sau khi về cơ bản
đánh chiếm xong các tỉnh Nam Kì và đồng bằng Bắc Kì, thực dân Pháp mở rộng
đánh chiếm các tỉnh thượng du Bắc Kì, trong đó có Thái Nguyên, nhưng ở đây
quân Pháp đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân Thái Nguyên, phải
đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XIX, thực dân Pháp mới hoàn thành
việc đánh chiếm tỉnh Thái Nguyên. Nhưng chưa kịp thiết lập và cải cách bộ máy
thống trị đến các làng, các tổng, thì phong trào đấu tranh của nhân dân Thái
Nguyên lại một lần nữa diễn ra mạnh mẽ, chống lại chính sách cai trị của thực
dân Pháp. Tiêu biểu là phong trào chống Pháp do Mã Sinh Long (Mã Mang)
lãnh đạo. Cùng thời gian đó, nghĩa quân Yên Thế từ Bắc Giang tràn sang Thái
Nguyên, nhân dân Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ, Võ Nhai… đã hăng hái tiếp tế
lương thực, thực phẩm và dẫn đường cho nghĩa quân, nhiều người tình nguyện
đứng vào hàng ngũ nghĩa quân đánh Pháp.
Cuối 1892, binh lính người Việt trong Quân đội Pháp đóng ở đồn Hùng
Sơn (Đại Từ) dưới sự chỉ huy của Cai Bát đã nổi dậy làm binh biến, được nhân
dân các vùng hưởng ứng mạnh mẽ. Đặc biệt, một sự kiện vang dội cả nước, làm
chấn động nước Pháp, ảnh hưởng tới tận các xứ thuộc địa khác trên thế giới đã
nổ ra vào đêm 30 rạng 31/8/1917 tại thị xã Thái Nguyên, đó là khởi nghĩa Thái
Nguyên do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo. Nghĩa quân gồm binh lính
yêu nước, tù chính trị và các tầng lớp nhân dân khác đã giết giám binh, chiếm
che chở, đùm bọc cán bộ…) nên Định Hoá - Thái Nguyên được Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Trung ương Đảng chọn làm An Toàn Khu Trung ương (ATK). ATK Định
Hoá - Thái Nguyên trở thành nơi chỉ đạo và chỉ huy kháng chiến chống Pháp
của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh và các
cơ quan, các Tổng cục. Các quyết sách lớn của Đảng, Chính phủ phần lớn đều ra
đời từ đây. Ví dụ: Hạ quyết tâm tiêu diệt địch tiến công lên Việt Bắc, quyết định