ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO LAN HƯƠNG NHU CẦU ĐƯỢC TRỢ GIÚP TÂM LÍ HỌC ĐƯỜNG CỦA
HỌC SINH THPT BẮC NINH Chuyờn ngành: TÂM LÍ HỌC
Mã số : 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ MINH HẰNG
HÀ NỘI – 2009
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1.2.5.2. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT 31
1.2.5.3. Những khó khăn tâm lý học sinh THPT thường gặp phải 34
1.3. Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học
sinh THPT 36
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 38
2.1. Tổ chức nghiên cứu 38
2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 38
2.1.2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu 40
2.1.3. Quá trình nghiên cứu và những khó khăn thuận lợi trong quá trình
nghiên cứu 41
2.2.Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu 42
2.2.2.Phương pháp quan sát 43
2.2.3.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 44
2.2.4.Phương pháp phỏng vấn sâu 45
2.2.5.Phương pháp thống kê toán học 47
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 48
3.1.Thực trạng những KKTL mà học sinh THPT Bắc Ninh gặp phải trong
cuộc sống 48
3.1.1.Thực trạng những KKTL của học sinh 48
3.1.1.1. Nhóm khó khăn trong học tập 50
3.1.1.2. Nhóm khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai 53
3.1.1.3. Nhóm khó khăn từ phía bản thân 57
3.1.1.4. Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ 60
3.1.2.Các phương thức giải quyết KKTL của học sinh 71
3.2.Nhận thức của học sinh Bắc Ninh về hoạt động trợ giúp TLHĐ 75
3.3.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc
Ninh 82
3
01.
THPT
Trung học phổ thông
02.
KKTL
Khó khăn tâm lý
03.
TLHĐ
Tâm lý học đường 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh biến đổi xã hội hơn hai thập kỷ qua cùng với cuộc
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lười
học chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường dẫn đến tình trạng học lực ngày
càng kém. Bên cạnh đó, các em học sinh có những lúng túng, khó khăn trong
học tập, trong các quan hệ xã hội, khó khăn trong việc giao tiếp ứng xử với
bạn bè, thầy cô, vướng mắc trong quan hệ với cha mẹ và khó khăn trong việc
lựa chọn nghề nghiệp tương lai…Những điều này có thể khiến các em bị
stress, lo âu, trầm cảm hoặc có những hành vi lệch chuẩn
Chính vì vậy, các em rất cần được tư vấn, trợ giúp về tâm lý nếu không
các em sẽ không đủ sức mạnh để vượt qua chính mình và mất phương hướng
trong cuộc sống và trong công việc tương lai.
Trong khi ở các nước đang phát triển, tại mỗi trường học đều có những
phòng tư vấn tâm lý học đường thì ở nước ta, tâm lý học đường vẫn chưa thực
sự trở thành một chuyên ngành được đào tạo bài bản, các phòng tâm lý học
đường đã có nhưng phần lớn tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh. Ngay cả những hình thức trợ giúp này cũng mới chỉ ở hình
thức tham vấn, giải đáp những vướng mắc khó khăn của các em thôi chứ chưa
thực sự trở thành dịch vụ tâm lý học đường chuyên nghiệp và ngay cả việc
thực hiện các phòng tư vấn tâm lý trong trường học cũng gặp rất nhiều khó
khăn.
Thực tế cho thấy, khi các trường phổ thông tổ chức những buổi về tham
vấn, tư vấn tâm lý trực tiếp, những buổi nói chuyện chuyên đề về tâm lý đã
thu hút rất nhiều các em học sinh tham gia, điều này chứng tỏ các em cũng rất
quan tâm đến vấn đề này và có nhu cầu được chia sẻ, giúp đỡ từ các chuyên
gia tâm lý. Tuy nhiên để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh
đến đâu nhằm đáp ứng nhu cầu này thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể.
7
Rõ ràng, việc thực hiện duy trì các phòng TLHĐ còn gặp rất nhiều khó
khăn. Và theo quan sát của chúng tôi, ở mỗi một địa phương mỗi vùng miền
4.1. Nghiên cứu lý luận:
- Tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ
đó xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của đề tài: Nhu cầu, trợ giúp
tâm lý học đường, nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
- Xác định những quan điểm lý luận và phương pháp luận định hướng
cho nghiên cứu thực tế.
4.2. Nghiên cứu thực tiễn:
Đánh giá thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học
sinh trung học phổ thông hiện nay ở một số trường học trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh
4.3. Đề xuất kiến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ đề xuất một số kiến nghị
nhằm nâng cao tính hiệu quả và tính thiết thực của các phòng tâm lý học
đường trong các trường THPT.
5. Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu là 366 học sinh lớp 10 và lớp 11
tại hai trường THPT Hàn Thuyên, Thành phố Bắc Ninh và THPT Tiên Du I,
huyện Tiên Du, Bắc Ninh
Trong đó:
- 168 em trường THPT Hàn Thuyên
- 198 em trường THPT Tiên Du I
6. Giả thuyết khoa học
- Sự phát triển tâm lý, cùng với những khó khăn, áp lực trong học tập
cũng như trong cuộc sống dẫn đến các em học sinh lúng túng, lo lắng, căng
thẳng, do đó phần lớn các em đều có nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
là khá cao.
9
- Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về các
tới hàng loạt trẻ em có các vấn đề về thể chất và tinh thần trong trường học.
Cùng thời gian đó, những sinh viên cá biệt được giáo dục trong các cơ sở
riêng dẫn đến nhu cầu cần các chuyên gia để hỗ trợ cho việc giáo dục này.
Cũng trong thời gian này, những bài kiểm tra đo lường trong giáo dục được
xây dựng mà tiêu biểu là test IQ của Simon – Binet được thử nghiệm ở Pháp.
Chính Binet được giới tâm lý học tôn vinh là cha để của tâm lý học học
đường. Test của Binet đã được mang đến Mỹ vào những năm 1900 và được
chuẩn hoá vào năm 1916 bởi Lewis Terman của trường đại học Standford,
ngày nay đó là thang đo trí thông minh Standford-Binet. Vai trò chính của các
nhà tâm lý học đường thời đó là thực hiện và dịch chuẩn hoá các trắc nghiệm,
tham vấn với giáo viên và phụ huynh học sinh về khó khăn trong học tập,
động cơ, hành vi là những vai trò thứ yếu trong nghề nghiệp của họ.
(Wikipedia, 2009)
Frank Parsons (1854 – 1908) được xem là cha đẻ của ngành hướng dẫn
tư vấn nghề ở Mỹ. Ông đã cho ra đời cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp”
11
(Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề
nghiệp, tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu
quả. Ông thực sự mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được
đưa vào trường học. (Lê Thị Lan Phương,2003)
Năm 1909, cuốn sách “ Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation)
được xuất bản được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vấn
nghề. Boston trở thành địa điểm tổ chức “Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn
nghề nghiệp” đầu tiên và kết quả của hội nghị này đánh dấu sự ra đời của
“Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ” năm 1913, tổ chức tiền nhiệm
của “Hiệp hội tham vấn Mỹ” sau này.
Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp
có hệ thống trong trường học. Ông cũng thấy được tầm quan trọng của công
tác tham vấn cá nhân. Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn
tâm lý học đường vì không có bằng tiến sỹ, một yêu cầu đối với những thành
viên.
Đến năm 1969 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học đường quốc gia được
thành lập (The National Association of School Psychologist). Đây cũng là tổ
chức lớn nhất có ảnh hưởng tới nghề nghiệp của tổ chức tâm lý học đường.
Năm 1980, các nhà tâm lý học đường đã thay đổi chức năng và vai trò
của nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu” (assessment
and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với những nhóm
có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment, interventions and at
least secondary prevention for at risk groups). Những thay đổi này đã làm cho
nỗ lực đáp nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh, giáo
viên và cộng đồng ngày được nâng cao.
Đến năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn
học đường, kể từ đó ngành Tâm lý học đường được xem như là đã hoàn thiện.
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ được xem như là
nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tâm lý học đường của hầu
13
hết các nước trên thế giới. Ngày nay, các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đã
trở nên phổ biến trong các trường học ở nhiều nước trên thế giới.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam
Tâm lý học đường trên thế giới hiện nay đã có một quá trình phát triển
lâu dài. Tuy nhiên, ở nước ta nó vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ, các hoạt
động trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh còn chưa được đầu tư và quan
tâm đúng mức.
Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam đã có chương trình khải đạo
trong trường học. Sau ngày thống nhất với sự thay đổi hoàn toàn cách thức
giáo dục thì chương trình khải đạo không còn tồn tại theo đúng nghĩa của nó
nữa.
Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý NT do
Tông…
Bên cạnh đó, nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm xác định mục
tiêu, vai trò, nhiệm vụ, nội dung của tâm lý học đường như:
Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” do
viện nghiên cứu giáo dục, đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
năm 2003; Hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn
trong trường học” do Văn phòng tư vấn trẻ em thành phố HCM tổ chức năm
2005; Hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý, giáo dục, thực tiễn và định
hướng phát triển” do Hội khoa học tâm lý giáo dục TPHCM tổ chức năm
2006; Hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội khoa
học tâm lý tỉnh Đồng Nai tổ chức năm 2007; Hội thảo “Tâm lý học đường
triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà trường Việt Nam” tổ chức năm 2008
do Trường Đại học sư phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư phạm tiến hành;
và gần đây nhất là hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu định hướng và đào tạo
tâm lý học đường tại Việt Nam” do nhiều cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào
tạo tâm lý diễn ra ngày 3 -4 tháng 8 năm 2009….
Ngoài những cuộc hội thảo toạ đàm về tâm lý học đường, những cơ
quan tổ chức nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành tâm lý học cũng đã có
15
những nghiên cứu về các vấn đề tâm lý học đường ở các cấp độ khác nhau.
Có thể kể ra đây một số nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề mà
chúng tôi đang nghiên cứu như:
Luận văn thạc sỹ “Nhu cầu được giáo dục sức khoẻ sinh sản của học
sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Hà Thành năm 2007. Ở luận văn này
tác giả đã chỉ ra thực trạng giáo dục sức khoẻ sinh sản ở các trường phổ thông
còn nhiều bất cập và hạn chế mặc dù học sinh rất có nhu cầu được giáo dục về
lĩnh vực này. Từ kết quả nghiên cứu thu được, tác giả đã đưa ra những đề xuất
khuyến nghị để thực hiện hình thức giáo dục này có hiệu quả nhằm đáp ứng
nhu cầu chính đáng của các em học sinh.
tỏ trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết, với những hiệu quả mà dịch vụ
mang lại chắc chắn sẽ góp phần giúp các em giải quyết các khó khăn tâm
lý,hạn chế tối đa những rối nhiễu tâm lý mà các em có thể gặp phải, đảm bảo
sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Như vậy, rõ ràng tuy ở nước ta chưa hình thành một phân ngành tâm lý
học đường chính thức nhưng việc nghiên cứu cũng như ứng dụng về các lĩnh
vực tâm lý học đã và đang được tiến hành và thực hiện có hiệu quả. Chắc
chắn trong một thời gian không xa việc nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng tâm lý
học đường sẽ được phổ biến một cách rộng rãi.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu:
1.2.1. Khái niệm “nhu cầu”:
1.2.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu:
Nhu cầu đã được bắt đầu tiến hành nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19 bởi
W.Kohler. E thorndile, N.E.Miller. Các ông nghiên cứu nhu cầu ở động vật,
các kiểu hành vi của con vật được thúc đấy bởi nhu cầu. Họ đã giải thích mối
liên hệ giữa kích thích và phản ứng của cơ thể bằng cái gọi là “luật hiệu ứng”
và từ đó khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi. (Hoàng Thị Thu Hà,
2003)
17
Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học phương Tây chia
thành nhiều các trường phái nghiên cứu khác nhau và họ bắt đầu tiến hành
nghiên cứu nhu cầu cơ thể của con người.
Luận thuyết xung năng của Clark Hull đề xướng theo cách tiếp cận sinh
học để giải thích về nhu cầu động cơ. Hull cho rằng các nhu cầu sinh lý chi
phối đời sống con người. Tuy nhiên, ông cũng không phủ nhận sự có mặt của
nhu cầu động cơ khác nhau. Luận thuyết xung năng đã sinh vật hoá hệ thống
nhu cầu động cơ của con người, xem nhu cầu là những xung năng mang tính
sinh vật nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, không khí, nước uống. Vì vậy ông
đã quy gán cho các nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do nhu cầu sinh vật
lý lên đến tột đỉnh (Phạm Minh Lăng, 2004 ).
Erich Fromm nhà phân tâm học mới quan niệm rằng: “Nhu cầu tạo ra
cái tự nhiên của con người. Đó là những nhu cầu:
1. Nhu cầu quan hệ người – người.
2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
3. Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo.
4. Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà.
5. Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu.
Những nhu cầu này tạo là thành phần tạo nên nhân cách”.
Nhà tâm lý học Mỹ A. Maslow đã đưa ra luận thuyết thứ bậc về nhu
cầu, động cơ vào năm 1954. Theo ông con người có 5 nhu cầu gốc (những
nhu cầu khác đều là phái sinh từ những nhu cầu này) mang tính bẩm sinh
được sắp xếp thành thứ bậc từ thấp lên cao, chúng hoạt hoá và điều khiển
hành vi con người:
(1): Nhu cầu sinh lý: ăn uống, tình dục
(2): Nhu cầu an toàn: sự an toàn, trật tự và ổn định
(3): Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương
(4): Nhu cầu được tôn trọng
(5): Nhu cầu tự thể hiện
19
Maslow mô tả những nhu cầu này như bản năng tự nhiên (chịu ảnh
hưởng lớn của di truyền). Những nhu cầu này tuy là bẩm sinh nhưng những
hành vi mà ta thực hiện để thoả mãn chúng thì ở mỗi người mỗi khác và phải
được học tập, rèn luyện. Maslow đưa ra hình ảnh cái thang để diễn tả lý
thuyết này vì theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhu
cầu ở bậc thấp hơn (liền kề) phải được thoả mãn đến mức độ nhất định. Việc
thoả mãn nhu cầu ở bậc thang thấp hơn sẽ kích thích người ta nghĩ tới việc
phải thoả mãn nhu cầu ở bậc thang cao hơn. Vì vậy theo ông, về nguyên tắc ở
cùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong nhân cách
(Lê Khanh, 2006)
Henry Murray khi nghiên cứu vấn đề nhu cầu thì khẳng định nhu cầu là
một tổ chức cơ động hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu cầu ở mỗi người
khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế
cũng khác nhau ở mỗi người. Ông đưa ra bảng phân loại nhu cầu của con
người bao gồm 20 nhu cầu cụ thể như nhu cầu thành đạt, tôn trọng, vui chơi,
tự vệ, an toàn…Do ảnh hưởng của phân tâm học ông đã cho rằng nhu cầu quy
định xu hướng nhân cách đều xuất phát từ những libido vô thức. Tuy nhiên,
ông đã đưa ra một quan điểm tiến bộ về nhu cầu: thể nghiệm ban đầu của nhu
cầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh như con người có thiếu thốn một cái
gì đó. Nó là sự cần thiết của chủ thể cần cho hoạt động sống và vì thế gây cho
chủ thể một mức độ tích cực nhất định. (Hoàng Thị Thu Hà, 2003)
Các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên cứu về nhu cầu khẳng định nhu
cầu là yếu tố bên trong, quan trọng đầu tiên thúc đẩy con người hoạt động;
khác hẳn với con vật, mọi nhu cầu của con người (kể cả những nhu cầu sơ
đẳng) đều có bản chất xã hội.
Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết nghiên cứu về nhu
cầu. Ông là người khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Ông cho
rằng không có gì có thể đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở
nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực. Nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra
tính tích cực, nhu cầu xây dựng xu hướng, hành vi.
21
X.L. Rubinstein khẳng định nhu cầu của con người thể hiện mối quan
hệ của con người với thế giới xung quanh. Con người luôn phải hoạt động
nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định, nhu cầu là sự đòi hỏi về cái gì đó
nằm ngoài chủ thể. “Cái gì đó” chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng
đem lại sự thoả mãn nhu cầu thông qua hoạt động của chủ thể. Vì vậy, theo
ông phải thống nhất yếu tố khách quan với yếu tố chủ quan trong quá trình
hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu. Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy vừa
sơ đồ: Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động. Ông cho rằng, để hiểu bản chất của
nhu cầu con người thì khi nghiên cứu nó không được tách nó ra khỏi những
điều kiện vật chất của nó, khỏi phương thức thoả mãn nó, và do đó cũng
không được tách nó khỏi hoạt động mà trong đó diễn ra sự biến đổi của nhu
cầu. (Leonchiev, 1989).
Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng: khi
mà đối tượng của nhu cầu xuất hiện, cái mà được nhận biết (được cảm nhận,
được hình dung, hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy, hướng
dẫn hoạt động, tức là trở thành động cơ. Hay, nội dung đối tượng của nhu cầu
chính là động cơ của hoạt động. Một hoạt động diễn ra bao giờ cũng hướng
vào việc đạt mục đích đạt kết quả nhất định nào đó. Động cơ của hoạt động
chính là cái nhu cầu đã được đối tượng hoá và được hình dung trước dưới
dạng các biểu tượng của kết quả hoạt động.
1.2.1.2. Định nghĩa nhu cầu:
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về nhu cầu, tiêu biểu là các quan
niệm mà chúng ta đã xem xét trong phần lịch sử nghiên cứu về nhu cầu. Vậy
nhu cầu là gì?
Theo nghĩa từ nhu cầu hiểu một cách chung nhất là sự đòi hỏi tất yếu,
cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển. Nhu cầu là trạng thái của cá nhân
xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và
phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân.
Trong cuốn Từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhu cầu
là điều kiện cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển, được thoả mãn thì dễ
23
chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức. Có nhu cầu của con người, có
nhu cầu chung của tập thể, khi hoà hợp, khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản,
thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo. Nhu cầu do trình độ phát triển của xã
hội mà biến đổi”.
Theo Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Minh Hạc trong cuốn Tâm lý
Như vậy, ta có thể hiểu nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người
biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi
hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển
với tư cách là một nhân cách.
1.2.1.3. Đặc điểm của nhu cầu:
Tính đối tượng của nhu cầu:
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể. Theo X.L.Rubinstein ở cấp
độ tâm lý nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng xác định. Đối tượng của nhu cầu
nằm ngoài chủ thể lại là nơi chứ đựng khả năng thoả mãn nhu cầu ấy. Bản
thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự
bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi. Nó chỉ bộc lộ ra khi
chủ thể tiến hành hoạt động nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng và chính
bản thân vật thể được nhận biết lại trở thành động cơ có chức năng định
hướng thúc đẩy hoạt động.
Nhu cầu thực sự là một sức mạnh khi nó gặp đối tượng, từ đó làm xuất
hiện những mối liên hệ cơ động giữa các nhu cầu với vật thể. Chính quá trình
gặp gỡ giữa nhu cầu và vật thể đã làm nảy sinh động cơ và hướng dẫn hoạt
động của chủ thể. Ở con người đối tượng đáp ứng yêu cầu cũng như bản thân
các trạng thái nhu cầu đều được phản ánh vào đầu óc con người dưới dạng
biểu tượng với tính chất là một hiện tượng tinh thần. Ở đây, sự biến đổi có ý
nghĩa quan trọng nhất đặc trưng cho sự chuyển tiếp sang cấp độ tâm lý là sự
xuất hiện những mối liên hệ cơ động giữa nhu cầu và đối tượng thoả mãn nhu
cầu.
Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thoả mãn
nó quy định. Phương thức thoả mãn nhu cầu chính là hoạt động.